Bản đồ số ứng phó sự cố môi trường Việt Nam được quan tâm tại Nga
Ngày 7/10/2026, ông Phạm Văn Sơn, Tổng Thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam (SOS), tham gia trực tuyến và trình bày tham luận tại Hội nghị khoa học và thực tiễn quốc tế lần thứ II “Phòng ngừa và ứng phó tràn dầu - Giải pháp và triển vọng”.
Hội nghị được Đại học Liên bang Viễn Đông tổ chức từ ngày 7/10 tại thành phố Vladivostok, Liên bang Nga, kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Hội nghị hướng tới kết nối cơ quan quản lý, cơ quan giám sát, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp dầu khí và các lực lượng ứng phó chuyên nghiệp.
![]() |
| Hội nghị khoa học và thực tiễn quốc tế lần thứ II “Phòng ngừa và ứng phó tràn dầu - Giải pháp và triển vọng” được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại thành phố Vladivostok, Liên bang Nga. |
Chương trình có sự tham gia của chuyên gia thuộc Đại học Liên bang Viễn Đông, Đại học Dầu khí Quốc gia Nga mang tên I.M. Gubkin, Viện Hải dương học Quốc gia mang tên N.N. Zubov, Viện Hóa lý và Điện hóa mang tên A.N. Frumkin thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Cơ quan Cứu hộ hàng hải Nga (Morspassluzhba), Hiệp hội các đơn vị cung ứng nhiên liệu hàng hải và đường sông Nga, cùng doanh nghiệp bảo hiểm và sản xuất thiết bị.
Ba nhóm chuyên đề chính tập trung vào phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong phòng ngừa và ứng phó sự cố tràn dầu; kỹ thuật, công nghệ ứng phó trên biển, đường thủy nội địa và đất liền; bảo đảm an toàn môi trường trong lập kế hoạch và tổ chức ứng phó. Những vấn đề được đưa ra trao đổi gồm thay đổi pháp luật, bảo đảm tài chính thông qua bảo hiểm, tính toán lực lượng và phương tiện, kinh nghiệm xử lý sự cố tại eo biển Kerch, hoạt động ở Bắc Cực, công nghệ làm sạch và phục hồi môi trường.
Trong bối cảnh đó, tham luận của ông Phạm Văn Sơn giới thiệu nền tảng bản đồ số WebGIS quản lý nguồn nguy cơ và bảo đảm sự sẵn sàng của nguồn lực ứng phó sự cố môi trường đang được Trung tâm SOS ứng dụng tại Việt Nam.
![]() |
| Ông Phạm Văn Sơn - Tổng Thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Ứng phó sự cố môi trường Việt Nam (SOS). |
Trung tâm SOS đã ứng cứu hơn 300 sự cố môi trường, đồng thời phát triển mạng lưới hơn 300 trạm trên cả nước. Khi quy mô tăng, việc cung ứng và điều chuyển thiết bị, kiểm tra vật tư, bảo dưỡng, thay thế phụ tùng cũng phát sinh khối lượng công việc lớn. Người quản lý cần biết chính xác tình trạng từng trạm và khả năng huy động của toàn hệ thống. “Đằng sau bản đồ số này là kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm của Trung tâm SOS và công việc hằng ngày của mạng lưới chúng tôi trên cả nước”, ông Phạm Văn Sơn nhấn mạnh.
Các đại biểu được theo dõi trực tiếp mạng lưới trạm trên bản đồ, thông tin về người phụ trách, thiết bị, vật tư và phương tiện tại từng trạm ứng phó. Cơ cấu trang bị được xác định theo nguy cơ của khu vực và yêu cầu hỗ trợ liên vùng.
Một nội dung được nhấn mạnh là kiểm soát trạng thái sẵn sàng. Thiết bị có trong danh mục có thể ở trạng thái không vận hành được khi huy động, vật tư còn trong kho có thể hết hạn sử dụng. Vì vậy, hệ thống lưu lịch sử kiểm tra, bảo trì kèm hình ảnh, gắn từng nhiệm vụ với người chịu trách nhiệm. Trước hạn bảo trì hai đến ba tuần, hệ thống gửi nhắc việc; nếu quá hạn hai tuần, thông tin được chuyển tới lãnh đạo để xử lý. Kết quả thực hiện được đưa vào đánh giá công việc của nhân sự.
Dữ liệu về trạm, thiết bị và phương tiện được liên thông với kế toán, kho. Khi nghiệp vụ điều chuyển được kế toán hoặc nhân sự tại trạm ghi nhận, hệ thống tự động cập nhật thông tin trên máy chủ. Nhờ đó, người điều hành có thể theo dõi nguồn lực theo dữ liệu phát sinh, thay vì chờ tổng hợp báo cáo định kỳ.
Khi xảy ra sự cố, bản đồ hỗ trợ xác định các trạm gần hiện trường, tuyến tiếp cận và thời gian di chuyển ước tính. Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn nguồn lực còn phải dựa vào chủng loại, số lượng thiết bị và vật tư phù hợp với tình huống. Một trạm gần có thể thiếu loại thiết bị hoặc vật liệu chuyên dùng cần thiết. Chức năng tìm kiếm theo thiết bị giúp người chỉ huy xác định nơi đang có đúng phương tiện cần huy động và liên hệ với người phụ trách.
Cùng với nguồn lực, Trung tâm SOS tổ chức các lớp thông tin về nguồn nguy cơ theo mức độ nguy hiểm, lĩnh vực hoạt động và tác nhân ô nhiễm từ tất cả các lĩnh vực liên quan. Dữ liệu sông, suối, ao, hồ và địa hình giúp xem xét khả năng lan truyền, khu vực có thể bị ảnh hưởng. Với nhiều cơ sở tại Việt Nam nằm gần khu dân cư, đất sản xuất nông nghiệp hoặc vùng nuôi trồng thủy sản, việc hiểu trước nguy cơ và chuẩn bị sẵn phương án huy động có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo vệ cộng đồng.
