Đã triển khai gần 500 dự án nhà ở xã hội

17:13 | 22/02/2024

1,684 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
(PetroTimes) - Ngày 22/2, Bộ Xây dựng cho biết, kết quả triển khai thực hiện dự án nhà ở xã hội trong giai đoạn từ năm 2021 đến hết năm 2023, qua tổng hợp báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước có 499 dự án nhà ở xã hội đã được triển khai với quy mô 411.250 căn.
Yêu cầu khẩn trương triển khai gói tín dụng 120.000 tỷ đồng cho nhà ở xã hộiYêu cầu khẩn trương triển khai gói tín dụng 120.000 tỷ đồng cho nhà ở xã hội
Sắp có cơ chế riêng về đầu tư, xây dựng nhà ở công nhân trong khu công nghiệpSắp có cơ chế riêng về đầu tư, xây dựng nhà ở công nhân trong khu công nghiệp

Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030” năm 2024, Bộ Xây dựng dẫn số liệu tổng hợp báo cáo của các địa phương cho thấy, trên địa bàn cả nước đã quy hoạch 1.249 khu đất với quy mô 8.390 ha làm nhà ở xã hội. Như vậy so với báo cáo năm 2020 (3.359ha), diện tích đất phát triển nhà ở xã hội đến nay đã tăng thêm 5.031ha. Trong đó, một số địa phương quan tâm đến việc quy hoạch quỹ đất phát triển nhà ở xã hội như: Đồng Nai 1.063ha, TP HCM 608 ha, Long An 577ha, Hải Phòng 471ha, Hà Nội 412ha. Tuy nhiên còn một số địa phương chưa quy hoạch bố trí quỹ đất nhà ở xã hội như: Ninh Bình, Lai Châu, Nghệ An, Ninh Thuận, Đồng Tháp.

Đã triển khai gần 500 dự án nhà ở xã hội
Ảnh minh họa/https://kinhtexaydung.petrotimes.vn/

Về kết quả triển khai thực hiện dự án nhà ở xã hội trong giai đoạn từ năm 2021 đến hết năm 2023, qua tổng hợp báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước có 499 dự án nhà ở xã hội đã được triển khai với quy mô 411.250 căn. Trong đó, số lượng dự án hoàn thành là 71 dự án với quy mô 37.868 căn; số lượng dự án đã khởi công xây dựng là 127 dự án với quy mô 107.896 căn; số lượng dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư là 301 dự án với quy mô 265.486 căn.

Theo Bộ Xây dựng, với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc của các Bộ, ngành, địa phương việc phát triển nhà ở xã hội trong thời gian vừa qua đã đạt được kết quả quan trọng, nhiều địa phương đã tích cực trong việc thu hút đầu tư, thúc đẩy khởi công xây dựng nhà ở xã hội như tỉnh Bắc Ninh 15 dự án, 6.000 căn; Bắc Giang 05 dự án, 12.475 căn; Hải Phòng 07 dự án, 11.678 căn; Bình Dương 07 dự án, 6.557 căn; Đồng Nai 08 dự án, 9.074 căn; Bình Dương 07 dự án, 6.557 căn; Thanh Hóa 09 dự án, 4.948 căn...

Tuy nhiên, một số địa phương trọng điểm mặc dù có nhu cầu về nhà ở xã hội rất lớn, nhưng việc đầu tư nhà ở xã hội còn hạn chế so với mục tiêu của Đề án đến năm 2025. Cụ thể, Hà Nội 03 dự án, 1.700 căn đáp ứng 9%; TP HCM 07 dự án, 4.996 căn đáp ứng 19%; Đà Nẵng 05 dự án, 2.750 căn đáp ứng 43%... Hoặc một số địa phương không có dự án nhà ở xã hội khởi công trong giai đoạn từ năm 2021 đến nay (Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Nam Định, Long An, Quảng Ngãi...).

Về thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước hiện nay có 01 chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được vay vốn với số tiền là 125,84 tỷ đồng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội, đối với việc giải ngân nguồn vốn 15.000 tỷ đồng hỗ trợ cho khách hàng cá nhân vay để mua, thuê mua nhà ở xã hội, nhà công nhân, nhà ở của hộ gia đình, đến nay dư nợ đạt 10.272 tỷ đồng với 26.268 khách hàng.

Về nguồn vốn hỗ trợ 120.000 tỷ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ, theo Bộ Xây dựng, hiện nay đã có đã có 28 địa phương công bố danh mục 68 dự án đủ điều kiện vay theo Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng với nhu cầu vay vốn hơn 30.000 tỷ đồng. Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 06 dự án nhà ở xã hội tại 05 địa phương được giải ngân với số vốn khoảng 415 tỷ đồng.

