TỔNG THUẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đến dự Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Cùng dự Hội nghị có các Phó Thủ tướng Chính phủ: Phạm Gia Túc, Hồ Quốc Dũng, Nguyễn Văn Thắng, Lê Tiến Châu; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương; đại diện các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp.
Nếu có vấn đề gì khen Chính phủ thì để dịp khác
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu khai mạc Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, trong bối cảnh chúng ta đang quyết tâm tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2026-2030 với các nhiệm vụ rất nặng nề, rất thách thức, trước hết là thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2026 - năm đầu tiên của nhiệm kỳ, phấn đấu tăng trưởng 2 con số; lần đầu tiên Thường trực Chính phủ khóa mới gặp mặt cộng đồng doanh nghiệp - lực lượng tiên phong trên mặt trận kinh tế, trực tiếp tạo động lực cho tăng trưởng, việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc có đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm nay và nhiều năm tới phụ thuộc rất lớn vào cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thay mặt Thường trực Chính phủ, Thủ tướng gửi tới các doanh nhân, doanh nghiệp và các đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công.
Thủ tướng cho biết, Chính phủ nhiệm kỳ mới nhận nhiệm vụ hơn 3 tháng đang tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, nhất là Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị Trung ương 2 và các Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài...
Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta đã có rất nhiều đổi mới, sáng tạo trong triển khai để đưa các chủ trương, nghị quyết đi vào thực tiễn một cách nhanh nhất, trọng tâm nhất với chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, chính quyền địa phương. Mục tiêu là tạo nền tảng thể chế thông thoáng, minh bạch, giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế.
Thủ tướng cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường, tác động lan tỏa rất nhanh, tác động trực tiếp, gián tiếp đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng ngay tới điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm các động lực, đà tăng trưởng nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực, đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực.
Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18%, mức cao nhất từ năm 2011 đến nay, trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo. An sinh xã hội được quan tâm, quốc phòng an ninh được bảo đảm, ngoại giao có nhiều thành tựu. Đó là kết quả từ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước.
Thủ tướng nêu rõ, nhiệm vụ từ nay tới cuối năm rất nặng nề. Chúng ta vừa phải tập trung tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô vững chắc, vừa phải khai thác hiệu quả hơn nữa các nguồn lực, động lực để đạt tăng trưởng cao, bền vững. Trong đó, vai trò, trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công trong đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
![]() |
| Thủ tướng cùng các Phó Thủ tướng chủ trì Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thủ tướng cho biết, Hội nghị sẽ rà soát, nhận diện các khó khăn, vướng mắc từ cộng đồng doanh nghiệp. Tổng hợp ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp trong và ngoài nước, báo cáo của các bộ, đặc biệt là Bộ Tài chính cũng nêu các nhóm vấn đề còn có vướng mắc (thể chế và tổ chức thực thi chính sách; tiếp cận các nguồn lực sản xuất; chi phí và dòng tiền; thị trường và chuỗi cung ứng; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; liên kết giữa 3 khu vực doanh nghiệp).
Trong các nội dung này, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh nhóm vấn đề về thể chế và tổ chức thực thi chính sách. Theo Thủ tướng, vừa qua chúng ta đã tập trung rất quyết liệt tháo gỡ vướng mắc về thể chế nhưng việc tổ chức thực hiện ở các bộ ngành và địa phương còn có những vấn đề gây khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đây là nhóm vấn đề có nhiều ý kiến nhất và cũng được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ưu tiên tập trung chỉ đạo quyết liệt các bộ ngành, địa phương.
Thủ tướng đề nghị từ những vấn đề đó, cần xác định những giải pháp có thể triển khai ngay, giải quyết dứt điểm, những việc cần tiếp tục hoàn thiện về cơ chế, chính sách và những nhiệm vụ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Thủ tướng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận và hướng đến 3 vấn đề lớn sau đây.
Thứ nhất, đánh giá các khó khăn, vướng mắc nêu trên đã được nhận diện đầy đủ, thực chất chưa? Đề nghị các doanh nghiệp có ý kiến thẳng thắn tại Hội nghị, đồng thời đánh giá và có đề xuất gì đối với Chính phủ, bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức thực thi pháp luật và xử lý kiến nghị của doanh nghiệp? Tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng, lãnh đạo Chính phủ là các kiến nghị nếu phản ánh đầy đủ thực tiễn, thực tế khó khăn thì phải xử lý triệt để, giải quyết đến cùng.
Thứ hai, kiến nghị, hiến kế về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng 2 con số. Trong đó tập trung vào các giải pháp sau: Hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; khơi thông và huy động dòng vốn cho sản xuất kinh doanh; tháo gỡ khó khăn đất đai, hạ tầng; giảm chi phí sản xuất kinh doanh; mở rộng thị trường; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nhân lực, tham gia và kiến tạo chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu; tăng cường liên kết giữa 3 khu vực doanh nghiệp.
Thứ ba, các bộ, ngành, địa phương trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp về những kiến nghị thuộc phạm vi quản lý, làm rõ hướng xử lý, lộ trình thực hiện để các khó khăn được giải quyết thực chất, xử lý hiệu quả.
"Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ cam kết với cộng đồng doanh nghiệp: Tất cả các vấn đề vướng mắc, khó khăn thực tiễn mà doanh nghiệp phản ánh đúng thì sẽ được quan tâm, theo dõi chỉ đạo xử lý đến tận cùng, làm sao để nói là làm và làm thực chất, hiệu quả", Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu.
Thủ tướng cho biết, sắp tới Quốc hội sẽ có các Kỳ họp không thường lệ và Kỳ họp thường kỳ vào cuối năm, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hai kỳ họp này là hoàn thiện thể chế và các ý kiến tham gia của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng đối với những văn bản quy phạm pháp luật tác động trực tiếp liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp vừa và nhỏ, các luật thuế, hợp nhất Luật Đầu tư công và Luật ngân sách nhà nước… Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp phải hết sức chủ động, tích cực tham gia ý kiến với các bộ ngành, Chính phủ, Quốc hội, các đại biểu Quốc hội để hoàn thiện, có một hệ thống cơ sở pháp lý ngày càng minh bạch, rõ ràng để tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
"Đề nghị các doanh nghiệp thẳng thắn đóng góp ý kiến, nếu có vấn đề gì khen Chính phủ thì chúng ta để dịp khác, hội nghị hôm nay chủ yếu nêu các khó khăn và kiến nghị giải pháp để Chính phủ, các bộ ngành, chính quyền địa phương làm tốt chức năng của mình và các doanh nghiệp cũng phải có hiệu quả để đóng góp vào thành tựu chung", Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Báo cáo tóm tắt của Bộ Tài chính
Trình bày Báo cáo trung tâm của Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết: Qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, có thể khái quát những khó khăn, vướng mắc hiện nay thành 6 nhóm vấn đề lớn.
Thứ nhất, về thể chế và tổ chức thực hiện. Đây vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; việc ban hành văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực còn chậm; cách hiểu và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, địa phương chưa thống nhất. Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu liên thông; chuyển đổi số chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, nộp hồ sơ giấy ở một số thủ tục. Bên cạnh đó, ở một số nơi vẫn còn tâm lý e ngại trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trong giải quyết công việc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, về tiếp cận các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và các nguồn lực sản xuất. Thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Những vướng mắc về quỹ đất, xác định giá đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện nghĩa vụ tài chính tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.
Thứ ba, về chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; trong khi các yêu cầu mới về tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội làm gia tăng chi phí tuân thủ. Việc chậm thanh toán, hoàn thuế, giải ngân hoặc xử lý các thủ tục liên quan cũng tạo thêm áp lực đối với dòng tiền và vốn lưu động của doanh nghiệp.
Thứ tư, về thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về ESG, giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh carbon đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, thị trường trong nước và các chuỗi cung ứng nội địa vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là bệ đỡ cho doanh nghiệp phát triển.
Thứ năm, về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa thật sự mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ sáu, về liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo. Việc chia sẻ thị trường, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và hình thành các chuỗi giá trị trong nước còn nhiều hạn chế, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các nguồn lực và ảnh hưởng đến năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Những khó khăn nêu trên có nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp và rà soát, có thể thấy phần lớn không xuất phát từ việc thiếu chủ trương hay thiếu cơ chế, chính sách, mà chủ yếu do những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện. Đây cũng là nội dung cần được tập trung tháo gỡ với tinh thần quyết liệt, thực chất và đồng bộ hơn trong thời gian tới.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh: Việc khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp trong thời gian tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Do đó, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới cần quán triệt đầy đủ tinh thần của Kết luận số 18-KL/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ đó, lãnh đạo Bộ Tài chính đề xuất một số giải pháp chủ yếu:
Giải pháp chung cho khu vực doanh nghiệp:
Hoàn thiện thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh. Khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế, hải quan và quản lý chuyên ngành; bảo đảm văn bản hướng dẫn được ban hành kịp thời và có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Chuyển mạnh từ tiền kiểm truyền thống sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, trên cơ sở quản lý rủi ro. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải quyết, khắc phục tình trạng né tránh, sợ sai và đùn đẩy.
Đẩy nhanh tái thiết kế thủ tục hành chính trên nền tảng số, không chỉ số hóa hồ sơ giấy. Thực hiện nguyên tắc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần; kết nối, chia sẻ dữ liệu; công khai đầu mối, tiến độ và tình trạng xử lý hồ sơ; tự động cảnh báo hồ sơ quá hạn.
Khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu,…; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm đối với động sản, hàng tồn kho, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, sở hữu trí tuệ, phần mềm và dữ liệu. Phát triển đồng bộ thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng. Thiết lập cơ chế bảo đảm thanh toán đúng hạn đối với hoàn thuế, dự án đầu tư công, mua sắm công và hợp đồng sử dụng ngân sách nhà nước.
Tháo gỡ vướng mắc đất đai, dự án và phát triển hạ tầng: Hoàn thiện quy trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo hướng rõ thủ tục, phương pháp, thời hạn và trách nhiệm. Phân loại và xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, công trình ách tắc, đất đai bỏ hoang. Công khai dữ liệu quy hoạch, quỹ đất, giá đất và tình trạng pháp lý dự án trên hệ thống thống nhất. Đẩy nhanh hạ tầng chiến lược về giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số; bảo đảm cung ứng điện ổn định cho các dự án công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp chiến lược.
Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí tuân thủ: Thực hiện thống nhất mã hàng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm tra; công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận còn hiệu lực. Áp dụng phân loại rủi ro để miễn, giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt. Tham vấn, đánh giá kỹ tác động trước khi điều chỉnh thuế, phí, tiêu chuẩn và quy chuẩn; có thời gian chuyển tiếp phù hợp. Rà soát giá, phí, phụ phí logistics; kết nối dữ liệu giữa cảng, kho, vận tải, hải quan và cơ quan kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm thời gian lưu kho, lưu bãi và thông quan.
Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo: Đổi mới xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và FTA; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc, phòng vệ thương mại. Phát huy thị trường trong nước như một bệ đỡ thông qua kết nối cung - cầu, phát triển thương hiệu Việt, hệ thống phân phối trong nước. Hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ R&D, thương mại hóa; thúc đẩy liên kết viện, trường, trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp. Đào tạo, đào tạo lại nhân lực số, xanh, công nghệ và lao động kỹ thuật theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.
Giải pháp đối với từng khu vực doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nhà nước, tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng vốn. Khẩn trương hoàn thiện danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt; yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty công khai nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước, đồng thời đưa kết quả đổi mới công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và tiến độ dự án vào tiêu chí đánh giá người đứng đầu.
Đối với khu vực tư nhân, bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư công, mua sắm công và các dự án hạ tầng; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuẩn hóa quản trị, kế toán, công nghệ và tiêu chuẩn để mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển các mô hình kinh doanh mới như "doanh nghiệp 1 người" để thúc đẩy khởi nghiệp, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Đối với khu vực FDI, chuyển trọng tâm thu hút từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ; gắn ưu đãi đầu tư với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.
