Ôtô điện tràn vào: Đang chạy chết đứng, dân Việt ai dám xài

09:35 | 24/08/2016

|
Khả năng tích điện còn thấp, hầu hết chỉ chạy được khoảng 150 km phải nạp điện, thời gian nạp kéo dài 4-7 giờ. Trong khi Việt Nam chưa có các trạm xạc rất có thể đang chạy xe bất ngờ chết đứng nên rất khó xài ở Việt Nam.

Tham vọng ô tô điện

Tập đoàn Mai Linh tháng 4/2016 đã ký kết hợp đồng mua 100 chiếc ôtô chạy điện của hãng Renault (Pháp) về kinh doanh taxi. Những chiếc xe điện này có công suất 95 mã lực, đạt vận tốc tối đa 135 km/h, chạy được 200 km trên một lần sạc. Ưu điểm của dòng xe này là không gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nhiên liệu.

Phía Mai Linh cho biết, xe chạy 100km tiêu hao điện trị giá chỉ 1 USD. Vì thế, trong 5 năm tới, Mai Linh dự kiến sẽ thay thế khoảng 10.000 đến 20.000 ô tô chạy điện để làm taxi. Giải pháp lắp ráp xe trong nước đang được cân nhắc. Đây là một trong những dự án tham vọng nhất của tập đoàn kể từ ngày đầu thành lập.

Ông Kenichi Horinouchi, Tổng giám đốc Mitsubishi Motors Việt Nam, tiết lộ vào năm 2017, hãng sẽ đưa ô tô điện vào phân phối tại Việt Nam.

tin nhap 20160824092938
Ô tô điện ngày càng được ưa chuộng ở các nước.

Ô tô điện của Mitsubishi Motors, ngoài động cơ điện, vẫn được trang động cơ xăng, tuy nhiên bản chất của nó là một chiếc xe điện với động cơ điện hoạt động chính và động cơ xăng chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ. Trong 60 km đầu, xe hoàn toàn sử dụng điện. Chiếc xe này có thể nạp điện ngay tại gia đình.

Ông Kenichi Horinouchi cũng đề cập đến khả năng sẽ lắp ráp dòng xe này tại Việt Nam để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á.

“Hiện chúng tôi đang đàm phán với Chính phủ để được hưởng ưu đãi với ô tô điện. Nếu được chấp nhận, sản phẩm này sẽ chỉ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 15%. Như vậy, nhập khẩu nguyên chiếc từ Nhật Bản về sẽ có giá tương đương với xe chạy xăng cùng loại và góp phần thúc đẩy thị trường ô tô điện tại Việt Nam” - ông Kenichi nói.

Thời gian qua, cũng có một số đối tác nước ngoài đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội phát triển ô tô điện. Trung tâm Phát triển EV thuộc Viện Nghiên cứu kỹ thuật công nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản) năm 2014 đã sang Việt Nam tìm kiếm đối tác. Trung tâm này có công nghệ cải tạo xe ô tô thường thành ô tô điện, trọng tải nhẹ để chở khách và chở hàng hóa. Bên cạnh đó là chế tạo xe tải chạy bằng điện.

Theo đánh giá của Giám đốc Trung tâm, ông Sato Kazunobu, thì xe ô tô chạy 100% điện sẽ tiết kiệm được 15% chi phí, so với sử dụng xăng. Nhu cầu sử dụng xe ô tô chạy bằng điện ở các nước đang tăng mạnh, do dầu thô ngày càng cạn kiệt và giảm tác động đến môi trường.

tin nhap 20160824092938
Cuộc chạy đua làm chủ công nghệ giao thông thế kỷ 21, nhằm thoát khỏi sự ràng buộc của dầu mỏ, đang ngày càng quyết liệt.

Việt Nam chưa quan tâm?

