Giải pháp điện khí của Wärtsilä (Phần Lan) tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ thống điện của Việt Nam

18:33 | 08/10/2020

587 lượt xem
|
(PetroTimes) - Ngày 07/10, tại khách sạn Meliá Hà Nội diễn ra sự kiện ra mắt báo cáo với tiêu đề “Sự cần thiết của các nhà máy điện động cơ đốt trong linh hoạt (ICE) và các ứng dụng trong hệ thống điện tương lai của Việt Nam”.

Tại sự kiện, đại diện Wärtsilä Energy, tập đoàn hàng đầu thế giới về các giải pháp năng lượng linh hoạt dựa trên công nghệ động cơ đốt trong (ICE) và Hệ thống pin tích trữ năng lượng, có phần trình bày của về cách thức các giải pháp năng lượng linh hoạt dựa trên công nghệ ICE có thể hỗ trợ hệ thống cung cấp điện của Việt Nam. Sự kiện này do Đại sứ quán Phần Lan và Viện Năng lượng (IE) thuộc Bộ Công thương đồng tổ chức với sự tham gia của các đơn vị chủ chốt, cả khu vực nhà nước và tư nhân, trong lĩnh vực năng lượng Việt Nam.

Báo cáo do Viện Năng lượng thực hiện với sự hỗ trợ của các chuyên gia năng lượng từ Phần Lan nhằm nghiên cứu cách thức các nhà máy điện linh hoạt có thể hỗ trợ hệ thống điện của Việt Nam trong những năm tới. Báo cáo đề cập đến những thách thức hiện tại mà hệ thống điện của Việt Nam đang phải đối mặt, bao gồm tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện cao, tình trạng thiếu điện, tích hợp năng lượng tái tạo, và tiềm năng ứng dụng của các nhà máy điện ICE trong quy hoạch phát triển điện lực của Việt Nam trong tương lai. Báo cáo đánh giá các kịch bản trong các giai đoạn khác nhau: dài hạn (2020–2050), trung hạn (2020–2030) và ngắn hạn (2020–2025).

3432-tyng-quan-buyi-ly
Toàn cảnh sự kiện

Các chuyên gia của Wärtsilä tham dự sự kiện này bao gồm Ông Frederic Carron, Phó Chủ tịch mảng Năng lượng phụ trách khu vực Trung Đông & Châu Á, phát biểu khai mạc sự kiện; Ông Nicolas Leong, Giám đốc kinh doanh phụ trách khu vực Bắc & Đông Nam Á, cung cấp cái nhìn về quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu và các mối liên hệ tới các hệ thống điện có tỷ trọng năng lượng tái tạo cao; và Ông Phạm Minh Thành, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, trình bày các giải pháp điện khí nhanh & linh hoạt của Wärtsilä dựa trên công nghệ ICE cho hệ thống điện của Việt Nam.

3423-ong-phym-minh-thanh-phat-biyu-tyi-sy-kiyn-2
Ông Phạm Minh Thành phát biểu tại Lễ công bố

Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, kéo theo tốc độ tăng trưởng nhu cầu năng lượng cao. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tăng thêm công suất phát điện để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, nhiều dự án nhà máy nhiệt điện lớn được lên kế hoạch đã bị chậm tiến độ đáng kể, do đó, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với tình trạng thiếu điện trầm trọng trong những năm tới.

Việt Nam đã và đang tận dụng lợi thế của việc giảm giá thành các công nghệ năng lượng tái tạo. Sự gia tăng nhanh chóng tỷ trọng sản xuất điện từ năng lượng mặt trời và gió đã vượt xa mục tiêu đăt ra trong Quy hoạch Điện lực quốc gia VII. Tuy nhiên, các nguồn phát điện chủ yếu là nguồn nhiệt truyền thống (than và tuabin khí chu trình hỗn hợp), trong khi tiềm năng về các nhà máy thủy điện lớn đã đạt đến giới hạn. Rõ ràng hệ thống điện hiện nay sẽ gặp khó khăn trong việc tích hợp những nhà máy điện tái tạo này vào hệ thống điện.