Về giải pháp thúc đẩy cơ chế liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp
Cần thiết lập cơ chế liên kết và đo lường kết quả giữa ba khu vực doanh nghiệp. Lựa chọn các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, điện lực, dầu khí, viễn thông, hạ tầng số, logistics, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh để xây dựng chuỗi liên kết. Xác định doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn làm hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, bảo trì và logistics. Đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể: tỉ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi, giá trị hợp đồng cung ứng, tỉ lệ nội địa hóa, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động kỹ thuật được đào tạo.
Tổng hợp kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp
![]() |
| Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, đề xuất các kiến nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel: Tôi bày tỏ sự nhất trí cao và đặc biệt tâm đắc với báo cáo trung tâm do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình bày, đánh giá toàn diện bức tranh phát triển của đất nước, nhìn nhận khách quan vai trò của 3 khu vực kinh tế, đồng thời thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy phát triển khi tập trung tháo gỡ khó khăn riêng biệt đến các nhóm giải pháp mang tính bao trùm.
Trên cơ sở đồng tình với báo cáo, tôi xin bổ sung 4 nội dung:
Thứ nhất, với vai trò là doanh nghiệp nhà nước, tại mục 2 phần V của báo cáo về các nhiệm vụ, giải pháp khơi thông và huy động nguồn lực đối với doanh nghiệp nhà nước, tôi đặc biệt quan tâm đến hai nhóm giải pháp:
Một là giải pháp hoàn thiện các danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt trong ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Đề nghị Chính phủ sớm ban hành danh mục này, đồng thời xác định rõ doanh nghiệp đầu tàu trong từng lĩnh vực và giao những nhiệm vụ chiến lược cụ thể, phù hợp với năng lực, lợi thế của từng doanh nghiệp. Bởi từ đó, khi đã xác định là doanh nghiệp đầu tàu thì ngoài mục tiêu về sản xuất kinh doanh, cần được giao thêm những nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược quốc gia như: Dẫn dắt về công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước, mở rộng thị trường quốc tế, làm chủ các công nghệ chiến lược, tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược, tham gia các dự án trọng điểm quốc gia. Có như vậy, doanh nghiệp nhà nước mới thực sự phát huy được vai trò dẫn dắt và tạo động lực cho nền kinh tế.
Hai là về giải pháp phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước với tư cách là người mua lớn, người đặt hàng lớn để tạo ra thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Đây là một chủ trương rất đúng và rất trúng. Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào thực tiễn, tôi kiến nghị Chính phủ sớm ban hành các cơ chế hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, phương thức tổ chức thực hiện, cũng như là cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và năng lực.
Bên cạnh đó, Chính phủ có thể nghiên cứu giao thêm cho các doanh nghiệp đầu tàu một số chỉ tiêu phản ánh mức độ lan tỏa với nền kinh tế như là: số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng, tỉ lệ nội địa hóa, giá trị mua sắm trong nước, số doanh nghiệp công nghệ được hỗ trợ phát triển sản phẩm. Mục tiêu là mỗi dự án của doanh nghiệp đầu tàu không chỉ tạo ra sự tăng trưởng cho riêng doanh nghiệp đó mà còn kéo theo sự phát triển của hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam, để một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước có thể dẫn dắt được nhiều đồng vốn của doanh nghiệp tư nhân và xã hội.
Thứ hai, với vai trò là tập đoàn công nghệ, đối với các giải pháp phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, tôi rất đồng tình với quan điểm: Doanh nghiệp là trung tâm cho phát triển sản phẩm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Lựa chọn doanh nghiệp đầu tàu có năng lực công nghệ, vốn, thị trường để tham gia ngay từ khâu đặt hàng, thiết kế, thử nghiệm, hoàn thiện, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm. Nhà nước kiến tạo, đặt hàng, hỗ trợ thể chế, dữ liệu, hạ tầng và tiêu chuẩn. Viện, trường cung cấp tri thức, công nghệ, nhân lực cùng doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường. Viettel kiến nghị Chính phủ sớm cụ thể hóa quan điểm này bằng các cơ chế, chính sách đủ mạnh để hình thành một đội ngũ doanh nghiệp công nghệ đầu tàu của quốc gia, trong đó có Viettel, VNPT, MobiFone, FPT, CMC,... và được giao nhiệm vụ, được trao cơ chế và được tạo điều kiện tham gia phát triển các công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược quốc gia. Đồng thời, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế tài chính, đầu tư, mua sắm công, thử nghiệm công nghệ, tiếp cận dữ liệu, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đây chính là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và đóng góp nhiều hơn nữa cho tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Thứ ba, tháo gỡ các điểm nghẽn về logistics. Tại mục 2, mục 3 phần III của báo cáo đã chỉ rõ những bất cập, thiếu đồng bộ của hạ tầng logistics và xác định chi phí logistics tiếp tục là những yếu tố làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Viettel đề xuất Chính phủ sớm ban hành quy hoạch hạ tầng logistics quốc gia theo hướng đồng bộ, liên thông giữa hệ thống giao thông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt, trung tâm logistics, kho vận, cửa khẩu thông minh và các trung tâm trung chuyển lớn. Việc hình thành một mạng lưới logistics hiện đại, thống nhất sẽ không chỉ giúp giảm chi phí logistics mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, về giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, đặc biệt là ra nước ngoài. Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao kinh tế như báo cáo đã đề cập, đề xuất Chính phủ nghiên cứu cơ chế cho phép doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, được trích lập Quỹ Xúc tiến đầu tư từ lợi nhuận trước thuế. Thực tiễn cho thấy khi xúc tiến đầu tư nước ngoài, cần rất nhiều chi phí trong giai đoạn đầu và có thể xúc tiến thành công hoặc không thành công, nên rất mong có Quỹ này. Ngoài ra, như gợi ý của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp cận vốn, hiện nay Tập đoàn đang xúc tiến một số thị trường. Khi đề xuất các ngân hàng trong nước ra nước ngoài bảo lãnh, chi phí của ngân hàng trong nước cao hơn 50 - 60% so với nước ngoài. Rất mong chúng ta có cơ chế để khơi thông được nguồn vốn trong nước cùng nhau đi ra nước ngoài.
![]() |
| Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch JCCI (Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam): Các công ty Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ Nghị quyết số 10-NQ/TW với tầm nhìn thúc đẩy đầu tư chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhân tài và xây dựng các doanh nghiệp Việt Nam mạnh mẽ hơn. Hôm nay, tôi đưa ra ba khuyến nghị.
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chúng ta phải tăng cường phát triển tài năng công nghiệp cho các ngành có giá trị gia tăng cao. Ngành công nghiệp điện tử và bán dẫn hiện là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Khả năng cạnh tranh trong tương lai của ngành này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của lực lượng lao động.
Các công ty Nhật Bản đang đầu tư rất lớn vào đào tạo. Tuy nhiên, việc phát triển tài năng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp, các cơ sở giáo dục (trường đại học, trường nghề) và Chính phủ. Chúng tôi hoan nghênh các sáng kiến hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho sự hợp tác giữa các ngành công nghiệp và các tổ chức giáo dục.
Cụ thể như, các trung tâm đào tạo công nghệ điện tử và bán dẫn; phát triển lực lượng lao động lành nghề, các kỹ sư bảo trì và các chuyên gia quản lý chất lượng. Ngoài ra, các chương trình đào tạo kỹ thuật ở nước ngoài cũng là chìa khóa để khuyến khích đầu tư vào phát triển lực lượng lao động.
Trong những năm tới, thách thức lớn nhất có lẽ không phải là số lượng kỹ sư, mà là sự thiếu hụt các chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm, chuyên gia bảo trì và chuyên viên quản lý chất lượng. Con người là nền tảng của năng lực cạnh tranh công nghiệp. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia vào các hoạt động có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng, thì đây là điều rất quan trọng.
Thứ hai, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Chúng ta phải đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều công ty Nhật Bản muốn tăng cường mua sắm nội địa tại Việt Nam, tuy nhiên, sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng hiện vẫn còn hạn chế.
Cơ hội đang có trong các lĩnh vực như vật liệu, linh kiện, sản xuất chính xác và các dịch vụ công nghiệp chuyên dụng. Do đó, Việt Nam cần có cả những nhà cung cấp lớn mạnh và một thế hệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), các công ty khởi nghiệp mới tham gia vào chuỗi cung ứng.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty khởi nghiệp năng động đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong đổi mới sáng tạo. Nhiều công ty hàng đầu trong tương lai sẽ xuất thân từ nhóm này. Vì vậy, chúng tôi khuyến khích tiếp tục hỗ trợ phát triển nhà cung cấp, mở rộng cơ hội kết nối kinh doanh, thúc đẩy hợp tác kỹ thuật, các dự án phát triển chung và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các startup.
Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư FDI quy mô lớn. Trong tương lai, chúng ta phải tạo ra thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển và trở thành đối tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cần tập trung hỗ trợ nâng cấp công nghệ, chứng nhận chất lượng, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo lực lượng lao động và nâng cao năng suất lao động.
Thứ ba, môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định
Cần có một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán được và thân thiện với doanh nghiệp. Chúng tôi đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư và cải cách hành chính.
Tuy nhiên, tính minh bạch, khả năng dự báo và việc thực thi chính sách một cách đồng bộ vẫn là những yếu tố then chốt đối với các nhà đầu tư. Khi Nghị quyết 10-NQ/TW được cụ thể hóa thành các luật và quy định, chúng tôi trân trọng đề nghị Chính phủ mở rộng tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp.
Cơ chế đối thoại công - tư và cơ chế lấy ý kiến công chúng hiệu quả sẽ giúp đảm bảo rằng các chính sách sát với thực tế, có tính khả thi và được thực hiện thành công.
Việt Nam có tiềm năng rất lớn để trở thành một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu của châu Á về công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để đạt được điều này, chúng tôi tin rằng có ba ưu tiên chính: Phát triển các tài năng công nghiệp; Tăng cường năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu; Duy trì một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán và thân thiện.
Các công ty Nhật Bản đã, đang và sẽ tiếp tục cam kết đóng góp cho sự thành công lâu dài của Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản luôn sẵn sàng đồng hành trên con đường phát triển này.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, nêu ý kiến tại Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam và hộ kinh doanh rất vui mừng, trân trọng cảm ơn Chính phủ và Thủ tướng ngay từ đầu nhiệm kỳ của Chính phủ mới đã trình Quốc hội thông qua nâng ngưỡng không phải nộp thuế cho hộ kinh doanh từ 100 triệu đồng/năm lên doanh thu 1 tỷ đồng/năm. Chúng tôi rất kỳ vọng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục xem xét nâng ngưỡng tính thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh để hỗ trợ tạo đà phát triển cho kinh tế tư nhân.
Với mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên, trước hết cộng đồng doanh nghiệp cho rằng các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã khá toàn diện và đầy đủ. Tâm thế của chúng tôi hiện nay chỉ có hành động quyết liệt để quyết tâm đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi trân trọng đề xuất với Thủ tướng và Chính phủ giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho Hiệp hội DNNVV, cộng đồng DNNVV cũng như hộ kinh doanh, thậm chí bao gồm chỉ tiêu đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
Với quyết tâm đó, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ một số nội dung.