Dầu thô ngày càng cạn kiệt và những đe dọa và môi trường là hai yếu tố quan trọng khiến xu hướng chuyển sang sử dụng ôtô điện ngày càng nhiều. Kết quả nghiên cứu mới tại châu Âu cho thấy, năm 2026, thói quen mua xe ô tô sẽ có một bước chuyển lớn, sang dòng xe điện, trong đó, thị trường tiềm năng nhất thuộc về châu Á - Thái Bình Dương.

Chẳng hạn tại Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất thế giới, thì xe điện đang tiến triển rất tốt. Các thành phố lớn của Trung Quốc một mặt đặc biệt khuyến khích người dân mua xe xanh, mặt khác kiểm soát ngày càng chặt chẽ xe sử dụng động cơ đốt trong. Một lãnh đạo của Honda gần đây dự đoán, đến năm 2025, công ty sẽ không thể bán được chiếc xe nào tại Trung Quốc, nếu không điện hoá.

Tuy nhiên, ô tô điện hiện chưa đáp ứng được những đòi hỏi của người tiêu dùng về mặt công nghệ. Khả năng tích điện của sản phẩm còn thấp, hầu hết các xe chỉ chạy được khoảng 150 km là phải nạp điện, thời gian nạp kéo dài 4-7 giờ và giá còn đắt so với ôtô chạy xăng.

tin nhap 20160824092938
Mẫu BMW i3 chạy điện được nhập khẩu nguyên chiếc về Việt Nam.

Nhưng công nghệ ô tô điện đang phát triển rất nhanh, pin ngày càng có khả năng tích điện nhiều hơn và thời gian sạc nhanh hơn. Các dự báo cho thấy chỉ 10 năm nữa, đa số ô tô điện có thể chạy tới 400 km cho mỗi lần sạc và thời gian sạc giảm còn dưới 1 giờ. Ngoài ra, ô tô điện sẽ có khả năng giao tiếp tốt với con người qua smartphone và rất được giới trẻ ưa chuộng. Khi đó, thị trường sẽ rất tiềm năng.

Trong khi làn sóng nghiên cứu ô tô điện đang nổi lên mạnh mẽ trên thế giới, thì tại Việt Nam, vẫn thiếu sự quan tâm thích đáng của các nhà làm chính sách. Đến nay, chưa có một nghiên cứu nào thực sự bài bản, khoa học và mang tính hệ thống về ô tô điện. Nếu chỉ giới hạn suy nghĩ trong lĩnh vực ô tô, thì chẳng nhìn thấy gì.

Các nhà khoa học cho biết xu hướng ô tô điện tràn vào Việt Nam là khó tránh khỏi. Ô tô điện phát triển đồng nghĩa với nhu cầu dùng điện tăng. Cân bằng cung - cầu năng lượng sẽ là vấn đề quan trọng. Một lưới điện thông minh là không thể thiếu, nếu muốn quản lý tối ưu việc phân phối năng lượng đại trà. Điều này, chưa thấy cơ quan nào đề cập tới.

Công nghiệp ôtô điện cần 4 công nghệ cơ bản là tích lũy điện, máy điện, máy đổi điện và kỹ thuật điều khiển. Nếu mở rộng cho cả ngành công nghiệp, khi ô tô điện phát triển, khi điện trở thành nguồn năng lượng chính, lúc đó thị trường pin, động cơ điện và các máy đổi điện sẽ vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thiếu các chính sách ưu đãi và phát triển cơ sở hạ tầng cho ô tô điện, có thể thấy Việt Nam vẫn đứng ngoài "dòng chảy" này.

Cuộc chạy đua làm chủ công nghệ giao thông thế kỷ 21, nhằm thoát khỏi sự ràng buộc của dầu mỏ, đang ngày càng quyết liệt.

Nước Mỹ chi hơn 2,4 tỷ USD cho nghiên cứu ô tô điện mỗi năm, chủ yếu cải tiến nguồn năng lượng và hệ thống truyền động.

Châu Âu chuộng dòng xe plug-in hybrid.

