Tin tức nổi bật ngày 21/10: Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện 5 bậc
Bộ Công Thương đề xuất sớm áp dụng biểu giá điện 5 bậc
Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Theo đề xuất, cơ cấu biểu giá bán lẻ điện mới sẽ được áp dụng ngay khi quyết định sửa đổi có hiệu lực, thay vì phải chờ đến lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân tiếp theo. Cùng thời điểm, khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường mới theo Quyết định số 963 của Bộ Công Thương cũng được áp dụng.
Một nội dung đáng chú ý trong dự thảo là đề xuất bãi bỏ Điều 6 về điều khoản chuyển tiếp của Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg, đồng thời bỏ điều kiện gắn thời điểm áp dụng biểu giá mới với lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân tiếp theo.
Theo Bộ Công Thương, việc áp dụng cơ cấu biểu giá mới không đồng nghĩa với điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân, mức giá này vẫn được giữ nguyên ở mức 2.204,0655 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT).
Hiện nay, giá điện sinh hoạt vẫn được tính theo 6 bậc lũy tiến. Theo cơ cấu được đề xuất tại Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg, biểu giá điện sinh hoạt được rút xuống còn 5 bậc, đồng thời điều chỉnh khoảng tiêu thụ và tỷ lệ giá ở từng bậc.
Cụ thể, bậc 1 áp dụng cho mức tiêu thụ từ 0 đến 100 kWh, giá điện bằng 90% giá bán lẻ điện bình quân; bậc 2 từ 101 đến 200 kWh, bằng 108%; bậc 3 từ 201 đến 400 kWh, bằng 136%; bậc 4 từ 401 đến 700 kWh, bằng 162%; bậc 5 từ 701 kWh trở lên, bằng 180%.
Việc thiết kế lại các bậc giá khiến mức giá áp dụng cho phần điện tiêu thụ từ 401 đến 700 kWh và trên 700 kWh cao hơn so với cơ cấu hiện hành, do đó, số tiền điện mỗi hộ phải trả sẽ thay đổi tùy theo lượng điện sử dụng, dù giá bán lẻ điện bình quân không tăng.
Theo tính toán sơ bộ của Bộ Công Thương, khách hàng sinh hoạt sử dụng dưới 777 kWh/tháng chiếm khoảng 94% tổng số khách hàng và khoảng 73% tổng sản lượng điện sinh hoạt. Nhóm khách hàng này có thể được giảm tiền điện khi áp dụng biểu giá mới, trong đó mức giảm lớn nhất được ghi nhận ở nhóm sử dụng khoảng 400 kWh/tháng.
Với hộ sử dụng 778 kWh/tháng, tiền điện dự kiến tương đương mức hiện hành, trong khi đó, hộ sử dụng 1.182 kWh/tháng, mức tiêu thụ bình quân của nhóm khách hàng dùng trên 700 kWh/tháng, có thể phải trả thêm gần 190.000 đồng mỗi tháng.
Bộ Công Thương cho rằng, với cơ cấu biểu giá mới, phần lớn khách hàng sinh hoạt không phải trả thêm tiền điện; phần chi phí tăng thêm chủ yếu do nhóm khách hàng có mức tiêu thụ điện cao nhất chi trả. Tuy nhiên, các mức thay đổi nêu trên mới là kết quả tính toán sơ bộ trong hồ sơ dự thảo, không phải mức tăng hoặc giảm cố định áp dụng cho từng hộ gia đình. Tiền điện thực tế còn phụ thuộc vào lượng điện tiêu thụ và cơ cấu giá được ban hành chính thức.
Ngoài biểu giá điện sinh hoạt, dự thảo còn đề cập việc áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường mới đối với khách hàng sản xuất, kinh doanh dịch vụ; làm rõ mức giá áp dụng với khách hàng sản xuất mua điện từ cấp điện áp 220 kV trở lên và điều chỉnh thời hạn áp dụng giá điện đối với hoạt động sạc xe điện.
Bộ Công Thương cho biết, việc sửa đổi nhằm bảo đảm cơ cấu biểu giá bán lẻ điện và khung giờ sử dụng điện được triển khai đồng bộ với các quy định đã ban hành.
Thời điểm áp dụng chính thức sẽ được xác định sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định sửa đổi. Trong thời gian chờ quyết định có hiệu lực, biểu giá điện sinh hoạt hiện hành vẫn được áp dụng theo quy định.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm tối thiểu 0,5% lãi suất tiết kiệm
Ngày 21/10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại quyết liệt giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật, Thống đốc NHNN cùng các cấp có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ này.
Theo đó, NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại quán triệt trong toàn hệ thống ngân hàng, trên tất cả các kênh bán hàng tổ chức triển khai quyết liệt giảm thực chất lãi suất huy động và cho vay theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại cuộc họp ngày 19/10 và công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10.
Ngân hàng thương mại thực hiện giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong các tháng cuối năm 2026 so với mức lãi suất của chính ngân hàng thương mại tại kỳ báo cáo ngày 11/10/2026 - 20/10/2026.
Để theo dõi các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong việc giảm thực chất lãi suất tiền gửi và cho vay, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi số liệu lãi suất bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới trong các tháng cuối năm 2026 của các ngân hàng thương mại thông qua hệ thống báo cáo thống kê tại công văn số 6194/NHNN-DBTK ngày 7/8/2023 về việc yêu cầu thực hiện báo cáo lãi suất của các giao dịch phát sinh mới.