Trước tiên, nhằm triển khai toàn diện và hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) sắp tới, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ có thể quy định ngay trong Luật về loại hình doanh nghiệp cá thể do một người làm chủ. Các doanh nghiệp cá thể vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế như quy định nhưng được hưởng các chính sách hỗ trợ tốt như doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho nhiều hộ kinh doanh đăng ký loại hình doanh nghiệp cá thể có thể hưởng những chế độ, chính sách của Nhà nước…
Đồng thời, Nghị quyết 68 khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm độc lập và thúc đẩy chia sẻ, liên thông dữ liệu. Hiệp hội đề xuất Chính phủ cho phép Hiệp hội thí điểm các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cùng với đó, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ phối hợp với Hiệp hội nghiên cứu quy định cơ chế cho phép Hiệp hội thành lập các tổ chức thành viên dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các tỉnh, các xã và phường.
![]() |
| Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn chỉ ra các điểm nghẽn và đề xuất 4 kiến nghị chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất liên quan trực tiếp đến Petrovietnam và các doanh nghiệp ngành năng lượng, bao gồm hai kiến nghị.
Một là, hoàn thiện khung pháp lý về năng lượng. Kiến nghị Chính phủ sớm trình Quốc hội thông qua Luật Dầu khí sửa đổi, tạo hành lang pháp lý ổn định cho đầu tư và phát triển ngành dầu khí. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện Luật Điện lực theo hướng đồng bộ, khả thi; tổ chức quản lý phát triển điện gió ngoài khơi theo mô hình tương đồng với quản lý hoạt động dầu khí ngoài khơi; xác định rõ cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm. Tháo gỡ vướng mắc về tiêu thụ khí tự nhiên trong nước cho phát điện; hoàn thiện cơ chế giá điện hai thành phần, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và thu hút đầu tư từ mọi thành phần kinh tế.
Hai đạo luật này sẽ là tạo nền tảng cho phát triển chuỗi khí điện và năng lượng ngoài khơi, phát huy cao nhất giá trị của tài nguyên quốc gia, đảm bảo an ninh năng lượng và tự chủ năng lượng.
Hai là, cụ thể hóa Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sớm cụ thể hóa Nghị quyết 70 bằng các cơ chế, chính sách cho lĩnh vực năng lượng; tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, vốn, cơ chế giá và thủ tục đối với các dự án năng lượng trọng điểm. Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột Trung Đông đang làm gián đoạn khoảng 20% nguồn cung dầu thô và LNG toàn cầu như báo cáo trung tâm đã nêu, kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý về dự trữ năng lượng quốc gia, trước hết là dự trữ dầu thô chiến lược. Tôi cũng đề xuất giao cho Petrovietnam nghiên cứu hợp tác đầu tư với các đối tác trong và ngoài nước để vận hành hệ thống kho dự trữ dầu thô quốc gia nhằm gắn với các trung tâm lọc hóa dầu, năng lượng hiện hữu, nâng cao tính tự chủ và khả năng ứng phó của nền kinh tế trước các cú sốc năng lượng.
Nhóm thứ hai về thể chế tạo động lực để doanh nghiệp nhà nước trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng, bao gồm hai kiến nghị.
Thứ nhất, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sớm ban hành đồng bộ các văn bản quy định pháp luật cụ thể hóa Nghị quyết 79, ưu tiên ba cơ chế:
Một là phân cấp mạnh thẩm quyền quyết định đầu tư và giao quản trị vốn cho Hội đồng thành viên các tập đoàn quy mô lớn gắn với trách nhiệm giải trình.
Hai là, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo tổng thể danh mục, chấp nhận rủi ro ở từng dự án và làm rõ về nhiệm vụ chính trị.
Ba là mở rộng ngành nghề kinh doanh và thu hút nhân tài trong các lĩnh vực chiến lược. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp nhà nước đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kiến nghị thứ hai về hoàn thiện khung pháp lý quản trị, giám sát và đánh giá doanh nghiệp. Từ thực tiễn triển khai Luật 68 và các Nghị định 365, 366, Petrovietnam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện thể chế theo hướng phân cấp mạnh hơn cho doanh nghiệp; đổi mới cơ chế đánh giá, xếp loại hiệu quả dài hạn và đóng góp cho chiến lược; cho phép bổ sung vốn điều lệ, giữ lại nguồn lực để tái đầu tư; sớm ban hành cơ chế đặc thù đối với các dự án năng lượng mới, công nghệ mới và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời, Petrovietnam xin đề xuất một cơ chế để tạo sức lan tỏa cho toàn nền kinh tế, phát huy vai trò của các tập đoàn nhà nước đầu tàu. Đó là cho phép chủ động thiết kế chuỗi liên kết với hai khu vực doanh nghiệp gồm doanh nghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp nước ngoài tại các dự án năng lượng quy mô lớn như là chuỗi dự án khí điện Lô B, hạ tầng về điện khí LNG và điện gió ngoài khơi. Tỉ lệ nội địa hóa cần được giao thành chỉ tiêu. Mỗi đồng vốn nhà nước sẽ kéo theo nhiều đồng vốn và năng lực tự chủ của khu vực tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Với Petrovietnam, song song với sự tháo gỡ của Chính phủ, Petrovietnam cam kết ba việc:
- Hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu năm 2026, giữ tốc độ tăng trưởng doanh thu hai con số và nộp ngân sách nhà nước đảm bảo cả năm vượt kế hoạch quản trị.
- Đảm bảo giải ngân đúng tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, chuỗi dự án Lô B - Ô Môn, hệ thống kho cảng LNG và chuẩn bị sẵn sàng cho dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
- Tự đổi mới quản trị theo chuẩn mực quốc tế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo toàn diện trong toàn hệ thống và siết chặt kỷ luật về đầu tư và chi phí.
![]() |
| Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): Dưới góc độ của một ngân hàng thương mại, chúng tôi xin báo cáo có 5 khó khăn vướng mắc:
Thứ nhất là khó khăn vướng mắc liên quan đến việc bố trí đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng ra thị trường.
Thứ hai là liên quan đến bất cân đối về nguồn vốn.
Thứ ba là liên quan đến chi phí vốn tăng trong thời gian tới.
Thứ tư liên quan đến nguồn cung ngoại tệ, tỉ giá.
Thứ năm là các nội dung liên quan đến chính sách tài sản bảo đảm, cũng như là việc vay vốn của các địa phương mà có quy hoạch làm ảnh hưởng đến tài sản bảo đảm của các ngân hàng.
Dưới góc độ nền kinh tế, để đạt được tăng trưởng GDP 10% thì tỉ lệ đầu tư cần đạt là 40% GDP. Tuy nhiên, tỉ lệ tiết kiệm bình quân trong nước chúng ta chỉ đạt con số 36,5% (theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank). Nếu loại trừ phần kinh tế phi chính thức thì việc tiết kiệm trong nước còn thiếu hơn rất nhiều.
Vietcombank tuân thủ tuyệt đối theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về mặt bằng lãi suất huy động vốn. Do vậy, nguồn vốn Vietcombank đang huy động bị thiếu so với nhu cầu để tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, LDR (tỉ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động) Ngân hàng Nhà nước cho phép là 80%, Vietcombank hiện nay chỉ ở khoảng dưới 70%, rất an toàn, kiểm soát LDR rất tốt. Vietcombank cam kết trong mọi tình huống đều đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng và cho thị trường. Thời gian vừa qua, Vietcombank vẫn bảo đảm cung ứng đủ tiền ra thị trường để hỗ trợ cho thanh khoản.
Từ phân tích nêu trên, thấy rằng tích lũy trong nước sẽ không đủ. Vấn đề cốt lõi là bây giờ các ngân hàng sẽ không dư dả vốn để cung ứng cho tín dụng, đặc biệt là nhu cầu cho rất nhiều dự án lớn trong thời gian tới. Do vậy, giải pháp tất yếu là phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Về giải pháp đối với nguồn vốn, đề xuất cho phép trong thời gian tới Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu quốc tế. Với uy tín của Việt Nam hiện nay, trái phiếu quốc tế sẽ được lãi suất tốt, thay vì để các doanh nghiệp tự đi huy động như hiện nay.
Chúng tôi rất mong trong thời gian tới thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện quy mô trái phiếu doanh nghiệp chỉ khoảng 10% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc.
Để giải quyết vấn đề này, ngành ngân hàng cũng có thể tham gia hỗ trợ thông qua chính sách liên quan đến nhận tài sản bảo đảm của các đơn vị phát hành. Rất nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành hiện nay khiến nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm (ví dụ bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay). Chỉ có các tổ chức tín dụng mới có thể nhận được các tài sản này. Nếu đồng bộ cả ngành ngân hàng và tài chính thì sẽ tạo động lực cho trái phiếu doanh nghiệp phát triển.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Trường, Tổng Giám đốc Doanh nghiệp Xuân Trường - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Ông Nguyễn Văn Trường, Tổng Giám đốc Doanh nghiệp Xuân Trường: Thứ nhất, tôi kiến nghị cần hoàn thiện quy chế giá vật liệu, đặc biệt là đất và cát, cho đúng với thực tế. Việc áp dụng "giá tham khảo" cần bám sát thực tế thị trường, tránh tạo rào cản cho các dự án xây dựng.
Thứ hai, về quản lý các mỏ vật liệu, cần các mỏ dự trữ với trữ lượng từ 10.000-100.000 khối. Bên cạnh đó, mỏ nào không có dự trữ thực tế hoặc không mở cửa phục vụ vật liệu cho các công trình thì nên thu hồi giấy phép ngay.
Thứ ba, về công suất khai thác, Việt Nam có trữ lượng mỏ rất lớn nhưng công suất khai thác lại bị hạn chế bởi các định mức…
Tôi cho rằng các địa phương cần kiểm tra thực tế tất cả các mỏ. Nếu trữ lượng báo cáo không đúng thực tế, Sở Tài chính và các ngành chức năng phải vào cuộc ngay và thu hồi lại.
Thứ tư, về phương thức khai thác mỏ, theo tôi, khai thác âm mang lại khối lượng lớn và sau khai thác xong, sẽ tạo ra được những hồ điều hoà chống ngập lụt tạo cảnh quan sinh thái, hồ nước, cảnh quan môi trường đẹp.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank): Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Hội Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam và Tập đoàn BRG, tôi xin đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước như sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tài khóa, tiền tệ và phát triển tín dụng xanh.
Thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng. Tín dụng xanh cần trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Mặc dù dư nợ tín dụng xanh đã vượt 700.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm, nhưng mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ. Chúng tôi xin đề xuất Chính phủ:
Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời quy định rõ đối tượng, tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn hỗ trợ và cơ chế giám sát để bảo đảm minh bạch, hiệu quả, hạn chế trục lợi chính sách.
Tổ chức triển khai thống nhất Danh mục phân loại tín dụng xanh quốc gia; ban hành hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình xác nhận và cơ chế cập nhật danh mục. Đồng thời, cần nghiên cứu các công cụ hỗ trợ phù hợp cho tổ chức tín dụng, bao gồm cơ chế tái cấp vốn ưu đãi, chia sẻ rủi ro và huy động các nguồn vốn dài hạn trong nước và quốc tế.
Tăng cường phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và tổ chức tín dụng trong tuyên truyền, đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi xanh, ưu tiên doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ hai, phát triển mạnh thị trường bán lẻ trong nước thông qua nâng cao năng lực kết nối của doanh nghiệp sản xuất với chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối hiện đại.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục biến động do thuế quan và đứt gãy chuỗi cung ứng, phát huy sức cầu nội địa là giải pháp quan trọng để nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp khó trong việc đáp ứng tiêu chuẩn của hệ thống phân phối hiện đại, chi phí logistics cao và thiếu dữ liệu thị trường, dẫn đến mất cân đối cung – cầu.
Thực tiễn, nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng Việt chất lượng cao là rất lớn. Để khai thác hiệu quả dư địa này, cần một cơ chế kết nối đồng bộ giữa sản xuất và phân phối với sự hỗ trợ của Chính phủ. Vì vậy, tôi xin đề xuất Chính phủ:
Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển chuỗi cung ứng hàng Việt, liên kết xuyên suốt giữa sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng.
