Biến tiết kiệm năng lượng thành lợi thế cạnh tranh:

Bài 1: Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành một nguồn lực

21:24 | 03/09/2026

9 lượt xem
|
(PetroTimes) - Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn đang tạo thêm sức ép lên hệ thống điện. Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành nguồn lực cần được tính toán, tiết kiệm năng lượng không còn đơn thuần là giảm hóa đơn, mà là cách tạo thêm dư địa cho tăng trưởng, giảm chi phí sản xuất và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Từ áp lực nguồn điện đến “nguồn năng lượng” còn bỏ ngỏ

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỷ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 6, sản lượng đạt 32,6 tỷ kWh, tăng 14,25%. Trong đợt nắng nóng từ ngày 22-25/6, hệ thống điện quốc gia tiếp tục lập các kỷ lục mới, với sản lượng điện ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh vào ngày 25/6 và công suất cực đại 57.537 MW vào ngày 24/6.

Những con số đó cho thấy một thực tế: mỗi bước tăng trưởng của nền kinh tế đang kéo theo yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng. Khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, áp lực bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống sẽ còn lớn hơn.

Nhưng bài toán bảo đảm năng lượng cho tăng trưởng không thể chỉ giải bằng cách xây thêm nguồn và mở rộng lưới điện. Một phần năng lực đáp ứng nhu cầu có thể được tạo ra ngay từ việc sử dụng hiệu quả hơn lượng năng lượng đang có.

Đó là một nguồn lực đặc biệt: không cần sản xuất thêm nhưng vẫn có thể tạo ra giá trị bằng cách giảm tổn thất, nâng hiệu suất sử dụng và khai thác những phần năng lượng vốn đang bị bỏ phí.

Nói cách khác, tiết kiệm năng lượng cũng là một cách tạo thêm năng lực cho nền kinh tế.

Bài 1: Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành một nguồn lực
Khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, áp lực bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống sẽ còn lớn hơn. (Ảnh minh họa: Internet)

Từ nhiều năm nay, tiết kiệm năng lượng đã được xác định là một trong những giải pháp quan trọng của chính sách năng lượng. Tuy nhiên, cách nhìn về vấn đề này đôi khi vẫn dừng ở việc giảm điện năng tiêu thụ, giảm tiền điện hoặc vận động sử dụng thiết bị hợp lý hơn.

Cách tiếp cận đó chưa phản ánh hết giá trị kinh tế của một đơn vị năng lượng được tiết kiệm.

Một kWh không tiêu thụ đồng nghĩa với lượng điện mà hệ thống không phải huy động. Nếu được tiết giảm vào thời điểm cao điểm, giá trị còn lớn hơn bởi nó góp phần giảm áp lực lên công suất đỉnh. Với doanh nghiệp, nếu hiệu quả năng lượng đến từ tối ưu dây chuyền, thu hồi nhiệt thải, tận dụng khí dư hoặc thay thế thiết bị hiệu suất thấp, khoản tiết kiệm còn kéo theo giảm nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất và giảm phát thải.

Đây cũng chính là cách tiếp cận đang được thể hiện rõ hơn trong chính sách năng lượng năm 2026.

Chỉ thị 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ xác định sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm rủi ro về nguồn cung, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu giảm tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP ở mức 1-1,5%/năm; các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3%/năm, thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng.

Trong khi đó, Chỉ thị 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ trong năm 2026; riêng các tháng cao điểm nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 7, mức tiết kiệm tối thiểu là 10%. Cùng với đó, các chương trình quản lý nhu cầu điện, dịch chuyển và điều chỉnh phụ tải được đẩy mạnh, phấn đấu tiết giảm tối thiểu 3.000 MW công suất phụ tải trong các giờ cao điểm khi hệ thống có nguy cơ mất cân đối cung - cầu.

Điểm đáng chú ý là bài toán tiết kiệm điện ngày càng gắn với quản lý công suất phụ tải, thay vì chỉ nhìn vào lượng điện tiêu thụ.

Một doanh nghiệp giảm tiêu thụ điện sẽ nhận lợi ích trực tiếp từ việc giảm chi phí. Nhưng nếu có thể dịch chuyển một phần phụ tải khỏi thời điểm hệ thống căng thẳng, lợi ích không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn góp phần giảm áp lực lên công suất đỉnh.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, EVN đã hoàn thành 100% kế hoạch ký thỏa thuận tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải (DR) tự nguyện phi thương mại với 19.073 khách hàng. Tổng tiềm năng điều chỉnh phụ tải đạt khoảng 2.546,92 MW; bên cạnh đó EVN cũng tiếp tục vận động khách hàng tham gia chương trình dịch chuyển phụ tải thông qua ký phụ lục hợp đồng mua bán điện, tổng số khách hàng tham gia chương trình đạt 14.463 khách hàng. Tiềm năng dịch chuyển phụ tải đạt khoảng 2.325,93 MW.

