Lộ rõ tình trạng "trên nóng dưới lạnh", lợi ích nhóm trong đầu tư công

15:43 | 25/07/2021

|
"Tư duy phát triển trong đầu tư công vẫn tồn tại "tư duy nhiệm kỳ", lợi ích nhóm, cơ chế xin - cho, trông chờ, ỷ lại Trung ương" - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết.

Vấn đề thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 là một trong những nổi cộm được đề cập nhiều nhất tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV đang diễn ra.

Trong báo cáo gửi Quốc hội, Chính phủ cho biết tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công các năm đầu kỳ kế hoạch chậm, nhất là vốn nước ngoài. Một số dự án được giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Nhà nước năm 2017, 2018 nhưng đến nay vì nhiều lý do khách quan, chủ quan vẫn chưa giải ngân hết số vốn được giao, tạo áp lực rất lớn đến cân đối ngân sách Nhà nước giai đoạn 2021-2025.

Theo ông Nguyễn Chí Dũng - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư , những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện có nguyên nhân khách quan, song trực tiếp và quyết định nhất là do nguyên nhân chủ quan. Yếu tố chủ quan tập trung ở 3 vấn đề là nhận thức, chính sách pháp luật và công tác triển khai.

Lộ rõ tình trạng trên nóng dưới lạnh, lợi ích nhóm trong đầu tư công - 1
Ông Nguyễn Chí Dũng - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Ảnh: Quốc Chính).

"Ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tôn trọng kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công chưa cao, chưa chủ động, nghiêm túc trong tuân thủ các quy định, tiêu chí, nguyên tắc trong đầu tư công, dễ thỏa hiệp khi phê duyệt các dự án chưa đạt yêu cầu về pháp lý, hiệu quả.

Tư duy phát triển trong đầu tư công có lúc, có nơi chậm được đổi mới, vẫn tồn tại "tư duy nhiệm kỳ", lợi ích nhóm, cơ chế xin - cho, trông chờ, ỷ lại Trung ương; thiếu chủ động, sáng tạo, chưa tận dụng hết các lợi thế trong phân cấp, ủy quyền; quyết định dự án còn thiếu liên kết với nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội, chỉ quan tâm đến lợi ích ngắn hạn" - ông Dũng nêu rõ.

Về chính sách, pháp luật, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng một số quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một số bất cập trong cơ chế, chính sách tuy đã được phát hiện nhưng còn chậm được sửa đổi, bổ sung, chưa rõ thẩm quyền, dẫn tới đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.

Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa trung ương và địa phương trong việc xử lý vướng mắc đầu tư công chưa hiệu quả, còn lúng túng, nhiều vướng mắc tồn tại từ lâu nhưng vẫn chưa có giải pháp căn cơ, xử lý dứt điểm như công tác giải phóng mặt bằng.

Giai đoạn đầu của kỳ kế hoạch, một số quy định của pháp luật về đầu tư công chưa thật sự hợp lý như việc cho phép các dự án giải ngân 2 năm, công tác giao kế hoạch chậm chưa phù hợp với yêu cầu tiến độ các dự án, bao gồm cả giao kế hoạch từ trung ương cho các bộ, ngành, địa phương và giao kế hoạch vốn của các bộ, ngành, địa phương cho các dự án cụ thể.

Cơ chế điều chỉnh kế hoạch đầu tư công hàng năm còn thiếu linh hoạt; cơ chế điều chỉnh danh mục dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 thiếu linh hoạt, trải qua nhiều cấp, làm giảm tính kịp thời của dự án, nhất là đối với dự án ODA. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến giải ngân chậm trong các năm đầu kỳ kế hoạch.

Lộ rõ tình trạng trên nóng dưới lạnh, lợi ích nhóm trong đầu tư công - 2
Đầu tư công chậm do yếu tố chủ quan là chính, tập trung ở 3 vấn đề là nhận thức, chính sách pháp luật và công tác triển khai.