Ban hành cơ chế khuyến khích và đặt hàng các doanh nghiệp lớn tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã thông qua tư vấn tiêu chuẩn chất lượng, chuyển giao công nghệ, chia sẻ hạ tầng logistics, kết nối tiêu thụ và phát triển chuỗi cung ứng. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa và mở rộng sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, phát triển du lịch thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Du lịch là ngành kinh tế có sức lan tỏa lớn, tạo giá trị cho thương mại, bán lẻ, vận tải, lưu trú, văn hóa và nhiều ngành dịch vụ khác. Đây là dư địa rất lớn để thúc đẩy tăng trưởng. Mục tiêu của chúng ta là nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi lượt khách, cần phát triển mạnh các hệ sinh thái mua sắm, giải trí, dịch vụ lưu trú chất lượng cao và kinh tế đêm. Tuy nhiên, việc đầu tư và vận hành các tổ hợp thương mại, du lịch quy mô lớn vẫn còn nhiều vướng mắc về cơ chế và chính sách.
Vì vậy, tôi đề xuất Chính phủ nghiên cứu, thí điểm các cơ chế đặc thù đối với các tổ hợp thương mại, du lịch, vui chơi giải trí quy mô lớn, bao gồm:
Linh hoạt và đồng bộ hóa thể chế kinh tế đêm cho các tổ hợp vui chơi giải trí lớn. Địa phương tiên phong như Hà Nội đã ban hành Nghị quyết kinh tế đêm (tháng 6/2026) để phát triển thực chất kinh tế đêm, mở rộng không gian tiêu dùng và gia tăng chi tiêu của du khách.
Đơn giản hóa, đẩy nhanh quy trình hoàn thuế VAT tại chỗ cho khách quốc tế tại các trung tâm thương mại lớn, tạo thuận lợi và kích cầu mua sắm.
Nghiên cứu áp dụng cơ chế ưu đãi về thuế, phí phù hợp, xem xét điều chỉnh các chính sách thuế (như thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại hình dịch vụ giải trí, nghỉ dưỡng và thể thao cao cấp) nhằm nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong khu vực.
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là thách thức lớn, đồng thời là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước.
Về phía doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi cam kết đầu tư mạnh mẽ hơn, đổi mới sáng tạo quyết liệt hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững đồng hành cùng Chính phủ xây dựng một khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
![]() |
| Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham) Ko Tea Yeon - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham) Ko Tea Yeon: Tôi cảm ơn Chính phủ đã luôn duy trì cơ chế đối thoại cởi mở và mang tính xây dựng với cộng đồng doanh nghiệp chúng tôi. Chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn – Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy phát triển" của Hội nghị cho thấy Chính phủ Việt Nam quyết tâm xây dựng một nền kinh tế minh bạch, có sức cạnh tranh và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy động lực phát triển. Mặc dù kinh tế còn nhiều bất ổn, các doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục mở rộng đầu tư, củng cố chuỗi cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ và phương pháp quản trị tiên tiến, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cả về số lượng và chất lượng. Chúng tôi cũng nhận thấy có rất nhiều chương trình và chính sách đang được triển khai, nhiều doanh nghiệp tin tưởng vào việc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để có thể hoạt động kinh doanh hiệu quả tại đây.
Sau đây, chúng tôi xin chia sẻ một số ưu tiên.
Thứ nhất, cần bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo về chính sách, ghi nhận doanh nghiệp FDI là một bộ phận của nền kinh tế trong nước. Chúng ta cũng cần những quy định và cơ chế để cộng đồng doanh nghiệp cảm thấy được dẫn dắt, cùng với những quy định kịp thời và hướng dẫn thực hiện rõ ràng. Khi doanh nghiệp FDI được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy chứng nhận đầu tư, họ nên được tạo điều kiện hoạt động như một doanh nghiệp trong nước. Như vậy, doanh nghiệp có thể chủ động tuyển dụng đội ngũ quản lý, chuyên gia chủ chốt để tiếp tục chuyển giao công nghệ cũng như nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu. Trong vấn đề này, khả năng cạnh tranh không còn giới hạn trong nước nữa mà là cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thứ hai, nâng cao tính nhất quán và hiệu quả trong quá trình thực thi. Chính phủ đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do việc triển khai chính sách chưa thống nhất giữa các bộ, ngành và có sự khác biệt trong cách áp dụng chính sách ở các địa phương. Thời gian thông quan vẫn còn kéo dài, hoàn thuế giá trị gia tăng còn chậm, cũng như tình trạng thiếu hụt lao động ở một số khu công nghiệp và một số quy định phức tạp về môi trường. Chúng tôi thực sự mong các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, vì điều này sẽ có lợi cho cả doanh nghiệp và Chính phủ.
Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam để trở thành quốc gia dẫn đầu trong khu vực. Việc tiếp tục phát triển các ngành công nghệ cao đòi hỏi phải xây dựng vững chắc chuỗi cung ứng đối với các linh kiện và thành phần cấu thành sản phẩm. Do đó, chúng tôi khuyến nghị Chính phủ tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ nâng cấp ngành công nghiệp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ, phát triển doanh nghiệp cung ứng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, theo tinh thần hợp tác như một đội ngũ đoàn kết tại Việt Nam. Những nỗ lực này sẽ giúp gia tăng giá trị tạo ra trong nước, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chúng tôi ủng hộ tầm nhìn của Chính phủ theo Nghị quyết số 10 về xây dựng một nền kinh tế năng động, đổi mới sáng tạo và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mong muốn một môi trường kinh doanh thực sự minh bạch, ổn định và thực thi nhất quán, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư và biến Việt Nam thành một điểm đến tốt. Chúng tôi luôn cam kết tiếp tục đồng hành chặt chẽ cùng Chính phủ để hiện thực hóa tầm nhìn này.
![]() |
| Ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, nêu kiến nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam: Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam xin kiến nghị một số nội dung như sau:
Thứ nhất, Thiết lập cơ chế theo dõi, đôn đốc việc xử lý kiến nghị của doanh nghiệp. Cần có một đầu mối và hệ thống điện tử thống nhất, công khai tiến độ và xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời gian xử lý.
Thứ hai, tổ chức xử lý theo chuyên đề đối với các điểm nghẽn phổ biến về đất đai, về đầu tư xây dựng, về phòng cháy chữa cháy, về môi trường, tín dụng và hành chính thuế. Những vấn đề liên ngành cần có tổ công tác, thời gian giải quyết và quy trình liên thông, không để doanh nghiệp phải tự đi xin ý kiến của nhiều cơ quan.
Thứ ba, mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp thông qua cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và dữ liệu kinh doanh. Có gói vốn phù hợp, có thể tỉ lệ 1-2% tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng.
Thứ tư, rà soát chính sách tiền thuê đất theo hướng ổn định, phù hợp với đặc thù từng ngành. Đơn cử rất nhiều hội viên của chúng tôi tại các tỉnh thành, đặc biệt là Khánh Hòa và Ninh Thuận cũ, tiền thuê đất tăng từ 600 triệu giai đoạn 2016-2020 lên 4,3 tỷ trong giai đoạn 2021-2025 và 20,8 tỷ giai đoạn 2026-2030 (tức là gấp 35 lần so với thời gian đầu khi ký thuê đất với tỉnh). Tiền thuê đất đã chiếm 50% doanh thu thuần của doanh nghiệp trong năm 2025.
Hội kính đề nghị Thủ tướng chỉ đạo rà soát phương pháp, tỉ lệ và chu kỳ xác định đơn giá thuê đất, tránh việc điều chỉnh đột biến, vượt khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực du lịch và nghỉ dưỡng.
Thứ năm, đẩy nhanh thoái vốn Nhà nước tại những doanh nghiệp đã cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm quyền chi phối. Cần có lộ trình cụ thể, công khai, qua đó giải phóng được nguồn lực, tăng tính chủ động trong việc đầu tư phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
Đại diện các bộ, ngành, địa phương: Luôn đồng hành cùng doanh nghiệp
![]() |
| Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Đỗ Thành Trung cho biết thành phố Hải Phòng đã tập trung tháo gỡ 5 điểm nghẽn lớn cho doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Đỗ Thành Trung: Thay mặt thành phố Hải Phòng, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng", thể hiện sự đồng hành, chia sẻ và quyết tâm của Chính phủ trong việc tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, hiệu quả cho doanh nghiệp. Việc tổ chức hội nghị đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ đối với cộng đồng doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực, tạo động lực mới để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thành phố Hải Phòng luôn nhất quán quan điểm: Sự phát triển của doanh nghiệp là sự phát triển của Thành phố; sự thành công của doanh nghiệp cũng chính là thành công của Thành phố. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Thành phố đều hướng tới mục tiêu đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Trong thời gian vừa qua, thành phố Hải Phòng đã tập trung tháo gỡ 5 điểm nghẽn lớn cho doanh nghiệp:
Thứ nhất là tái định cư để phục vụ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn Thành phố. Thành phố đã chủ động xây dựng các khu tái định cư trước, ngay trong quy hoạch cũng như bố trí vốn, kể cả huy động vốn đầu tư từ các doanh nghiệp để thực hiện các khu tái định cư này. Việc này nhằm mục tiêu tạo ra quỹ đất sạch, bàn giao mặt bằng nhanh nhất cho doanh nghiệp sau khi đã di dời người dân và đầu tư hạ tầng tái định cư đồng bộ.
Thứ hai là mở rộng quyền tiếp cận đất đai cho các doanh nghiệp một cách nhanh nhất. Đặc biệt là đối với các chính sách thí điểm tháo gỡ khó khăn, tiếp cận nhà ở thương mại hay nhà ở xã hội và gần đây nhất là thực hiện các chính sách về nhà ở cho thuê.
Thứ ba là thực hiện chính sách về nhà ở cho công nhân. Bên cạnh việc đầu tư nhà ở xã hội, Thành phố tập trung đầu tư và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng khu lưu trú, trạm y tế cho công nhân ngay trong các khu công nghiệp. Qua đó, chúng tôi muốn tháo gỡ khó khăn để người lao động có thể vừa làm việc tại nhà máy, vừa sớm ổn định cuộc sống và an tâm công tác. Đi kèm với đó là hỗ trợ các chính sách liên quan đến giáo dục và đặc biệt là an sinh xã hội, từ việc trông trẻ mầm non từ 6 tháng tuổi trở lên, cho đến các chính sách khác liên quan đến miễn, giảm học phí, hỗ trợ sách giáo khoa và tổ chức các điểm học phù hợp ngay tại các khu công nghiệp, khu kinh tế.
Thứ tư là vai trò điều tiết của địa phương. Thành phố đã giao cho các sở ngành thường xuyên cùng với UBND Thành phố giải quyết ngay những khó khăn mà các doanh nghiệp đang gặp phải và không thể tự giải quyết được. Điển hình như việc huy động nguồn nhân lực, lao động, giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, hay phối hợp với cơ quan công an để đảm bảo an ninh trật tự. Những công tác này được Thành phố thường xuyên tổ chức thực hiện nhanh, gọn và phối hợp chặt chẽ để tháo gỡ cho doanh nghiệp.
Thứ năm là đào tạo nguồn nhân lực. Hiện nay, Thành phố đang triển khai một số nội dung để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó có các chương trình như 'thực sinh tại chỗ' trong các doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo, trao đổi thông qua các trường đại học, cao đẳng, đào tạo cho các kỹ sư và công nhân kỹ thuật cao.