Ở châu Á, Nhật sớm ấp ủ những nghiên cứu ô tô điện 100% (ZEV), tập trung vào hệ thống điều khiển và nguồn năng lượng. Hàn Quốc và Trung Quốc khai thác triệt để công nghệ truyền tải điện không dây với các loại xe bus nạp điện từ dưới đất tại trạm dừng. Mới đây nhất, Campuchia đã chế tạo được một chiếc ZEV (chiếc Angkor EV 2014), điều khiển bằng smartphone và công nghệ nhận dạng sóng vô tuyến RFID.

Trần Thủy

Vietnamnet

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 56,800 ▲100K 57,600 ▲100K
AVPL / DOJI HN buôn 56,800 ▲100K 57,600 ▲100K
AVPL / DOJI HCM lẻ 56,700 57,500
AVPL / DOJI HCM buôn 56,700 57,500
AVPL / DOJI ĐN lẻ 56,750 ▲150K 57,700 ▲100K
AVPL / DOJI ĐN buôn 56,750 ▲150K 57,700 ▲100K
Nguyên liêu 9999 - HN 50,180 ▼170K 50,380 ▼170K
Nguyên liêu 999 - HN 50,130 ▼170K 50,330 ▼170K
AVPL / DOJI CT lẻ 56,700 57,500
AVPL / DOJI CT buôn 56,700 57,500
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 50.400 ▼200K 51.400 ▼200K
TPHCM - SJC 56.400 ▼100K 57.300
Hà Nội - PNJ 50.400 ▼200K 51.400 ▼200K
Hà Nội - SJC 56.700 57.600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 50.400 ▼200K 51.400 ▼200K
Đà Nẵng - SJC 56.400 ▼100K 57.300
Cần Thơ - PNJ 50.400 ▼200K 51.400 ▼200K
Cần Thơ - SJC 56.400 ▼100K 57.300
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 50.300 ▼200K 51.200 ▼200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.100 ▼400K 50.900 ▼400K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 36.930 ▼300K 38.330 ▼300K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.530 ▼230K 29.930 ▼230K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 19.920 ▼170K 21.320 ▼170K
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 4,960 ▼25K 5,110 ▼25K
Vàng trang sức 999 4,950 ▼25K 5,100 ▼25K
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,040 ▼25K 5,120 ▼25K
Vàng NL 9999 5,025 ▼30K 5,105 ▼30K
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,690 5,780
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,710 ▲20K 5,770 ▲10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,705 ▼10K 5,765 ▼5K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,070 5,170
Vàng NT, TT Nghệ An 5,070 5,170
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 56,450 ▲100K 57,100 ▲100K
SJC 5c 56,450 ▲100K 57,120 ▲100K
SJC 2c, 1C, 5 phân 56,450 ▲100K 57,130 ▲100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 50,300 ▼100K 51,200 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 50,300 ▼100K 51,300 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 49,900 ▼100K 50,900 ▼100K
Nữ Trang 99% 49,096 ▼99K 50,396 ▼99K
Nữ Trang 68% 32,765 ▼68K 34,765 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 19,377 ▼42K 21,377 ▼42K
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,059 ▼23K 5,129 ▼23K
NHẪN TRÒN TRƠN 5,059 ▲39K 5,129 ▼11K
VÀNG TRANG SỨC; BẢN VỊ; THỎI; NÉN 5,010 ▼4989K 5,120 ▲38K
QUÀ MỪNG BẢN VỊ VÀNG 5,059 ▲49K 5,129 ▼1K
VÀNG TRANG SỨC 5,000 ▼10K 5,110 ▲5110K
VÀNG HTBT 5,000 ▼701K ▼5769K
VÀNG MIẾNG SJC 5,710 ▲730K 5,765 ▲5765K
VÀNG NGUYÊN LIỆU 4,950 ▲4950K