/https://kinhtexaydung.petrotimes.vn/

Huy Tùng

  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 81,200 ▲600K 83,700 ▲600K
AVPL/SJC HCM 81,200 ▲600K 83,700 ▲500K
AVPL/SJC ĐN 81,200 ▲600K 83,700 ▲600K
Nguyên liệu 9999 - HN 74,800 ▲800K 76,000 ▲600K
Nguyên liệu 999 - HN 74,700 ▲800K 75,900 ▲600K
AVPL/SJC Cần Thơ 81,200 ▲600K 83,700 ▲600K
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 74.500 ▲200K 76.400 ▲150K
TPHCM - SJC 81.200 ▲600K 83.400 ▲300K
Hà Nội - PNJ 74.500 ▲200K 76.400 ▲150K
Hà Nội - SJC 81.200 ▲600K 83.400 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 74.500 ▲200K 76.400 ▲150K
Đà Nẵng - SJC 81.200 ▲600K 83.400 ▲300K
Miền Tây - PNJ 74.500 ▲200K 76.400 ▲150K
Miền Tây - SJC 81.600 ▲800K 83.800 ▲700K
Giá vàng nữ trang - PNJ 74.500 ▲200K 76.400 ▲150K
Giá vàng nữ trang - SJC 81.200 ▲600K 83.400 ▲300K
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 74.500 ▲200K
Giá vàng nữ trang - SJC 81.200 ▲600K 83.400 ▲300K
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 74.500 ▲200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 74.400 ▲200K 75.200 ▲200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 55.150 ▲150K 56.550 ▲150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.740 ▲110K 44.140 ▲110K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.030 ▲80K 31.430 ▲80K
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,445 ▲20K 7,680 ▲30K
Trang sức 99.9 7,435 ▲20K 7,670 ▲30K
NL 99.99 7,440 ▲20K
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,420
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,510 ▲20K 7,710 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,510 ▲20K 7,710 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,510 ▲20K 7,710 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 8,130 ▲10K 8,370 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 8,130 ▲10K 8,370 ▲20K
Miếng SJC Hà Nội 8,130 ▲10K 8,370 ▲20K
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 81,600 ▲1000K 83,800 ▲700K
SJC 5c 81,600 ▲1000K 83,820 ▲700K
SJC 2c, 1C, 5 phân 81,600 ▲1000K 83,830 ▲700K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 74,500 ▲200K 76,400 ▲200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 74,500 ▲200K 76,500 ▲200K
Nữ Trang 99.99% 74,400 ▲200K 75,700 ▲200K
Nữ Trang 99% 72,950 ▲198K 74,950 ▲198K
Nữ Trang 68% 49,131 ▲136K 51,631 ▲136K
Nữ Trang 41.7% 29,220 ▲83K 31,720 ▲83K
Cập nhật: 15/04/2024 09:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,775.49 15,934.84 16,446.43
CAD 17,717.24 17,896.20 18,470.77
CHF 26,678.60 26,948.08 27,813.26
CNY 3,386.02 3,420.22 3,530.56
DKK - 3,504.97 3,639.28
EUR 25,953.62 26,215.78 27,377.34
GBP 30,351.54 30,658.13 31,642.42
HKD 3,111.74 3,143.17 3,244.09
INR - 298.66 310.61
JPY 158.21 159.81 167.45
KRW 15.63 17.36 18.94
KWD - 80,980.53 84,220.01
MYR - 5,187.02 5,300.28
NOK - 2,253.36 2,349.09
RUB - 255.21 282.52
SAR - 6,652.65 6,918.78
SEK - 2,256.66 2,352.53
SGD 17,921.68 18,102.71 18,683.90
THB 602.57 669.52 695.17
USD 24,810.00 24,840.00 25,180.00
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,955 16,055 16,505
CAD 17,936 18,036 18,586
CHF 26,943 27,048 27,848
CNY - 3,419 3,529
DKK - 3,523 3,653
EUR #26,191 26,226 27,486
GBP 30,787 30,837 31,797
HKD 3,120 3,135 3,270
JPY 159.68 159.68 167.63
KRW 16.29 17.09 19.89
LAK - 0.88 1.24
NOK - 2,261 2,341
NZD 14,615 14,665 15,182
SEK - 2,255 2,365
SGD 17,945 18,045 18,775
THB 629.15 673.49 697.15
USD #24,790 24,870 25,210
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,830.00 24,860.00 25,180.00
EUR 26,104.00 26,209.00 27,377.00
GBP 30,482.00 30,666.00 31,615.00
HKD 3,129.00 3,142.00 3,244.00
CHF 26,835.00 26,943.00 27,771.00
JPY 158.96 159.60 166.90
AUD 15,875.00 15,939.00 16,426.00
SGD 18,036.00 18,108.00 18,640.00
THB 664.00 667.00 694.00
CAD 17,833.00 17,905.00 18,427.00
NZD 14,595.00 15,085.00
KRW 17.32 18.86
Cập nhật: 15/04/2024 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24830 24880 25220
AUD 15999 16049 16454
CAD 17981 18031 18434
CHF 27179 27229 27641
CNY 0 3421.3 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3490 0
EUR 26399 26449 26952
GBP 30967 31017 31477
HKD 0 3115 0
JPY 161.17 161.67 166.18
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 18.4 0
LAK 0 1.0214 0
MYR 0 5400 0
NOK 0 2330 0
NZD 0 14655 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18240 18240 18596
THB 0 641.6 0
TWD 0 777 0
XAU 8150000 8150000 8340000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 15/04/2024 09:45