Thành phố Hải Phòng sẽ cố gắng hết sức để đồng hành, tháo gỡ khó khăn, đặc biệt là chủ động phối hợp với các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư kinh doanh, vừa tháo gỡ, vừa hướng dẫn doanh nghiệp trên góc độ xem thành công của doanh nghiệp chính là thành công của Thành phố.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nêu 5 nhóm giải pháp trọng tâm để tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng: Tôi xin làm rõ thêm một số kết quả trọng tâm cũng như một số giải pháp, nhiệm vụ thời gian tới trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khơi thông nguồn lực, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Thực hiện đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đến nay, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, công tác xây dựng pháp luật đã được triển khai với tinh thần khẩn trương, đổi mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện trên hai nội dung nổi bật:
Thứ nhất là sự bứt phá về khối lượng và tiến độ lập pháp.
Chính phủ đã đề xuất đưa vào chương trình lập pháp năm 2026 44 dự án và đang tiếp tục đề xuất bổ sung nhiều dự án khác. Chỉ tính riêng tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đã thông qua 9 luật và 5 nghị quyết. Dự kiến tại kỳ họp thứ hai vào cuối năm nay sẽ xem xét thông qua khoảng 40 dự án luật và nghị quyết, tập trung vào các văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư. Đáng chú ý là trong 6 tháng đầu năm, Chính phủ và các bộ đã quyết liệt chỉ đạo xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết với tổng số 225 văn bản, tăng 1,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Cho thấy nỗ lực giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn.
Thứ hai là bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp.
Từ cách tiếp cận sửa đổi từng văn bản riêng lẻ chuyển sang rà soát, sửa đổi đồng bộ và tổng thể trên nhiều lĩnh vực cốt lõi như: đất đai, đầu tư, kinh doanh bất động sản, nhà ở, tài chính, thuế, trên lĩnh vực chuyển đổi số và dữ liệu. Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cách tiếp cận này nhằm tạo lập một hệ sinh thái pháp lý ổn định, dễ dự báo, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và chi phí tuân thủ, từ đó yên tâm để đầu tư.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã và đang trình Quốc hội các nghị quyết về cơ chế chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài và xử lý vi phạm liên quan đến đất đai, tài sản, kinh tế. Tư duy hoàn thiện pháp luật được quán triệt theo hướng kiến tạo phát triển, phân định rõ giữa hành vi tham nhũng trục lợi với những sai sót phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện nhưng không vụ lợi và vì lợi ích chung; tách bạch việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm với việc khơi thông nguồn lực bị ách tắc; và đặc biệt là không hình sự hóa các quan hệ dân sự kinh tế. Điều này không chỉ giúp giữ vững kỷ cương mà còn củng cố niềm tin của các nhà đầu tư về sự an toàn pháp lý tại Việt Nam.
Về cải cách thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, Chính phủ ban hành 11 nghị quyết về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong các lĩnh vực, kết quả đạt được đã vượt các yêu cầu đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương.
Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng tôi cũng thẳng thắn nhìn nhận còn những điểm nghẽn gây khó khăn cho hoạt động doanh nghiệp. Đó là tình trạng một số quy định còn chồng chéo, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết dẫn đến lúng túng trong áp dụng; cơ chế phản ứng chính sách trong một số trường hợp còn chậm; thực tế vẫn còn tình trạng "giấy phép con" núp bóng dưới dạng bổ sung hồ sơ, giấy tờ; việc liên thông dữ liệu giữa các cơ quan chưa thực sự thông suốt khiến doanh nghiệp phải kê khai một thông tin nhiều lần. Đặc biệt, tình trạng tâm lý "sợ sai, sợ trách nhiệm" của một bộ phận công chức đang hiện hữu, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý hồ sơ và niềm tin của doanh nghiệp. Đây là những vấn đề cần tập trung giải quyết trong thời gian tới.
Để tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp, Bộ Tư pháp xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm sau đây:
Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch. Theo đó sẽ tăng cường tham vấn ý kiến cộng đồng doanh nghiệp ngay từ giai đoạn sớm của chính sách; có lộ trình chuyển tiếp hợp lý đối với các chính sách mới, hạn chế tối đa các thay đổi đột ngột làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp; tập trung triển khai hiệu quả cơ chế thí điểm đánh giá chấm điểm KPI cho công tác xây dựng pháp luật.
Nâng cao chất lượng thẩm định chính sách. Kiên quyết không ban hành các quy định làm phát sinh thủ tục hành chính hoặc giấy phép nếu không thật sự cần thiết. Mọi dự thảo văn bản đều phải được đánh giá kỹ lưỡng về tính khả thi cũng như tác động thực tế đối với doanh nghiệp.
Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thực thi pháp luật. Bộ Tư pháp sẽ tham mưu Chính phủ tăng cường chỉ đạo, kiểm tra công tác tổ chức thi hành pháp luật tại các Bộ, ngành, địa phương; siết chặt kỷ cương trong xây dựng, ban hành kịp thời văn bản quy định chi tiết; thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh chóng và công khai kết quả xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp với mục tiêu rút ngắn khoảng cách từ văn bản đến thực tiễn cuộc sống.
Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện nghiêm việc số hóa quy trình, chia sẻ dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan nhà nước, bảo đảm không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin mà hệ thống và các cơ sở dữ liệu đã có.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm hài hòa giữa kỷ cương và phát triển. Ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả, cá nhân hóa rõ trách nhiệm để tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm khôi phục hoạt động sau khi đã khắc phục sai phạm.
![]() |
| Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn: Liên quan đến ý kiến của Vietcombank về vấn đề chi phí đối với cho vay hoặc bảo lãnh..., đương nhiên huy động vốn thì ngân hàng trong nước cũng phải vay vốn từ nước ngoài, nên chi phí phải tăng thêm. Tất nhiên, để có những chính sách đặc thù thì doanh nghiệp Việt Nam có thể trực tiếp làm việc với nhau để có cơ chế và Ngân hàng Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình ấy để xem xét.
Vietcombank nói ra nhiều vấn đề, trong đó chúng ta thấy thời gian vừa qua, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách lãi suất tương đối "vất vả" do nhu cầu vốn rất cao, trong lúc huy động vốn của nền kinh tế còn eo hẹp. Chúng ta tập trung vào tăng trưởng kinh tế, tập trung vào tín dụng, vì vậy khi thiếu hụt vốn thì đương nhiên lãi suất nâng cao. Mà lãi suất huy động đầu vào cao thì lãi suất đầu ra cao, như vậy trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Vì vậy trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước cố gắng bớt áp lực và các ngân hàng xác định không cạnh tranh huy động vốn lẫn nhau để đầu ra hợp lý.
Còn vấn đề huy động từ bên ngoài, Ngân hàng Nhà nước đang tính toán và chắc chắn phải có sự vào cuộc. Bộ Tài chính cũng sẽ căn cứ vào cơ sở đó, căn cứ vào nhu cầu vốn của nền kinh tế, cân đối cùng với Ngân hàng Nhà nước triển khai nội dung này.
Đối với vấn đề cho vay ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu để áp dụng một số đối tượng, nếu nhập khẩu để phục vụ cho đầu tư thì có thể nghiên cứu cho vay ngoại tệ. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu xem xét mở rộng đối tượng trong thời gian tới, có thể đưa vào áp dụng vấn đề này.
Về nguồn vốn ngân hàng hiện nay, chúng ta thấy huy động vốn ngắn hạn lên đến 80%, chỉ có 20% trung dài hạn. Cơ cấu nguồn vốn ngân hàng chủ yếu vẫn để cho vay ngắn hạn, nhưng trên thực tế nhu cầu vay trung dài hạn hiện nay của doanh nghiệp rất lớn. Việc này trong quá trình điều hành, từng tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm việc kiểm soát an toàn của chính mình. Vừa hỗ trợ được doanh nghiệp nhưng bảo đảm an toàn hệ thống.
Còn chính sách về nhận tài sản đảm bảo để doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng hoặc trái phiếu riêng lẻ, chúng tôi cũng đã báo cáo Chính phủ và tới đây sẽ đưa vào một trong những điều của Luật sửa đổi bổ sung Luật Tổ chức tín dụng. Sẽ cho quyền ngân hàng thương mại được lựa chọn thực hiện dịch vụ quản lý tài sản để phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Hy vọng đây cũng là một kênh để thị trường vốn phát triển, gánh đỡ bớt nhu cầu vốn trung dài hạn của doanh nghiệp.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm rõ một số kiến nghị của doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng: Bộ Nông nghiệp và Môi trường ý thức rằng, việc đẩy mạnh cải cách hành chính chắc chắn góp giúp đỡ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, doanh nhân trong việc giảm những vướng mắc, ách tắc, cản trở và áp lực trong quá trình đầu tư và phát triển của doanh nghiệp tại Việt Nam đối với cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.
Tại hội nghị hôm nay, ngành nông nghiệp môi trường nhận được 15 ý kiến có liên quan đến trách nhiệm và trách nhiệm phối hợp của ngành với các bộ ngành khác. Chúng tôi xin tiếp thu và sẽ có báo cáo giải trình đầy đủ với Thủ tướng Chính phủ và gửi đến các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nhân có ý kiến tại phiên họp này. Chúng tôi cũng mong muốn tiếp tục nhận được những ý kiến nhiều hơn nữa để đóng góp vào sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của ngành nói riêng và góp phần vào sự tăng trưởng của đất nước nói chung theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
iên quan đến khoáng sản nhóm 3, nhóm 2, nhóm 4, đã phân cấp ủy quyền cho cấp tỉnh. Hiện nay vật liệu xây dựng và vật liệu san lấp thông thường đã phân cấp ủy quyền, thủ tục gần như cắt giảm tuyệt đối, gần như không cần công bố quy hoạch, cũng không có đấu giá. Riêng khoáng sản nhóm 1, Bộ chỉ còn 1/3 thủ tục hành chính.
Khi tổ chức khai thác ở các mỏ, chúng ta phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch các loại mỏ. Trừ những đối tượng không nằm trong quy hoạch, còn lại chúng ta phải làm thăm dò.
Ví dụ như đất san lấp, sỏi cát, nhất là cát sỏi ở lòng sông, nếu như nới lỏng cho nạo vét, cho khai thác mà không bảo vệ được môi trường thì hậu quả rất lớn. Thu ngân sách từ việc khai thác này không được bao nhiêu mà chi ra rất lớn và các loại hình thiên tai vô cùng phức tạp.
Về kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến việc giao đất, Nhà nước chưa tính giá đất nhưng doanh nghiệp vẫn phải đóng 3,6% bổ sung mỗi năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp, đơn vị trực tiếp thực hiện là Bộ Tài chính. Thời gian tới sẽ có định hướng và sửa đổi đồng bộ với Luật Đất đai.
Việc xác định giá đất cũng đã định hướng trong luật. Các phương pháp xác định giá đất cơ bản là xây dựng bảng giá đất và nhân hệ số. Bốn phương pháp tính giá hiện tại đã cắt giảm gần hết, như là thặng dư, so sánh…
Về môi trường, hiện nay 100% lĩnh vực môi trường thuộc địa phương quản lý. Thủ tướng có nhắc nhở còn vướng mắc ở địa phương thì có thể do những ngày đầu mới triển khai, các địa phương cần có một vài tháng để triển khai thuần thục. Tất cả những địa phương nào có khó khăn, vướng mắc, ách tắc, cản trở trong quá trình hoạt động, Bộ sẵn sàng cử nhóm chuyên gia xuống hỗ trợ.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài: Thực tế các kiến nghị của doanh nghiệp liên quan chủ yếu đến đột phá thể chế để giải phóng các nguồn lực trong công nghiệp và thương mại. Theo Bộ Công Thương, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở thủ tục hành chính, mà còn liên quan đến phương thức quản lý. Trong nhiều lĩnh vực của ngành Công Thương, đơn cử như công nghiệp và năng lượng, cơ quan nhà nước vẫn tham gia sâu vào quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh; trong khi đối với doanh nghiệp, cần nhiều quyền chủ động hơn, cần một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo hơn để thực hiện hoạt động đầu tư.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung sửa các luật có liên quan như Luật Điện lực, Luật Dầu khí và các luật về công nghiệp; tập trung vào nội dung cốt lõi như: Xây dựng thể chế, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và kiểm soát đầu ra. Còn những vấn đề về đầu tư, xây dựng, lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất, quản trị doanh nghiệp thì cần giao cho doanh nghiệp chủ động quyết định và chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật.