Cập nhật: 28/09/2021 17:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,133.12 16,296.08 16,807.16
CAD 17,568.38 17,745.84 18,302.39
CHF 23,965.68 24,207.76 24,966.97
CNY 3,455.59 3,490.50 3,600.51
DKK - 3,514.07 3,646.10
EUR 25,936.39 26,198.38 27,286.23
GBP 30,388.59 30,695.55 31,658.23
HKD 2,852.26 2,881.07 2,971.43
INR - 307.70 319.78
JPY 200.05 202.07 211.63
KRW 16.66 18.51 20.29
KWD - 75,538.98 78,504.22
MYR - 5,388.49 5,502.18
NOK - 2,590.19 2,698.28
RUB - 313.32 349.13
SAR - 6,055.77 6,293.48
SEK - 2,560.15 2,666.98
SGD 16,383.33 16,548.82 17,067.83
THB 597.80 664.22 689.17
USD 22,640.00 22,670.00 22,870.00
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,261 16,361 16,911
CAD 17,746 17,846 18,396
CHF 24,221 24,326 24,826
CNY - 3,484 3,594
DKK - 3,525 3,655
EUR #26,158 26,183 27,203
GBP 30,668 30,718 31,678
HKD 2,850 2,865 3,000
JPY 200.09 200.59 209.09
KRW 17.39 18.19 20.99
LAK - 2.11 2.56
NOK - 2,595 2,675
NZD 15,639 15,722 16,009
SEK - 2,582 2,632
SGD 16,325 16,425 17,025
THB 621.22 665.56 689.22
USD #22,642 22,662 22,862
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,451
USD, (5,10,20) 22,451
USD,50-100 22,650 22,670 22,860
JPY 201.15 201.06 210.07
AUD 16,064 16,284 16,884
CAD 17,543 17,747 18,349
GBP 30,465 30,708 31,611
CHF 24,024 24,271 24,873
SGD 16,444 16,531 17,132
EUR 26,087 26,292 27,294
CNY - 3,465 3,595
HKD - 2,795 2,995
THB 648 655 705
MYR - 5,366 5,520
KRW - 22.00
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,670 22,670 22,870
USD(1-2-5) 22,457 - -
USD(10-20) 22,625 - -
GBP 30,534 30,718 31,768
HKD 2,869 2,890 2,962
CHF 23,995 24,140 24,900
JPY 200.47 201.68 209.67
THB 640.36 646.83 703.67
AUD 16,241 16,339 16,826
CAD 17,651 17,758 18,322
SGD 16,458 16,558 17,044
SEK - 2,573 2,649
LAK - 1.95 2.41
DKK - 3,526 3,630
NOK - 2,604 2,680
CNY - 3,476 3,578
RUB - 284 363
NZD 15,685 15,779 16,104
KRW 17.22 - 20.98
EUR 26,166 26,237 27,248
TWD 743.26 - 841.33
MYR 5,098.03 - 5,577.61
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,670.00 22,680.00 22,860.00
EUR 26,234.00 26,399.00 26,891.00
GBP 30,706.00 30,891.00 31,479.00
HKD 2,874.00 2,886.00 2,966.00
CHF 24,183.00 24,280.00 24,872.00
JPY 202.07 202.88 207.28
AUD 16,234.00 16,299.00 16,817.00
SGD 16,575.00 16,642.00 16,973.00
THB 656.00 659.00 696.00
CAD 17,770.00 17,841.00 18,212.00
NZD 0.00 15,729.00 16,173.00
KRW 0.00 18.41 20.20
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.660 22.700 22.875
AUD 16.306 16.406 16.916
CAD 17.788 17.888 18.297
CHF 24.315 24.415 24.829
EUR 26.372 26.472 26.937
GBP 30.849 30.949 31.358
JPY 201,96 203,46 208,36
SGD 16.570 16.670 16.980
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,671,000 5,671,000 5,729,000
USD(50,100) 22,667 22,687 23,140
USD(5, 10, 20) 22,647 22,687 23,140
USD(1,2) 22,647 22,687 23,140
EUR 26,333 26,433 26,945
GBP 30,818 30,918 31,634
JPY 201.68 202.68 207.73
CAD 17,673 17,723 18,477
AUD 16,336 16,436 16,945
SGD 16,521 16,621 17,129
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 28/09/2021 17:45
  • pvgas