Các chương trình đã phát huy hiệu quả, góp phần giảm công suất đỉnh, hỗ trợ vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện trong các đợt nắng nóng tại miền Bắc

Điều đó cho thấy tiết kiệm điện không còn đơn thuần là sử dụng ít đi, mà ngày càng trở thành bài toán sử dụng đúng lúc, đúng mục đích và với hiệu suất cao hơn.

Nếu nhìn rộng hơn vào khu vực công nghiệp, dư địa còn rất lớn. Theo Bộ Công Thương, ngành công nghiệp hiện chiếm hơn 50% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc. Qua khảo sát, đánh giá thực tế, khu vực này còn khả năng tiết kiệm khoảng 20-30% mức tiêu thụ năng lượng.

Dư địa ấy nằm trong các ngành thép, xi măng, hóa chất, giấy, dệt may, thực phẩm, cũng như trong các hệ thống hơi, máy nén khí, động cơ, lò nung, dây chuyền nghiền, bơm, quạt và những dòng nhiệt, khí thải đang bị thải bỏ…

Nếu một doanh nghiệp cần ít năng lượng hơn để sản xuất một tấn thép, một tấn xi măng hay một đơn vị sản phẩm, chi phí năng lượng trên mỗi sản phẩm sẽ giảm. Khoản tiết kiệm đó có thể trở thành lợi nhuận, được tái đầu tư hoặc tạo thêm dư địa để doanh nghiệp cạnh tranh về giá. Đó là điểm mà tiết kiệm năng lượng bắt đầu chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh.

Khi doanh nghiệp biến năng lượng thành giá trị

Thực tế tại những doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng lớn cho thấy, khi năng lượng được đặt trong cùng bài toán quản trị với vốn, nguyên liệu và lao động, những phần tưởng như là chi phí bắt buộc có thể trở thành nguồn tạo giá trị.

Tại Tập đoàn Hòa Phát, câu chuyện này thể hiện khá rõ.

Trong sản xuất thép theo tuyến lò cao, một lượng lớn năng lượng vẫn nằm trong nhiệt dư, khí thải và các quá trình làm nguội. Thay vì coi đây là phần tổn thất không thể tránh khỏi, doanh nghiệp đầu tư thu hồi nhiệt dư trong luyện coke, tận dụng khí than dư từ các công đoạn luyện gang, luyện thép làm nhiên liệu cho nồi hơi phát điện. Nhờ đó, các khu liên hợp sản xuất gang thép của Hòa Phát có khả năng tự chủ khoảng 90% nhu cầu điện cho sản xuất.

Bài 1: Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành một nguồn lực
Phòng điều khiển trung tâm của Nhà máy sản xuất điện nhiệt dư - Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát tại Dung Quất. (Ảnh: Tập đoàn Hòa Phát)

Riêng Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất, sản lượng điện tự phát trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2,28 tỷ kWh, tăng gần 60% so với cùng kỳ năm 2025; qua đó giúp khu liên hợp tự chủ gần 90% nhu cầu điện sản xuất.

Con số này cho thấy giá trị của việc thu hồi năng lượng không chỉ nằm ở lượng điện được tạo ra. Với doanh nghiệp sử dụng điện quy mô lớn, mỗi kWh điện tự phát còn đồng nghĩa với việc giảm lượng điện phải huy động từ hệ thống, tăng tính chủ động trong sản xuất và giảm tác động của biến động chi phí năng lượng.

Điều đáng chú ý là Hòa Phát không đơn giản “dùng điện ít đi”, mà thay đổi cách tạo ra và sử dụng năng lượng ngay trong chính quy trình sản xuất. Nhiệt dư và khí than vốn có thể trở thành phần thất thoát được thu hồi, biến thành điện phục vụ trở lại cho sản xuất.

Nếu Hòa Phát cho thấy năng lượng thất thoát có thể được thu hồi và biến thành nguồn điện, Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR - đơn vị thành viên của PETROVIETNAM) lại cho thấy hiệu quả năng lượng có thể được đo lường và quản trị như một chỉ tiêu của sản xuất.

Bài 1: Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành một nguồn lực
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Với nhiệm vụ quản lý và vận hành Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất, BSR sử dụng EII như một trong những thước đo quan trọng. EII - chỉ số cường độ năng lượng do Solomon Associates xây dựng và được sử dụng rộng rãi trong ngành lọc hóa dầu thế giới dùng làm chuẩn so sánh giữa các Nhà máy.