Về nguyên tắc, Bộ Công Thương chỉ quản lý về quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn và đầu ra của các dự án điện lực. Còn thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế kỹ thuật hay chất lượng công trình và dự án công nghiệp và xây dựng, Bộ Công Thương cho rằng doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm.
Theo Bộ Công Thương, khi phương thức quản lý được thay đổi thì chi phí tuân thủ sẽ giảm và thời gian thực hiện dự án sẽ rút ngắn.
Đối với kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, chúng ta đảm bảo năng lượng cho phát triển đất nước nhưng phải với chi phí hợp lý. Đây là hai vấn đề cần đồng thời tuân thủ và nâng cao tính tự chủ về năng lượng quốc gia. Chúng tôi sẽ nghiên cứu các cơ chế doanh nghiệp đề xuất để xem xét, tiếp thu và hoàn thiện các luật có liên quan.
Tôi cũng mong muốn cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tăng cường liên kết, phát triển nguồn nhân lực và chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đặc biệt, khi Nhà nước trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực thực thi và chịu trách nhiệm đầy đủ về hiệu quả đầu tư, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trước pháp luật.
Bộ Công Thương xác định tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế là để giải phóng nguồn lực, khơi thông nguồn lực và nâng cao năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế. ục tiêu cuối cùng là xây dựng được một nền công nghiệp hiện đại, làm chủ được các ngành công nghiệp trọng điểm và đảm bảo năng lượng cho phát triển, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh làm rõ các nội dung được doanh nghiệp nêu - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Về quy trình lập điều chỉnh quy hoạch phân khu (1/2000) và quy hoạch chi tiết (1/500), pháp luật hiện nay đã có quy định và hướng dẫn rất cụ thể. Tại Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2025, việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện khi dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận và điều chỉnh chủ trương đầu tư. Việc này liên quan đến điều chỉnh làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất, tổ chức không gian cũng như hạ tầng trong khu vực dự án.
Về cải cách thủ tục, tại Luật 144/2025/QH15 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn) đã sửa đổi, bổ sung quy trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị, nông thôn theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình. Đặc biệt là đối với việc lập và điều chỉnh phê duyệt quy hoạch phân khu thì thực hiện đồng thời với điều chỉnh quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch chung đô thị nhằm tạo thuận lợi hơn trong quá trình triển khai dự án.
Còn tại sao quy hoạch chi tiết 1/500 là quy hoạch để thực hiện các dự án tại các vị trí, các khu vực cụ thể, việc này phải được tách riêng chứ không thể làm đồng thời cùng với quy hoạch phân khu và quy hoạch chung.
Về hướng dẫn sử dụng tro, xỉ làm vật liệu xây dựng, pháp luật bảo vệ môi trường và Nghị định 209/2026/NĐ-CP đã quy định rõ việc sử dụng các vật liệu từ chất thải. Hiện đã có đầy đủ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn để sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng.
Bộ Xây dựng cũng đã ban hành đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng, san lấp, tạo cơ sở cho việc tái sử dụng các chất thải rắn ở khu công nghiệp.
Về nhà ở tái định cư tồn đọng và mở rộng tiếp cận cho thuê nhà ở thương mại, đối với phản ánh liên quan đến việc chuyển đổi nhà ở phục vụ tái định cư sang nhà ở xã hội hoặc đấu giá theo Nghị định 95/2024/NĐ-CP, chúng tôi xin tiếp thu ý kiến này. Bộ Xây dựng sẽ trình cơ quan có thẩm quyền xem xét để sửa đổi, bổ sung việc chuyển đổi công năng nhà ở trong Luật Nhà ở năm 2023.
Xin thông tin thêm, tính đến 6h chiều ngày hôm qua (17/7), tồn đọng của bất động sản thương mại (loại hình cho thuê 50 năm) trên toàn quốc hiện nay là 22.300 căn hộ các loại. Tới đây, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục đất đai. Cùng với Luật Nhà ở và Luật Đất đai (sửa đổi), cần có hướng xử lý để giải quyết các điểm nghẽn, tháo gỡ cho toàn bộ hệ thống bất động sản tồn đọng cho đến thời điểm hiện nay.
Về cơ chế công bố giá và định mức xây dựng, thời gian qua, Bộ Xây dựng đã làm việc hết sức tích cực và chia sẻ với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc công bố giá này là trách nhiệm của Sở Tài chính các địa phương. Với vai trò quản lý nhà nước, chúng tôi đã hoàn thành và đưa lên hệ thống thông tin 16.600 định mức mới cho tất cả các ngành thuộc lĩnh vực xây dựng. Ngoài ra, bổ sung thêm 14.200 định mức để lập đơn giá cho tất cả các loại hình hệ thống đường sắt.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung: Hội nghị hôm nay có ý nghĩa rất quan trọng nhưng chúng tôi thấy rằng vắng bóng phần liên quan tới công tác liên kết của các doanh nghiệp ta ở trong nước, cũng như tham gia vào các thị trường ở bên ngoài. Việc này chưa phản ánh đúng thực tế là doanh nghiệp ta hiện nay tham gia với quy mô ngày càng lớn, lĩnh vực ngày càng nhiều, có chiều sâu và cũng đã chủ động hơn trong các hình thức đầu tư và thương mại bên ngoài.
Một điểm quan trọng nữa là hiện nay ta coi hội nhập quốc tế là một trọng yếu thường xuyên. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm tạo điều kiện trong các buổi làm việc với các đối tác và kể cả trong các cơ chế chính sách thời gian tới.
Điểm thứ hai là, mặc dù có khó khăn nhưng trong thời gian tới chúng ta sẽ có điều kiện thuận lợi. Ngoài những chính sách của Nhà nước, đối với các doanh nghiệp, chúng ta có được quan hệ tốt và tin cậy. Chính phủ cũng tạo điều kiện để chúng ta có thể tham gia trong tất cả các lĩnh vực và tất cả các hình thức doanh nghiệp hợp tác đầu tư thương mại. Đấy là thuận lợi rất lớn, không phải nước nào cũng có được điều kiện tham gia trong khi thế giới đang chuyển đổi các chuỗi cung ứng hoặc công nghệ.
Tôi xin đề xuất một số thực tế.
Thứ nhất là đối với các tập đoàn, doanh nghiệp: Hiện nay Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện và các bộ ngành đã đồng hành với doanh nghiệp trong từng trường hợp. Tôi kiến nghị các doanh nghiệp đưa ra những đề nghị cụ thể về xác định rõ thị trường, đối tác, dự án và kết quả mong muốn khi làm việc với các cơ quan đại diện của ta.
Thứ hai, các doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ năng lực, thông tin pháp lý, tài chính, tiến độ và vướng mắc cần xử lý khi có những vấn đề nảy sinh. Nhiều khi thông tin để xử lý rất vắn tắt thì rất khó. Ngay cả những doanh nghiệp khi nảy sinh và đề nghị Thủ tướng hoặc các cấp lãnh đạo can thiệp, nhưng thông tin cung cấp thì chưa nhiều và đôi khi chưa nhanh.
Thứ ba là doanh nghiệp cần chủ động bố trí nguồn lực để triển khai đến cùng sau khi được kết nối. Tôi thấy chỉ một số doanh nghiệp làm, còn phần lớn các doanh nghiệp sau khi kết nối xong không có phản hồi lại tình hình như thế nào. Có một thực tế là nhiều doanh nghiệp bạn nói là sau khi gặp gỡ xong, chốt xong thì không thấy tiếp tục kết nối liên lạc.
Thứ tư là các doanh nghiệp cố gắng tận dụng các đầu mối chung (các hiệp hội ngành hàng và các tập đoàn) thay vì rời rạc.
Thứ năm là xác định đúng những trọng tâm thay vì cho yêu cầu dàn trải.
Về phía chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ về cơ chế thông tin, về chính trị, kết nối. Sắp tới sẽ tăng cường cơ chế trao đổi giữa các cơ quan đại diện và các bộ, ngành, các hiệp hội. Tôi rất mong các hiệp hội sẽ tham gia.
Đồng thời, chúng tôi sẽ cùng với các bộ, ngành nâng cấp hệ thống thông tin về tình hình thương mại, các quy định, luật lệ, đầu tư ở bên ngoài của doanh nghiệp.
Cuối cùng là về thực hiện các cam kết, đề nghị các doanh nghiệp coi trọng vấn đề thực hiện các cam kết. Đây là một điều rất quan trọng đối với lãnh đạo của Chính phủ. Chúng tôi dự kiến sắp tới sẽ bàn với VCCI đánh giá tình hình thực hiện các MOU của doanh nghiệp. Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành thực hiện đánh giá các thực hiện cam kết quốc tế từ năm 2021 đến nay, sắp tới có lẽ các doanh nghiệp cũng phải đánh giá. Và theo chỉ đạo của Bộ Chính trị là không khuyến khích doanh nghiệp ký các MOU mà không có thực chất, nhất là trong các chuyến thăm cấp cao.
![]() |
| Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hồ Sỹ Hùng - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hồ Sỹ Hùng: Có gần 900 ý kiến nêu vấn đề cụ thể tại các địa bàn cụ thể của các tập đoàn, doanh nghiệp và hiệp hội trong nước cũng như quốc tế, VCCI đã tổng hợp thành 53 nhóm vướng mắc thuộc 10 lĩnh vực và đã được Bộ Tài chính tổng hợp.
Chúng tôi xin nhấn mạnh thêm tại hội nghị này 5 vấn đề mà hiện nay các doanh nghiệp đang rất băn khoăn:
Thứ nhất, sự bất định của thể chế đang trở thành một loại chi phí vô hình nhưng rất lớn. Điểm nghẽn được phản ánh nhiều nhất là khoảng trống pháp lý khi văn bản cũ đã bị bãi bỏ trước khi văn bản thay thế có hiệu lực, đồng thời pháp luật thay đổi tần suất cao mà thiếu độ mượt của quá trình chuyển tiếp. Tức là doanh nghiệp rơi vào tình thế nếu tuân thủ cái cũ thì vướng, mà không tuân thủ thì coi là vi phạm, vô tình rơi vào rủi ro pháp lý rất lớn.
Thứ hai, dòng tiền đang bị ách tắc ở nhiều khâu, đặc biệt là vấn đề hoàn thuế. Trong báo cáo của Bộ Tài chính có nêu đã xử lý, tuy nhiên số ít doanh nghiệp vẫn rất khó khăn khi bị "giam" khoản thuế này, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng đầu vào. Nhiều doanh nghiệp đang là nạn nhân của đối tác bỏ trốn nhưng lại bị tạm dừng quyền hoàn thuế dù giao dịch là có thật. Vì không có hóa đơn đầu vào nên hiện nay bị treo.
Thứ ba, tư duy tiền kiểm vẫn đè nặng và chi phí tuân thủ. Ví dụ như thực phẩm đã đạt chuẩn quốc tế thì vẫn bị quản lý như nhóm nguy cơ cao, gây tốn kém và chậm trễ. Hóa chất nhập khẩu cũng bị ách tắc tại cảng vì chưa có giấy phép, trong khi do cổng thông tin một cửa quốc gia bị lỗi, phát sinh các chi phí lưu kho bãi khá lớn.
Thứ tư, sự thiếu lưu thông và chồng chéo trong pháp luật, tạo ra những vòng lặp vô tận. Một dự án cụ thể phải trình song song cả chủ trương đầu tư, quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường mà không có một đầu mối. Quá trình chuyển đổi số có nơi vẫn chưa đạt được kết quả cuối cùng, tức là vẫn bắt chạy song song cả hồ sơ giấy kèm theo.