Về công tác triển khai, ông Dũng thẳng thắn chỉ ra vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa được thể hiện rõ; phân bổ vốn đầu tư công còn bình quân, thiếu trọng tâm, trọng điểm; chưa sâu sát, thiếu đôn đốc, kiểm tra; trách nhiệm trong phối hợp xử lý công việc và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách còn chưa chặt chẽ, còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, buông lỏng quản lý, dẫn tới tình trạng "trên nóng dưới lạnh", cùng một mặt bằng pháp luật nhưng có nơi làm tốt, có nơi làm chưa tốt.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cũng thông tin, trong triển khai đầu tư công, năng lực lập kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, nhất là năng lực về thẩm định, kiểm tra, giám sát, thi công... dẫn tới tình trạng nhiều dự án chậm tiến độ, chậm giải ngân, chậm quyết toán...

Đối với công tác giải ngân vốn, ông Dũng cho biết các cấp, các ngành chưa thực sự vào cuộc, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa được đề cao, chưa rõ nét; công tác tuyên truyền đến người dân về chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng còn chưa đầy đủ, thiếu minh bạch, thiếu công bằng; một số chủ đầu tư chưa tích cực thực hiện các thủ tục thanh toán, quyết toán; năng lực chuyên môn của một số cán bộ quản lý dự án, tư vấn giám sát, nhà thầu...

Riêng nguồn vốn ODA, ông Dũng nói việc giải ngân chậm do nhiều dự án phải thực hiện điều chỉnh hiệp định vay mặc dù dự án đã có khối lượng hoàn thành nhưng không thể giải ngân; nhiều dự án gặp vướng mắc về thủ tục kiểm soát chi, giải ngân, rút vốn; vẫn còn tình trạng hồ sơ rút vốn sai, thiếu thủ tục, thời gian xử lý hồ sơ kéo dài; việc chuyển nguồn, hạch toán ghi thu - ghi chi, tạm ứng còn chậm.

Theo Dân trí

9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho 5 mục tiêu lớn của Chính phủ9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho 5 mục tiêu lớn của Chính phủ
Thủ tướng chỉ thị đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng xây dựng Kế hoạch đầu tư côngThủ tướng chỉ thị đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng xây dựng Kế hoạch đầu tư công
Đầu tư công nghệ sẽ quyết định năng lượng tái tạo tiến hóa hay là cuộc cách mạngĐầu tư công nghệ sẽ quyết định năng lượng tái tạo tiến hóa hay là cuộc cách mạng
“Gập ghềnh” đầu tư công“Gập ghềnh” đầu tư công
Các gói hỗ trợ cần đúng lúc, đúng chỗCác gói hỗ trợ cần đúng lúc, đúng chỗ

