Biên bản ghi nhớ dầu khí Ukraine - Mỹ: "Sấm to mưa nhỏ"?
![]() |
| Naftogaz đã ký biên bản ghi nhớ với Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm thu hút vốn, công nghệ và chuyên môn của các doanh nghiệp Mỹ vào hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại Ukraine. (Ảnh minh họa) |
Thỏa thuận được ký ngày 26/10/2026, thiết lập khuôn khổ hợp tác giữa hai bên nhưng chưa xác định doanh nghiệp tham gia, mỏ dầu khí cụ thể, quy mô vốn đầu tư hay thời gian triển khai. Do đó, đây mới là bước mở đường cho hợp tác đầu tư, chưa phải một dự án đã được cam kết tài chính.
Theo Naftogaz, các lĩnh vực hợp tác tiềm năng bao gồm thăm dò chung, hoạch định chiến lược, tối ưu hóa nguồn tài nguyên và sản lượng, đồng đầu tư và chuyển giao công nghệ. Quyền Tổng Giám đốc Naftogaz Serhii Fedorenko đánh giá các doanh nghiệp Mỹ có thế mạnh về công nghệ, chuyên môn và năng lực đầu tư trong lĩnh vực dầu khí.
Nhu cầu thu hút vốn và công nghệ nước ngoài của Ukraine ngày càng cấp thiết trong bối cảnh sản lượng khí trong nước suy giảm do các cuộc tấn công của Nga.
Ukraine khai thác khoảng 19 tỷ m³ khí trong năm 2024, nhưng sản lượng giảm còn khoảng 16,97 tỷ m³ trong năm 2025, tương đương mức giảm 10-11%. Để bù đắp thiếu hụt, nước này phải tăng mạnh nhập khẩu khí lên khoảng 6,3-6,5 tỷ m³ trong năm 2025, cao gấp khoảng 9 lần năm 2024. Riêng Naftogaz nhập khẩu hơn 5,7 tỷ m³.
Các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng cũng gây thiệt hại đáng kể. Trong giai đoạn cao điểm đầu năm 2025, gần một nửa sản lượng khí của các doanh nghiệp nhà nước đã tạm thời bị mất do các cuộc không kích.
Bên cạnh đó, chi phí nhập khẩu khí theo giá thị trường gây áp lực lên tài chính của Naftogaz, trong khi Ukraine cần công nghệ và nguồn vốn để khôi phục, phát triển ngành dầu khí.
Thỏa thuận mới cũng nằm trong bối cảnh hợp tác đầu tư tái thiết Ukraine giữa hai nước. Trước đó, ngày 30/4/2025, Mỹ và Ukraine đã ký thỏa thuận thành lập Quỹ Đầu tư Tái thiết Mỹ - Ukraine (URIF), bao gồm các lĩnh vực dầu mỏ, khí đốt và LNG. Theo cơ chế này, Ukraine dành 50% doanh thu từ các giấy phép khai thác khoáng sản và hydrocarbon mới cho quỹ.
Những điều kiện để biến thỏa thuận thành dự án đầu tư
Dù biên bản ghi nhớ mở ra cơ hội tiếp cận thị trường dầu khí Ukraine, việc thu hút vốn thực tế vẫn phụ thuộc vào các điều kiện đầu tư, đặc biệt là cơ chế cấp phép, chính sách thuế, khả năng thu hồi vốn, bảo hiểm rủi ro xung đột và bảo đảm pháp lý.
Kinh nghiệm trước đây cho thấy những rủi ro này không thể xem nhẹ. Năm 2013, Shell và Chevron từng ký các thỏa thuận phân chia sản phẩm (PSA) để phát triển khí đá phiến tại các khu vực Yuzivska và Oleska. Tuy nhiên, cả hai tập đoàn sau đó đều rút khỏi các dự án mà chưa đưa vào khai thác.
Hiện nay, hoạt động đầu tư còn đối mặt với tình trạng thiếu bảo hiểm trước rủi ro xung đột, các hạn chế phát sinh từ thiết quân luật và những lo ngại về quản trị tại các doanh nghiệp năng lượng nhà nước.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), khí đốt Ukraine có thể trở thành một trụ cột năng lượng trong giai đoạn hậu chiến, nhưng các nhà đầu tư tư nhân có thể tiếp tục thận trọng nếu không có những bảo đảm cụ thể từ Mỹ đối với rủi ro đầu tư.
Các dấu hiệu quan trọng cần theo dõi trong thời gian tới gồm việc Naftogaz công bố đối tác Mỹ đầu tiên, tổ chức đấu thầu giấy phép khai thác, ký thỏa thuận PSA hoặc liên doanh cụ thể, cũng như khả năng có sự hỗ trợ bảo hiểm và bảo lãnh rủi ro chính trị từ Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế Mỹ (DFC).
Tính đến ngày 4/11/2026, Naftogaz chưa công bố doanh nghiệp Mỹ, mỏ dầu khí, quy mô vốn hay tiến độ đầu tư cụ thể. Việc đưa các nhà đầu tư tiềm năng vào đàm phán sẽ là bước tiếp theo để chuyển khuôn khổ hợp tác thành các dự án thực tế.
Nh.Thạch
AFP
-
Biên bản ghi nhớ dầu khí Ukraine - Mỹ: "Sấm to mưa nhỏ"?
-
Mỹ - Iran chưa tìm được lối thoát: Giá dầu sẽ ra sao?
-
Permian sẽ trở thành trung tâm khai thác khí đốt lớn nhất nước Mỹ?
-
Giá nhiên liệu cao khiến cử tri Mỹ quay lưng với đảng Cộng hòa
-
EU duy trì lệnh trừng phạt, chưa tính tới việc mua lại khí đốt Nga