Các nhà máy điện động cơ ICE của Wärtsilä được thiết kế theo mô-đun và có thể được xây dựng nhanh chóng (trong vòng 12 tháng) để cung cấp nguồn điện cần thiết một cách nhanh chóng. Đồng thời, những nhà máy này được biết đến rộng rãi với độ linh hoạt cao khi có thể hoà lưới trong vòng chưa đầy 30 giây kể từ khi khởi động và có thể đạt đầy tải trong vòng chưa đầy 2 phút. Cùng với hệ thống pin tích trữ năng lượng, các nhà máy điện ICE có thể giúp cân bằng nguồn năng lượng tái tạo, duy trì độ ổn định và độ tin cậy cũng như tối ưu hóa hệ thống điện.

Ông Phạm Minh Thành, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Wärtsilä cho biết: “Các nhà máy điện ICE của chúng tôi có thể đóng góp một vai trò quan trọng trong các giải pháp nhằm giải quyết những thách thức mà hệ thống điện Việt Nam đang phải đối mặt. Trong giai đoạn ngắn hạn, các nhà máy điện ICE có thể giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng một cách hiệu quả, và về lâu dài các nhà máy này có thể cung cấp nguồn dự trữ và cân bằng năng lượng tái tạo cho hệ thống điện, hướng quá trình chuyển đổi tới một tương lai có tỉ trọng năng lượng tái tạo cao”.

Giải pháp điện khí của Wärtsilä (Phần Lan) tích hợp năng lượng tái tạo vào hệ thống điện của Việt Nam
Đại sứ Phần Lan tại Việt Nam, ngài Kari Kahiluoto phát biểu

Đại sứ Phần Lan tại Việt Nam, Ngài Kari Kahiluoto chia sẻ “Đại sứ quán Phần Lan đã và đang hợp tác chặt chẽ với các công ty năng lượng lớn của Phần Lan và các cấp bộ ngành chủ chốt trong lĩnh vực năng lượng của Việt Nam nhằm thúc đẩy việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và sạch. Việc này đóng vai trò quan trọng tại Việt Nam vì đây là quốc gia này nằm trong nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu. Wärtsilä là đơn vị tiên phong trong việc phát triển các giải pháp bền vững và đi đầu trong việc chuyển đổi năng lượng. Tôi mong muốn được thấy các giải pháp của Wärtsilä song hành với việc tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng thể năng lượng, tạo ra sự tăng trưởng năng lượng bền vững của Việt Nam và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển tại đây”.

Đến nay, Wärtsilä đã cung cấp tổng công suất lắp đặt hơn 72 GW tại 180 quốc gia, trong đó gần 10 GW tại khu vực Đông Nam Á.

Đắk Lắk đề xuất Chính phủ đưa nhà máy điện mặt trời tấm nổi vào quy hoạchĐắk Lắk đề xuất Chính phủ đưa nhà máy điện mặt trời tấm nổi vào quy hoạch
Hà Tĩnh chấp thuận chủ trương đầu tư dự án điện gió 120 MWHà Tĩnh chấp thuận chủ trương đầu tư dự án điện gió 120 MW
Năng lượng tái tạo - Những bước đi trong tương laiNăng lượng tái tạo - Những bước đi trong tương lai