Phần trao đổi sau tham luận cho thấy các đại biểu Nga rất quan tâm đến cách hệ thống vận hành trong thực tế. Chủ tọa đánh giá bài trình bày giàu thông tin, ghi nhận tâm huyết của người làm công tác ứng phó và liên hệ với yêu cầu đưa công nghệ số vào các khâu hoạt động liên quan đến dầu, sản phẩm dầu.
GS. Elena Alekseevna Mazlova, Trưởng bộ môn Sinh thái công nghiệp, Đại học Dầu khí Quốc gia Nga mang tên I.M. Gubkin, ghi nhận cách tổ chức vận chuyển thiết bị và đề nghị bổ sung lớp thông tin về vận chuyển chất thải phát sinh sau ứng phó đến các đơn vị xử lý. Góp ý này mở rộng bài toán quản lý từ huy động nguồn lực tới khâu khắc phục hậu quả và xử lý chất thải.
Đại diện Cơ quan Cứu hộ hàng hải Nga (Morspassluzhba), đơn vị chuyên trách cứu hộ hàng hải và ứng phó sự cố tràn dầu, đặt câu hỏi về thời gian phát triển, triển khai bản đồ số SOS và sự tham gia của các viện nghiên cứu, tổ chức trong quá trình xây dựng nền tảng. Câu hỏi tập trung vào cách một công cụ quản lý được hình thành và đưa vào vận hành thực tế. Ông Phạm Văn Sơn cho biết hệ thống hiện do Trung tâm SOS chủ động phát triển, với sự tham gia của những người am hiểu công nghệ thông tin, nắm vững nghiệp vụ và trực tiếp làm công tác ứng phó nhiều năm. Cách làm này giúp cập nhật công cụ theo nhu cầu điều hành, bảo trì và những tình huống mới phát sinh trong công việc.
![]() |
| Bản đồ số SOS tích hợp thông tin về các loại nguồn nguy cơ, địa hình, thủy văn và khu bảo tồn, hỗ trợ nhận diện nguy cơ ô nhiễm và chủ động chuẩn bị phương án ứng phó sự cố môi trường. (Ảnh cắt từ màn hình của bản đồ) |
Một đại biểu Nga đặc biệt lưu ý giá trị của việc quản lý đồng thời lịch bảo dưỡng, tập luyện và trách nhiệm đối với thiết bị, nhất là tại các cơ sở tổ chức lực lượng ứng phó kiêm nhiệm. “Nếu có tài liệu mô tả, chỉ dẫn hoặc hướng dẫn sử dụng, chúng tôi rất muốn học hỏi cách làm của các bạn và xem xét áp dụng trong điều kiện của mình”, đại biểu bày tỏ.
Các trao đổi này tập trung vào một yêu cầu cốt lõi của quản lý sự cố: làm thế nào để nguồn lực đã đầu tư luôn có thể huy động được khi cần. Với cơ quan quản lý, thông tin về nguồn nguy cơ, khu vực dễ bị tổn thương và nguồn lực sẵn sàng là cơ sở hỗ trợ xây dựng kế hoạch, kiểm tra công tác chuẩn bị và phối hợp giữa các lực lượng. Với người chỉ huy hiện trường, dữ liệu đó giúp lựa chọn đúng thiết bị, xác định nơi huy động và người chịu trách nhiệm.
Qua mô hình SOS, có thể thấy dữ liệu số phát huy giá trị khi gắn với quy trình công việc và được cập nhật từ hoạt động hằng ngày. Hồ sơ thiết bị, bằng chứng bảo trì và thông tin điều chuyển tạo căn cứ để kiểm tra sự sẵn sàng; các lớp nguồn nguy cơ và đường lan truyền hỗ trợ chuẩn bị trước tình huống. Hệ thống cũng được định hướng mở rộng kết nối với nguồn lực của cơ quan nhà nước và các đơn vị khác để hỗ trợ phối hợp, ra quyết định huy động.
Theo Trung tâm SOS, những nội dung quản lý nguồn nguy cơ và nguồn lực bằng bản đồ số đã được Trung tâm chia sẻ trong hoạt động chuyên môn với Binh chủng Hóa học, các địa phương tại Việt Nam. Tháng 8/2026, SOS tiếp tục giới thiệu nền tảng tại hội nghị quốc tế tổ chức tại hồ Issyk-Kul, Kyrgyzstan, cùng các chuyên gia và tổ chức quốc tế.
Theo kế hoạch của Trung tâm, kinh nghiệm này sẽ tiếp tục được chia sẻ tại Hội nghị lần thứ 44 của Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (CAFEO 44), tổ chức ở Bandung, Indonesia, trong tháng 10/2026. Các hoạt động trao đổi tạo cơ hội đưa kinh nghiệm ứng phó tại Việt Nam tới đồng nghiệp quốc tế, đồng thời tiếp nhận góp ý để hoàn thiện hệ thống phục vụ công việc trong nước.
Sự phát triển của SOS thể hiện ở khả năng tổ chức một mạng lưới ngày càng lớn và duy trì chất lượng vận hành của mạng lưới đó. Kinh nghiệm hiện trường được chuyển thành yêu cầu đối với thiết bị, dữ liệu và trách nhiệm quản lý. Khi những yêu cầu này được thực hiện thường xuyên, bản đồ số trở thành công cụ giúp chuẩn bị và huy động nguồn lực kịp thời, góp phần giảm thiệt hại cho người dân và môi trường.
Huy Tùng