Thứ năm, nguồn lực cho đổi mới sáng tạo thực tế cũng chưa được khơi thông rõ ràng và vẫn thiếu cơ chế chấp nhận rủi ro thực chất. Tín dụng vẫn dựa vào bất động sản thế chấp. Chúng tôi mong muốn ngân hàng đồng hành cùng hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp.
53 điểm nghẽn mà báo cáo VCCI có nêu có thể gói gọn trong một điểm là: Chúng ta vẫn có thể thông suốt được nguồn lực, nhưng hiệu quả đầu ra tổng thể vẫn chưa cao và vẫn bị hao mòn bởi các chi phí của sự không chắc chắn.
Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao tinh thần cầu thị và tốc độ phản hồi của các bộ ngành. Trong báo cáo đã có 51/53 kiến nghị mà VCCI tổng hợp có ý kiến phản hồi của các bộ ngành.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các phản hồi, VCCI nêu 3 vấn đề chính gồm:
Thứ nhất, chủ yếu các phản hồi vẫn nêu về điều luật và quy định, trong khi tỉ lệ đáng kể phản hồi trong số 900 vấn đề cụ thể đó chỉ ra rằng vướng mắc không nằm ở chính sách mà nằm ở khâu thực thi. Điển hình như tình trạng nộp hồ sơ giấy song song mà trong báo cáo Bộ Tài chính cũng đã thẳng thắn khẳng định, pháp luật không yêu cầu và nguyên nhân xuất phát là từ khâu thực thi công vụ tại một số cơ quan tiếp nhận. Đây là một thực tế đặt ra câu hỏi lớn mong các cấp bộ ngành và các địa phương cần quan tâm hơn. Nếu chính sách đã đúng mà doanh nghiệp vẫn khổ, vẫn khó, ảnh hưởng khâu thực thi, chúng ta không nên ban hành quá nhiều văn bản vào đặc điểm này.
Thứ hai, vẫn còn đến 17 kiến nghị mới dừng ở mức là ghi nhận, nghiên cứu, tiếp thu. Với doanh nghiệp, ghi nhận là cần thiết nhưng vẫn chưa phải là kết quả cuối cùng. Nhiều doanh nghiệp mong muốn có cam kết về lộ trình và thời gian.
Thứ ba, với các vấn đề liên ngành, mỗi bộ chỉ trả lời phần theo thẩm quyền riêng của mình. Tuy nhiên, doanh nghiệp lại phải tự loay hoay chắp nối các mảnh giữa các bộ với nhau và kẹt ở giữa. Đây là một vấn đề thực tế rất rõ.
Từ đó, VCCI kiến nghị tập trung vào 3 nhóm giải pháp để gỡ vướng mắc:
Thứ nhất, không dừng ở sửa chính sách mà phải bảo đảm thực thi ở bên dưới, có lộ trình và có kết quả định hiện. Cụ thể có hai hoạt động đề xuất các bộ, địa phương nên có một cơ chế đo lường thực thi tại chính quyền ở cấp tiếp nhận, gồm chỉ số hài lòng của doanh nghiệp, đường dây phản hồi trực tiếp và chế tài đối với những người thực thi. Đó là cơ sở để chúng ta đánh giá thực thi ở bên dưới.
VCCI hiện đang phối hợp với một số địa phương triển khai các chỉ số DDCI, tức là chỉ số đánh giá sự thực thi ở cấp dưới của các sở ngành. Kết quả mang lại sự hài lòng và tăng trưởng của cộng đồng doanh nghiệp.
Thứ hai, mỗi kiến nghị trong 53 nhóm đã được Bộ Tài chính tổng hợp cần được gắn với một cơ quan chủ trì, một người chịu trách nhiệm, một thời hạn và một kết quả đo lường được về sự thay đổi. VCCI kiến nghị chúng ta làm theo định hướng này.
Thứ ba, giải quyết đồng bộ các vướng mắc liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Đây là nhóm khó nhất, liên quan đến cả luật đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường… hay là chồng chéo giữa các bộ. VCCI mong muốn, với mỗi vấn đề sẽ có một cơ quan chủ trì duy nhất và xuyên suốt đến kết quả cuối cùng theo nguyên tắc: Một đầu mối, một quy trình và một kết quả cho doanh nghiệp.
Ngoài ba nhóm về gỡ vướng mắc, VCCI cũng đề xuất hai nhóm liên quan đến tăng trưởng:
Một là, cần có các hoạt động tạo cầu cho doanh nghiệp, nhất là trong thời điểm hiện nay như tháo gỡ các thủ tục xuất khẩu, mở rộng thị trường thông qua các hiệp định thương mại tự do để hỗ trợ xuất khẩu.
Hai là, có cơ chế tạo sự liên kết thực sự. Hiện nay, cơ chế liên kết có, chính sách hiện nay không sai nhưng chưa hỗ trợ cho sự liên kết này.
Liên quan đến Nghị định 132 về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, đối với quản lý thuế đối với giao dịch có liên kết, nếu quản lý chặt như hiện nay và không có sự kết nối giữa các doanh nghiệp với nhau thì không thể làm được, không thể hỗ trợ được địa bàn khó khăn.
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước là các tập đoàn lớn, phải phát huy vai trò là người mua lớn, "đại bàng" lớn. Doanh nghiệp FDI cam kết về nội địa hóa và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải chủ động tham gia vào các chuỗi của mình. VCCI cam kết sẽ làm tốt hơn vai trò cầu nối và tham gia xây dựng chính sách, minh bạch hóa khâu thực thi.
Phải chuyển mạnh từ nhận diện, tháo gỡ khó khăn sang hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển
![]() |
| Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu kết luận Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận nhiều ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng cao, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp rất trăn trở với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp mình nhưng đồng thời cũng vì lợi ích chung của đất nước.
Theo tổng hợp, có 53 nhóm khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, trong đó các kiến nghị đã được xử lý triệt để còn ít. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương giải quyết dứt điểm ngay những nội dung thuộc thẩm quyền và đã đủ căn cứ pháp lý; những vấn đề cơ chế, chính sách cần sửa đổi hoặc vượt thẩm quyền phải đề xuất phương án xử lý, báo cáo cấp có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất.
Thủ tướng khẳng định, tất cả những trả lời phản ánh kiến nghị của doanh nghiệp phải được công khai và sẽ được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, VCCI để cộng đồng doanh nghiệp, người dân đánh giá những phản ánh kiến nghị đã được xử lý thỏa đáng chưa, đã đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp hay chưa.
"Vẫn có tình trạng khi doanh nghiệp hỏi thì các bộ trả lời là theo khoản này, điều này của luật này, nghị định này, thông tư này, đề nghị doanh nghiệp căn cứ quy định pháp luật triển khai; chúng tôi cho rằng cách làm việc đó cũng tốt nhưng chưa hiệu quả và chưa đi được đến cùng. Công khai là phương pháp tốt nhất để chúng ta vừa giám sát và vừa đánh giá hiệu quả, các bộ, địa phương không thể trả lời chung chung được nữa và cũng thấy trách nhiệm của chính mình trong việc phải xử lý đến cùng", Thủ tướng bày tỏ.
Đối với các phản ánh kiến nghị chưa được xử lý thỏa đáng, VCCI tiếp tục tổng hợp, gửi lên các bộ, cơ quan của Chính phủ để được giải quyết, bảo đảm quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp. VCCI xây dựng cơ chế, như định kỳ hàng tháng hoặc đột xuất khi cần thiết tổng hợp các phản ánh kiến nghị của doanh nghiệp, gửi các bộ, cơ quan của Chính phủ để kịp thời xử lý. Văn phòng Chính phủ bổ sung nội dung xử lý kiến nghị của doanh nghiệp vào phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng.
Thủ tướng đánh giá rất cao những ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, trong đó có nội dung liên quan phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án năng lượng, điện, nhất là điện gió, điện mặt trời, du lịch, vật liệu xây dựng.
"Tất cả những vấn đề này, Chính phủ đều đã nhận thấy đang có những khó khăn và đang chỉ đạo. Quan trọng nhất là quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch và được hiểu một cách thống nhất, được triển khai một cách đồng bộ từ các bộ, ngành cho đến các địa phương", Thủ tướng cho biết và nhấn mạnh quan điểm "đồng hành cùng doanh nghiệp; tăng trưởng được hay không là các doanh nghiệp cố gắng".
Đánh giá về những kết quả đạt được thời gian qua, Thủ tướng cho rằng cả 3 khu vực doanh nghiệp: Nhà nước, tư nhân và FDI đều có bước phát triển mạnh mẽ và chuyển biến tích cực.
Lũy kế đến hết tháng 6 năm 2026, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng quy mô vốn đăng ký đạt trên 30 triệu tỷ đồng, đóng góp hơn 60% GDP, thu hút trên 17,6 triệu lao động, cộng đồng doanh nghiệp đã khẳng định là lực lượng chủ yếu trong phát triển kinh tế, đóng góp 55% tổng thu ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Những kết quả này là nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số - chúng ta cần bước đột phá mạnh mẽ hơn, đặc biệt, cần phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp đầu tàu, doanh nghiệp công nghệ cao trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để tạo năng suất mới, giá trị gia tăng mới và sức bật mới cho nền kinh tế.
Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn những tồn tại, hạn chế: (1) Với doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng, tiến độ đầu tư còn chậm, liên kết với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế. (2) Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu nhỏ và vừa; năng lực vốn, quản trị, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu còn hạn chế. (3) Với doanh nghiệp FDI, liên kết nội địa lỏng lẻo, chuyển giao công nghệ và nội địa hóa chưa cao. (4) Môi trường kinh doanh còn nhiều rào cản, không chỉ trong các luật, thể chế mà còn từ việc thực thi của bộ, ngành, chính quyền địa phương; thị trường vốn, lao động, khoa học công nghệ chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. (5) Các doanh nghiệp chưa chủ động đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện thể chế; ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp chưa cao.
![]() |
| Thủ tướng nêu rõ 6 nhóm nhiệm vụ với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thủ tướng nêu rõ: Chính phủ xác định phát triển doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược quốc gia. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, ổn định, minh bạch; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh tinh thần cốt lõi của Hội nghị là: Chuyển mạnh từ nhận diện, tháo gỡ khó khăn sang hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển; từ đối thoại sang hành động quyết liệt; từ cam kết sang kết quả thực chất, cụ thể, có địa chỉ, có thời hạn – tất cả hướng tới hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số một cách bền vững.
"Thể chế không còn là điểm nghẽn nhưng thể chế là nền tảng kiến tạo phát triển mạnh mẽ hơn thì vẫn phải tiếp tục hoàn thiện thời gian tới", Thủ tướng nói.
Thủ tướng đề nghị các ngành, các cấp, chính quyền địa phương hành động với tinh thần "khẩn trương – quyết liệt – hiệu quả – không né tránh – không đùn đẩy". Kết quả cuối cùng phải được doanh nghiệp cảm nhận rõ rệt qua giảm thời gian, chi phí tuân thủ, tăng cường lòng tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh của đất nước, đóng góp trực tiếp, thiết thực vào tăng trưởng.
![]() |
| Đại diện các doanh nghiệp dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
6 nhóm nhiệm vụ với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương
Để hiện thực hóa tinh thần trên, Thủ tướng đề nghị tập trung thực hiện quyết liệt các nhóm nhiệm vụ.
Đối với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng chỉ rõ, thứ nhất, tiếp tục tập trung tháo gỡ, xây dựng hoàn thiện thể chế và cải cách thực chất, mạnh mẽ hơn nữa thủ tục hành chính, đây là nền tảng cho kiến tạo phát triển thời gian tới.