P.V

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 76,450 78,650
AVPL/SJC HCM 76,450 78,650
AVPL/SJC ĐN 76,450 78,650
Nguyên liệu 9999 - HN 64,300 64,850
Nguyên liệu 999 - HN 64,200 64,750
AVPL/SJC Cần Thơ 76,450 78,650
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 63.550 64.700
TPHCM - SJC 76.500 78.700
Hà Nội - PNJ 63.550 64.700
Hà Nội - SJC 76.500 78.700
Đà Nẵng - PNJ 63.550 64.700
Đà Nẵng - SJC 76.500 78.700
Miền Tây - PNJ 63.550 64.700
Miền Tây - SJC 76.700 78.800
Giá vàng nữ trang - PNJ 63.550 64.700
Giá vàng nữ trang - SJC 76.500 78.700
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 63.550
Giá vàng nữ trang - SJC 76.500 78.700
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 63.550
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 63.400 64.200
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 46.900 48.300
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 36.310 37.710
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 25.460 26.860
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
AJC Mua vào Bán ra
TT, 3A, NT Nghệ An 6,450 6,560
Trang sức 99.99 6,395 6,540
Trang sức 99.9 6,385 6,530
SJC Thái Bình 7,650 7,870
NT, ĐV, 3A Hà Nội 6,450 6,560
NT, 3A, ĐV Thái Bình 6,450 6,560
NL 99.99 6,410
Nhẫn tròn ko ép vỉ TB 6,400
Miếng SJC Nghệ An 7,650 7,870
Miếng SJC Hà Nội 7,650 7,870
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 76,600 78,800
SJC 5c 76,600 78,820
SJC 2c, 1C, 5 phân 76,600 78,830
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 63,550 64,750
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 63,550 64,850
Nữ Trang 99.99% 63,350 64,350
Nữ Trang 99% 62,213 63,713
Nữ Trang 68% 41,912 43,912
Nữ Trang 41.7% 24,987 26,987
Cập nhật: 25/02/2024 06:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,717.39 15,876.15 16,386.29
CAD 17,774.72 17,954.26 18,531.17
CHF 27,210.35 27,485.20 28,368.37
CNY 3,349.66 3,383.50 3,492.74
DKK - 3,507.01 3,641.48
EUR 25,943.77 26,205.83 27,367.66
GBP 30,352.89 30,659.48 31,644.65
HKD 3,066.61 3,097.59 3,197.12
INR - 296.18 308.04
JPY 158.40 160.00 167.65
KRW 15.96 17.74 19.35
KWD - 79,840.32 83,036.35
MYR - 5,099.76 5,211.24
NOK - 2,286.49 2,383.68
RUB - 251.38 278.29
SAR - 6,546.21 6,808.25
SEK - 2,331.76 2,430.88
SGD 17,832.84 18,012.97 18,591.77
THB 602.29 669.21 694.87
USD 24,420.00 24,450.00 24,790.00
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,846 15,866 16,466
CAD 17,934 17,944 18,644
CHF 27,439 27,459 28,409
CNY - 3,354 3,494
DKK - 3,487 3,657
EUR #25,800 26,010 27,300
GBP 30,686 30,696 31,866
HKD 3,019 3,029 3,224
JPY 159.5 159.65 169.2
KRW 16.31 16.51 20.31
LAK - 0.68 1.38
NOK - 2,257 2,377
NZD 15,004 15,014 15,594
SEK - 2,311 2,446
SGD 17,782 17,792 18,592
THB 632.11 672.11 700.11
USD #24,390 24,430 24,850
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,400.00 24,430.00 24,750.00
EUR 26,125.00 26,230.00 27,143.00
GBP 30,559.00 30,743.00 31,541.00
HKD 3,081.00 3,093.00 3,195.00
CHF 27,457.00 27,567.00 28,312.00
JPY 160.40 161.04 166.00
AUD 15,837.00 15,901.00 16,370.00
SGD 18,045.00 18,117.00 18,519.00
THB 666.00 669.00 701.00
CAD 17,960.00 18,032.00 18,431.00
NZD 14,998.00 15,491.00
KRW 17.72 19.36
Cập nhật: 25/02/2024 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24440 24490 24910
AUD 15959 16009 16420
CAD 18056 18106 18519
CHF 27749 27799 28223
CNY 0 3387.6 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3490 0
EUR 26408 26458 26979
GBP 31007 31057 31522
HKD 0 3120 0
JPY 161.46 161.96 166.56
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 18.4 0
LAK 0 1.0295 0
MYR 0 5337 0
NOK 0 2330 0
NZD 0 15045 0
PHP 0 370 0
SEK 0 2360 0
SGD 18168 18168 18533
THB 0 642.4 0
TWD 0 777 0
XAU 7650000 7650000 7770000
XBJ 5900000 5900000 6350000
Cập nhật: 25/02/2024 06:00