Theo đó, EII càng thấp thể hiện hiệu quả sử dụng năng lượng càng cao. So sánh cùng cấu hình NMLD Dung Quất, EII bằng 100 được đánh giá là mức khá, trong khi EII trên 100 cho thấy còn dư địa để tiếp tục nâng cao hiệu quả năng lượng.

Bài 1: Khi mỗi đơn vị năng lượng trở thành một nguồn lực
Ông Lê Hải Tuấn, Phó Giám đốc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Trao đổi với PetroTimes, ông Lê Hải Tuấn, Phó Giám đốc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho biết, EII của Nhà máy đã được cải thiện đáng kể trong nhiều năm. Theo dữ liệu năm 2026, mỗi một đơn vị phần trăm EII được cải thiện có thể mang lại giá trị tiết kiệm khoảng 4 triệu USD mỗi năm. Từ giai đoạn 2020-2026, chỉ số giảm từ 107,1% xuống 101,1%, tương đương giá trị làm lợi khoảng 24 triệu USD/năm.

“BSR áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 50001:2018, tích hợp vào hệ thống quản lý chung; thuê tổ chức quốc tế Solomon đánh giá chỉ số tiêu thụ năng lượng định kỳ từ năm 2012; và từ năm 2015 đến nay, BSR đã triển khai hơn 80 giải pháp tiết kiệm năng lượng và tối ưu vận hành, mang lại giá trị tiết kiệm hơn 40 triệu USD (tương đương hơn 1.000 tỷ đồng) và góp phần giảm khoảng 190.000 tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Nhà máy cũng tự sản xuất hơi và phát phần lớn điện năng nội bộ từ nguồn khí dư Off-gas sản sinh từ các phân xưởng công nghệ trong quá trình chế biến, chỉ mua một lượng nhỏ từ lưới”, ông Lê Hải Tuấn cho biết thêm.

Ngành xi măng cũng cho thấy rõ giá trị của việc khai thác phần năng lượng vốn bị bỏ phí.

Trong sản xuất clinker, lượng nhiệt lớn phát sinh từ quá trình nung. Với hệ thống phát điện nhiệt dư (WHR), phần nhiệt này có thể được thu hồi để phát điện và phục vụ trở lại cho nhà máy.

Tại Xi măng Long Sơn, hệ thống phát điện nhiệt dư công suất 35 MW đáp ứng khoảng 30% nhu cầu điện của nhà máy. Xi măng Sông Gianh triển khai hệ thống WHR công suất 16 MW, tạo ra khoảng 60-70 GWh điện mỗi năm, đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu điện. Tại Xi măng Đồng Lâm, hệ thống phát điện nhiệt dư công suất khoảng 8.700 kW giúp doanh nghiệp tự cung cấp khoảng một phần ba nhu cầu điện.

Những trường hợp này cho thấy một nguyên lý xuyên suốt: doanh nghiệp không nhất thiết phải cắt giảm sản xuất để tiết kiệm năng lượng; vấn đề là giảm lượng năng lượng cần thiết cho cùng một sản lượng hoặc biến phần năng lượng vốn bị thất thoát thành nguồn lực hữu ích.

Nhưng những mô hình trên đồng thời đặt ra một câu hỏi: nếu công nghệ đã có, hiệu quả kinh tế đã được chứng minh và dư địa tiết kiệm trong ngành công nghiệp còn lớn, tại sao việc nhân rộng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng?

Câu trả lời không thể chỉ nằm ở việc doanh nghiệp có “ý thức tiết kiệm” hay không.

Một dự án tiết kiệm năng lượng vẫn là một quyết định đầu tư. Doanh nghiệp phải xác định mức tiêu hao hiện tại, lượng năng lượng có thể tiết kiệm, vốn đầu tư, thời gian hoàn vốn, rủi ro công nghệ và hiệu quả tài chính trong suốt vòng đời dự án.

Một giải pháp có hiệu quả kỹ thuật nhưng không chứng minh được dòng tiền có thể vẫn khó được phê duyệt. Doanh nghiệp nhận diện được cơ hội tiết kiệm nhưng thiếu vốn cũng chưa chắc có thể triển khai.

Vì vậy, điểm nghẽn không đơn thuần là “có công nghệ hay không”, mà là làm thế nào biến cơ hội tiết kiệm thành một dự án đủ hấp dẫn để doanh nghiệp ra quyết định đầu tư.

Mạnh Tưởng

  • vingroup