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 66,400 ▲50K 67,200 ▲50K
AVPL/SJC HCM 66,200 67,200
AVPL/SJC ĐN 66,200 ▼100K 67,200
Nguyên liệu 9999 - HN 52,770 ▼30K 53,070 ▼80K
Nguyên liệu 999 - HN 52,670 ▼30K 52,970 ▼80K
AVPL/SJC Cần Thơ 66,700 67,600
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 53.200 54.300
TPHCM - SJC 66.500 ▲200K 67.300 ▲100K
TPHCM - Hà Nội PNJ 53.200
Hà Nội - 66.500 67.300 ▲100K 30/11/2022 16:54:42 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 53.200
Đà Nẵng - 66.500 67.300 ▲100K 30/11/2022 16:54:42 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 53.200
Cần Thơ - 66.500 67.300 30/11/2022 16:54:42 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 53.200
Giá vàng nữ trang - 52.700 53.500 30/11/2022 16:54:42 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.880 40.280
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.050 31.450
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.010 22.410
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,295 5,390
Vàng trang sức 99.99 5,210 5,375
Vàng trang sức 99.9 5,200 5,365
Vàng NL 99.99 5,210
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,640 6,730 ▲10K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,615 ▼10K 6,715 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,640 6,715 ▼5K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,280 ▼10K 5,380 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,290 5,390
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,295 5,390
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 66,500 67,300
SJC 5c 66,500 67,320
SJC 2c, 1C, 5 phân 66,500 67,330
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 53,200 ▲50K 54,200 ▲50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 53,200 ▲50K 54,300 ▲50K
Nữ Trang 99.99% 53,000 ▲50K 53,800 ▲50K
Nữ Trang 99% 51,967 ▲49K 53,267 ▲49K
Nữ Trang 68% 34,738 ▲34K 36,738 ▲34K
Nữ Trang 41.7% 20,587 ▲21K 22,587 ▲21K
Cập nhật: 30/11/2022 20:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,042.96 16,205.01 16,732.49
CAD 17,671.97 17,850.48 18,431.52
CHF 25,182.38 25,436.75 26,264.72
CNY 3,373.89 3,407.97 3,519.44
DKK - 3,361.96 3,492.29
EUR 24,814.39 25,065.04 26,212.40
GBP 28,730.93 29,021.15 29,965.80
HKD 3,073.59 3,104.64 3,205.70
INR - 300.93 313.11
JPY 172.81 174.56 183.01
KRW 16.10 17.88 19.62
KWD - 79,820.86 83,049.74
MYR - 5,432.85 5,553.87
NOK - 2,413.98 2,517.61
RUB - 385.30 426.73
SAR - 6,535.62 6,800.00
SEK - 2,282.29 2,380.27
SGD 17,470.05 17,646.51 18,220.91
THB 615.83 684.26 710.78
USD 24,490.00 24,520.00 24,800.00
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,284 16,984
CAD - 17,920 18,620
CHF - 25,429 26,379
CNY - 3,412 3,552
DKK - 3,343 3,513
EUR - 24,682 25,972
GBP - 29,016 30,186
HKD - 3,038 3,233
JPY - 173.62 183.17
KRW - 16.74 20.54
LAK - 0.72 1.67
NOK - 2,407 2,527
NZD - 15,127 15,537
SEK - 2,260 2,395
SGD - 17,477 18,277
THB - 685.97 713.97
USD - 24,435 24,835
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 24,510 24,510 24,790
USD(1-2-5) 24,280 - -
USD(10-20) 24,461 - -
GBP 28,852 29,026 30,077
HKD 3,094 3,116 3,202
CHF 25,337 25,490 26,257
JPY 174.01 175.06 182.84
THB 660.58 667.25 727.74
AUD 16,173 16,271 16,801
CAD 17,785 17,892 18,443
SGD 17,605 17,712 18,220
SEK - 2,297 2,371
LAK - 1.09 1.4
DKK - 3,378 3,486
NOK - 2,429 2,507
CNY - 3,395 3,506
RUB - 365 469
NZD 15,078 15,169 15,522
KRW 16.74 - 19.59
EUR 25,046 25,114 26,194
TWD 722.58 - 819.99
MYR 5,157.16 - 5,661.58
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,540.00 24,540.00 24,820.00
EUR 25,131.00 25,152.00 26,221.00
GBP 29,061.00 29,236.00 30,268.00
HKD 3,103.00 3,115.00 3,209.00
CHF 25,463.00 25,565.00 26,245.00
JPY 175.45 175.65 182.45
AUD 16,167.00 16,232.00 16,825.00
SGD 17,705.00 17,776.00 18,174.00
THB 676.00 679.00 718.00
CAD 17,913.00 17,985.00 18,391.00
NZD 0.00 15,087.00 15,594.00
KRW 0.00 17.92 20.53
Cập nhật: 30/11/2022 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24.600 24.680
AUD 16.530 16.596
CAD 18.324 18.398
CHF 26.028 26.132
EUR 25.599 25.701
GBP 29.706 29.825
JPY 178,68 179,4
Cập nhật: 30/11/2022 20:30