Các bộ khẩn trương hoàn thiện các dự án luật, trình Quốc hội tại các kỳ họp trong năm 2026, đặc biệt là Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng chống rửa tiền và Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Phát triển đô thị; Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; các luật về thuế (sửa đổi), Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đấu thầu, Luật Đấu giá.
Lưu ý một số nội dung, Thủ tướng cho biết Chính phủ yêu cầu các dự án luật có nghị định, thông tư hướng dẫn phải được trình kèm, công bố công khai để các doanh nghiệp, người dân đóng góp ý kiến.
Cùng với đó, các bộ, ngành cần đặc biệt lưu ý việc xây dựng đầy đủ quy định về điều khoản chuyển tiếp, khi cơ quan chức năng chưa kịp ban hành hướng dẫn thì tiếp tục thực hiện các quy định hiện hành đến khi có văn bản thay thế, không để khoảng trống pháp lý, không để tình trạng doanh nghiệp không biết thực hiện theo quy định nào.
Mặt khác, khi các bộ, ngành xử lý các vướng mắc của doanh nghiệp thì không chỉ thông báo cho doanh nghiệp mà phải gửi cho tất cả các bộ, ngành khác và 34 tỉnh, thành phố để sau này có vấn đề tương tự thì doanh nghiệp không phải gặp khó khăn với địa phương, bộ, ngành khác nữa. "Có rất nhiều cách làm có thể đổi mới như vậy để có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức cho doanh nghiệp và chính quyền các cấp", Thủ tướng nhấn mạnh.
Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát toàn diện các quy định về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, đấu thầu, thuế, hải quan và kiểm tra chuyên ngành; chủ động xử lý ngay các vướng mắc thuộc thẩm quyền; dứt khoát chấm dứt quy định chồng chéo, thủ tục hành chính bất hợp lý, các cách hiểu khác nhau và thái độ né tránh trách nhiệm. Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, các địa phương và VCCI phải phối hợp rất chặt chẽ trong quá trình thực hiện và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo để rà soát, xử lý.
Lấy ví dụ về những điểm chồng chéo trong Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước hiện hành, Thủ tướng cho rằng với việc hợp nhất hai luật này, "tới đây quy trình chỉ có một, thủ tục phải rất công khai, minh bạch thì các bộ cũng dễ thực hiện và chính quyền địa phương cũng hiểu thống nhất".
Đồng thời, phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thực chất theo 11 nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các lĩnh vực đủ điều kiện; đẩy nhanh số hóa, liên thông dữ liệu. Người đứng đầu các cơ quan phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm cá nhân nếu để hồ sơ quá hạn hoặc phát sinh thủ tục ngoài quy định.
![]() |
| Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc điều hành nội dung kiến nghị của doanh nghiệp tại Hội nghị- Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thủ tướng nêu rõ, đây là quá trình liên tục, Bộ Tư pháp thực hiện vai trò gác cửa, tăng cường kiểm tra, giám sát; các bộ, ngành cắt giảm thủ tục, điều kiện nhưng không được lồng vào các tiêu chuẩn, quy chuẩn, nếu phát sinh việc này thì Bộ trưởng các bộ và Bộ Tư pháp cũng phải chịu trách nhiệm; VCCI phải hết sức lắng nghe và kịp thời truyền tải ý kiến doanh nghiệp.
Thứ hai, khơi thông các nguồn lực về vốn, đất đai và đầu tư; bảo đảm dòng tiền cho sản xuất kinh doanh.
Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan tiếp tục phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp; ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn. Khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7/2026. Thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Tài chính quốc tế tại TPHCM và Đà Nẵng.
Bộ Tài chính, các địa phương tập trung tháo gỡ dứt điểm vướng mắc đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư; khẩn trương rà soát, phân loại và xử lý dứt điểm các dự án chậm triển khai, kéo dài, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, không để đất đai, tài sản và nguồn lực tiếp tục bị lãng phí, quan trọng là phải triển khai trên thực tế, có kết quả cuối cùng. Đồng thời, các bộ, ngành và chủ đầu tư xử lý hoàn thuế kịp thời, thanh quyết toán vốn đầu tư công và các nghĩa vụ thanh toán của Nhà nước; không để doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn do sự chậm trễ của cơ quan quản lý. Xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp về quy định buộc người sử dụng đất nộp khoản tiền bổ sung 3,6% mỗi năm cho khoảng thời gian Nhà nước chưa xác định được giá đất cụ thể; cấp giấy phép lao động, visa…
Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kiểm soát tốt lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng với doanh nghiệp và điều hành hạn mức tăng trưởng tín dụng với các tổ chức tín dụng một cách linh hoạt. Hoàn thiện Đề án tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trình Chính phủ trong tháng 7.
Thứ ba, giảm chi phí cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các bộ, ngành tiếp tục rà soát, cắt giảm chi phí logistics, kiểm tra chuyên ngành và các chi phí tuân thủ không cần thiết; thực hiện quản lý rủi ro, giảm kiểm tra chồng chéo, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu. Mọi chính sách mới phải được đánh giá đầy đủ tác động đến chi phí và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp; hạn chế tối đa việc phát sinh thêm gánh nặng tuân thủ. Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và VCCI phối hợp thường xuyên đánh giá thực chất việc cắt giảm chi phí tuân thủ.
Bộ Công Thương chủ trì đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Hiệu quả xúc tiến phải được đo bằng hợp đồng, đơn hàng và thị phần thực tế của doanh nghiệp Việt Nam. Bộ Ngoại giao tăng cường chỉ đạo các đại sứ, Bộ Công Thương tăng cường chỉ đạo các thương vụ nâng cao hiệu quả công tác này, phải "đeo bám" từng thị trường, từng mặt hàng, đánh giá hiệu quả bằng KPI.
Bộ Công Thương thực hiện có hiệu quả Chương trình Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030 đã được phê duyệt; khẩn trương đề xuất Chương trình "Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam", trình cấp có thẩm quyền trong tháng 7/2026.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng lực lượng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới. Đặc biệt, cần xác định và phát huy vai trò của các doanh nghiệp dẫn dắt trong từng ngành, lĩnh vực then chốt trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số toàn diện, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chuỗi giá trị số và trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, khu vực. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa viện, trường, doanh nghiệp và các bộ ngành, địa phương trong giải các bài toán lớn, phát triển công nghệ chiến lược.
![]() |
| Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng điều hành các bộ, ngành giải đáp, làm rõ các kiến nghị của doanh nghiệp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Các bộ, ngành, địa phương tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình phát triển doanh nghiệp tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp một người; tạo điều kiện để hình thành nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung hoàn thành đúng tiến độ, hiệu quả Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ năm, phát huy vai trò của từng khu vực doanh nghiệp và tăng cường liên kết thực chất.
Doanh nghiệp nhà nước phải phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược; đi đầu trong đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng và tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải trở thành doanh nghiệp dẫn dắt thực thụ về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện Phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước và đẩy mạnh cổ phần hóa, báo cáo cấp có thẩm quyền trong tháng 8/2026 và báo cáo đề án tái cơ cấu SCIC; Bộ Công Thương xây dựng Đề án tái cấu trúc Tập đoàn Điện lực Việt Nam phù hợp với thị trường điện cạnh tranh, báo cáo trong quý III/2026.
Doanh nghiệp tư nhân phải trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; được tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội đầu tư, đấu thầu và mua sắm công, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân lớn, doanh nghiệp công nghệ cao cần phát huy vai trò dẫn dắt, đi đầu trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong tháng 7/2026: Bộ Tài chính trình Chính phủ dự án Luật phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi); Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) …
Thu hút đầu tư nước ngoài phải chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng; gắn ưu đãi đầu tư với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tỉ lệ nội địa hóa và phát triển doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng. Bộ Tài chính khẩn trương trình cấp có thẩm quyền ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong tháng 7/2026.
Các bộ, ngành khẩn trương xây dựng, thực hiện cơ chế liên kết thực chất giữa ba khu vực doanh nghiệp thông qua các chương trình hợp tác, dự án, hợp đồng và đơn hàng cụ thể; lấy kết quả liên kết, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng tạo ra trong nước làm thước đo hiệu quả, làm tiêu chí để có các chính sách khuyến khích và ưu đãi.
![]() |
| Thủ tướng và các đại biểu dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc |
Thứ sáu, nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện và kỷ luật hành chính
Thủ tướng cho biết thời gian qua, Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành cơ bản đầy đủ chủ trương, thể chế, chính sách tháo gỡ cơ bản các điểm nghẽn, cắt giảm quy mô lớn các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Theo đó, trong thời gian tới cần tập trung vào hoàn thiện thể chế kiến tạo phát triển và công tác thực thi.
Thủ tướng yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra và chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng, trước Chính phủ về kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc chờ hướng dẫn đối với những vấn đề pháp luật đã quy định rõ.
Thủ tướng cho biết, cấp có thẩm quyền và Chính phủ sẽ tiến hành theo thẩm quyền việc sắp xếp, bố trí, thay thế một số vị trí cán bộ theo kết quả làm việc.
Các cơ quan phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; phân cấp, phân quyền nhưng phải đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, tránh gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp và VCCI, Thủ tướng nêu rõ, Chính phủ coi cộng đồng doanh nghiệp là đối tác tin cậy, lực lượng xung kích trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp: Phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, đổi mới sáng tạo; chủ động nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh; tuân thủ nghiêm pháp luật, nâng cao trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng văn hóa kinh doanh; chủ động tham gia các chuỗi liên kết sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế; ưu tiên sử dụng nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ và công nghệ trong nước.
Các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn, tổng công ty lớn đẩy nhanh tiến độ các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, phát huy vai trò dẫn dắt trong đầu tư hạ tầng, ngành nền tảng, công nghiệp chiến lược, nghiên cứu và phát triển; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào các dự án, chuỗi cung ứng và thị trường do doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt. Bộ Tài chính nghiên cứu giao cơ chế giao trách nhiệm cho các doanh nghiệp nhà nước gắn kết với các doanh nghiệp trong nước.
Các doanh nghiệp tư nhân cần chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, quản trị, chất lượng sản phẩm, năng lực tài chính và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Các tập đoàn tư nhân lớn cần phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, lan tỏa công nghệ và kỹ năng số, trở thành hạt nhân của chuỗi giá trị số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; chủ động tích cực tham gia giải các bài toán lớn của bộ ngành, địa phương.
Các doanh nghiệp FDI thực hiện tốt các cam kết về nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng Việt Nam; chủ động đầu tư hình thành, mở rộng các trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm thiết kế, đổi mới sáng tạo, đào tạo kỹ thuật và quản trị tại Việt Nam.
Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện Thông báo kết luận của Hội nghị. Thông báo phải cụ thể hóa từng nhiệm vụ, xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn hoàn thành, kết quả đầu ra và cơ chế theo dõi, đôn đốc, đánh giá. Đồng thời, Văn phòng Chính phủ lên kế hoạch để các Phó Thủ tướng Chính phủ có các cuộc làm việc chuyên đề để xử lý các vấn đề cụ thể theo các lĩnh vực được doanh nghiệp kiến nghị.
Thủ tướng tin tưởng rằng, với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và tinh thần đổi mới, khát vọng vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta sẽ nỗ lực khơi thông hiệu quả mọi nguồn lực, biến khó khăn thành động lực, biến thách thức thành cơ hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong năm 2026, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới./.
Theo Báo Điện tử Chính phủ
-
TỔNG THUẬT: Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp
-
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại công viên Lê Thị Riêng
-
Đẩy nhanh triển khai Nghị quyết 70, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
-
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng thăm, tặng quà gia đình chính sách tại Đồng Tháp và Cần Thơ
-
Sửa đổi Luật Dầu khí: Mở rộng không gian phát triển ngành công nghiệp - năng lượng



