"Trường hợp ngân hàng thương mại không thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm cả việc xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng", công văn của Ngân hàng Nhà nước nêu.
Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6% kế hoạch
Bộ Tài chính cho biết, số giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 15/10/2026 là 660.739,5 tỷ đồng, đạt 64,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Theo báo cáo, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2026 đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022.607 tỷ đồng, bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 372.380,4 tỷ đồng và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng. Tổng số vốn còn lại thuộc thẩm quyền của Chính phủ chưa giao (so với số Quốc hội quyết định) là 83.216,4 tỷ đồng (vốn NSTW).
Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật trên Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) về đầu tư công đến thời điểm báo cáo) là 48.948,6 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng) là 1.071.555,6 tỷ đồng.
Tổng số vốn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án là 1.060.512,3 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 361.337,1 tỷ đồng, vốn NSĐP là 699.175,2 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng 48.948,6 tỷ đồng, tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 1.011.563,7 tỷ đồng, đạt 98,9% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng).
Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 11.043,2 tỷ đồng vốn NSTW (chiếm 1,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao) của 05 bộ, cơ quan trung ương và 20 địa phương chủ yếu chưa phân bổ do: Dự kiến giao cho các dự án khởi công mới chưa đủ thủ tục đầu tư, chưa được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Vốn chương trình mục tiêu quốc gia, các trường biên giới, vốn giao bổ sung kế hoạch vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8/2026 cho các địa phương chưa được phân bổ chi tiết cho các dự án do đang hoàn thiện thủ tục đầu tư; Đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu để điều chuyển cho bộ, cơ quan và địa phương có nhu cầu sử dụng.
Theo Bộ Tài chính, số giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 08/10/2026 là 652.125,4 tỷ đồng, đạt 63,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; Số giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 15/10/2026 là 660.739,5 tỷ đồng, đạt 64,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Quy hoạch 6 tuyến đường sắt mới tại Hà Nội
Bộ Xây dựng đang thẩm định, xem xét phê duyệt Quy hoạch các tuyến, ga đường sắt khu vực đầu mối thành phố Hà Nội, trong đó, quy hoạch chi tiết 6 tuyến xây mới qua địa bàn thành phố, đồng thời đề xuất tiêu chuẩn kĩ thuật hiện đại áp dụng cho các tuyến.
Dự thảo quy hoạch đề xuất quy hoạch chi tiết 11 tuyến đường sắt quốc gia; 39 ga đường sắt gồm 4 ga đầu mối và 35 ga trung gian, kỹ thuật; tổ hợp công nghiệp; các nút giao đường sắt với đường sắt, đường bộ với đường sắt.
Trong đó, 5 tuyến đường sắt hiện có tổng chiều dài trong phạm vi nghiên cứu khoảng 179km: Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lào Cai và Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh.
6 tuyến xây mới có tổng chiều dài khoảng 298km, gồm: Vành đai phía Đông (Ngọc Hồi - Thường Tín - Kim Sơn); Vành đai phía Tây (Thạch Lỗi - Tây Hà Nội - Ngọc Hồi, Thường Tín); đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh và Hà Nội - Đồng Đăng.
Về tiêu chuẩn kỹ thuật, cả 6 tuyến xây mới đều được đề xuất sử dụng đường đôi, khổ ray 1.435mm. Trong đó, hai tuyến tốc độ cao Bắc - Nam và Hà Nội - Quảng Ninh thuộc cấp đặc biệt; tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Đồng Đăng thuộc cấp 1; hai tuyến vành đai phía Đông và phía Tây thuộc cấp 3.
Tốc độ thiết kế tối đa được đề xuất là 350km/h với tuyến tốc độ cao Bắc - Nam; từ 200km/h trở lên với tuyến Hà Nội - Quảng Ninh; 160km/h với hai tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Đồng Đăng; 120km/h với hai tuyến vành đai. Tải trọng trục tuyến Hà Nội - Quảng Ninh là 17 tấn/trục, 5 tuyến còn lại là 22,5 tấn/trục.
Đối với 5 tuyến hiện hữu, dự thảo định hướng nâng cấp, cải tạo nhằm duy trì khai thác an toàn. Các đề xuất về mạng lưới và tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ là cơ sở định hướng đầu tư, phát triển đường sắt khu vực đầu mối Hà Nội, đáp ứng nhu cầu vận tải và tăng cường kết nối giữa Thủ đô với các vùng.
Phú Văn
-
VPBank giảm 1,5% lãi suất cho vay, đồng hành cùng khách hàng bứt phá tăng trưởng
-
Lợi nhuận quý III lập kỷ lục mới, Techcombank tiếp tục bứt phá mạnh mẽ
-
ĐBQH Trần Hoàng Ngân: Tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, tạo dư địa phát triển cho ngành điện
-
Tin tức nổi bật ngày 20/10: Thúc đẩy chuyển đổi xanh ngành cơ khí - điện
-
Tin tức nổi bật ngày 19/10: Xuất khẩu cà phê Việt Nam lập kỷ lục 8,5 tỷ USD


