Giá hydrogen xanh sản xuất ở Việt Nam cao gấp 2,5-4,5 lần hydrogen xám
Thị trường 500.000 tấn hydrogen/năm vẫn phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch
Theo phân tích của PGS. Phạm Hoàng Lương, giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam tại Diễn đàn “Năng lượng sạch cho kỷ nguyên tăng trưởng mới” ngày 27/10, thị trường hydrogen Việt Nam hiện có quy mô khoảng 500.000 tấn/năm, nhưng gần như toàn bộ sản lượng được sản xuất từ than và khí tự nhiên, chủ yếu phục vụ ngành phân bón và lọc hóa dầu.
![]() |
| PGS. Phạm Hoàng Lương: Khoảng cách giá thành đang là rào cản kinh tế lớn nhất đối với hydrogen xanh. |
Trong nhóm sản xuất, Đạm Phú Mỹ có sản lượng hydrogen khoảng 97.500 tấn/năm, Đạm Cà Mau đạt 89.700 tấn/năm; hai nhà máy đạm này đều sản xuất từ khí tự nhiên. Trong khi Đạm Hà Bắc và Đạm Ninh Bình sản xuất từ than, lần lượt đạt 68.300 tấn/năm và đạt 60.900 tấn/năm. Trong lĩnh vực lọc hóa dầu, Nghi Sơn đạt khoảng 138.000-139.000 tấn/năm, còn Dung Quất đạt 39.000 tấn/năm, đều sản xuất từ lọc hóa dầu (khử lưu huỳnh).
Tuy nhiên, hydrogen tại Việt Nam hiện chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ ngay trong từng tổ hợp công nghiệp. Việc lưu trữ, vận chuyển giữa các cơ sở còn hạn chế, chưa hình thành hệ thống phân phối hydrogen trên quy mô rộng. Nhu cầu từ các ngành như thép, xi măng, điện tử và chế biến thực phẩm vẫn ở mức nhỏ.
Việt Nam hiện chưa có dự án hydrogen xanh lục hoặc hydrogen xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành. Một số sáng kiến đang được triển khai hoặc xây dựng lộ trình, gồm dự án điện phân kiềm công suất 1 MW kết hợp điện mặt trời của PV GAS tại Nhà máy Xử lý khí Dinh Cố, hướng tới vận hành thương mại năm 2027; kế hoạch phối trộn hydrogen xanh lục trong sản xuất amoniac của Đạm Phú Mỹ giai đoạn 2026-2030; cùng sáng kiến hợp tác giữa Indefol Solar, GIZ và Đại học Việt-Đức.
Theo PGS. Phạm Hoàng Lương, thực trạng này cho thấy Việt Nam đã có nền tảng sản xuất hydrogen phục vụ công nghiệp, nhưng quá trình chuyển đổi sang hydrogen sạch vẫn ở giai đoạn đầu. Thách thức không chỉ là xây dựng công nghệ sản xuất mới mà còn phải hình thành thị trường tiêu thụ, cơ chế tài chính và hệ thống hạ tầng tương ứng.
Giá hydrogen xanh cao gấp 2,5-4,5 lần hydrogen xám
PGS. Phạm Hoàng Lương cũng nhấn mạnh rằng khoảng cách giá thành đang là rào cản kinh tế lớn nhất đối với hydrogen sạch.
Theo số liệu trong bài trình bày, hydrogen xanh tại Việt Nam có giá thành ước tính khoảng 5-7 USD/kg, trong khi hydrogen xám được các ngành công nghiệp sẵn sàng mua với mức giá khoảng 1,5-2 USD/kg. Như vậy, hydrogen xanh đang đắt hơn khoảng 2,5-4,5 lần.
![]() |
| Khả năng cạnh tranh của hydrogen phụ thuộc lớn vào giá điện, hiệu suất thiết bị điện phân, chi phí đầu tư và thời gian vận hành. |
Mức chênh lệch này khiến doanh nghiệp khó chuyển đổi ngay cả khi công nghệ đã chứng minh được tính khả thi. Nếu phải mua hydrogen với giá cao hơn đáng kể so với nguồn hiện tại, khách hàng công nghiệp sẽ thiếu động lực kinh tế để ký hợp đồng tiêu thụ dài hạn. Khi không có hợp đồng bao tiêu đủ chắc chắn, dự án sản xuất hydrogen sạch cũng khó huy động vốn ngân hàng.
Bài toán chi phí càng trở nên quan trọng khi điện tái tạo chiếm khoảng 55-65% chi phí sản xuất hydrogen xanh lục. Điều này đồng nghĩa khả năng cạnh tranh của hydrogen phụ thuộc lớn vào giá điện, hiệu suất thiết bị điện phân, chi phí đầu tư và thời gian vận hành.
Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi và điện mặt trời, đặc biệt tại Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, tiềm năng năng lượng tái tạo chỉ có thể chuyển hóa thành lợi thế sản xuất khi nguồn điện được cung cấp với chi phí cạnh tranh, hạ tầng truyền tải đáp ứng yêu cầu và các dự án hydrogen có thể duy trì hiệu suất vận hành phù hợp.
Để xử lý khoảng cách giá, PGS. Phạm Hoàng Lương đề cập hai công cụ là hợp đồng chênh lệch (CfD) và hợp đồng chênh lệch carbon (CCfD). Các cơ chế này có thể hỗ trợ giảm rủi ro doanh thu, tạo điều kiện ký hợp đồng bao tiêu và cải thiện khả năng huy động vốn cho dự án.
Tuy nhiên, Việt Nam không có dư địa ngân sách tương đương các nền kinh tế phát triển để triển khai các gói trợ cấp tiền mặt quy mô lớn. Vì vậy, giải pháp được đặt ra là kết hợp vốn vay ưu đãi quốc tế với vốn thương mại trong nước, nghiên cứu ưu đãi thuế và thí điểm cơ chế hỗ trợ chênh lệch giá bằng nguồn tài chính khí hậu quốc tế.
Theo PGS. Phạm Hoàng Lương, khung pháp lý và thể chế điều phối cũng là những nút thắt cần tháo gỡ. Hydrogen hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như điện lực, hóa chất, dầu khí, đầu tư, đất đai và thị trường carbon, nhưng chưa có một khung pháp lý đặc thù, thống nhất theo đánh giá trong tài liệu.
Phương Thảo
-
Giá hydrogen xanh sản xuất ở Việt Nam cao gấp 2,5-4,5 lần hydrogen xám
-
Thị trường diesel: Cam kết tăng nguồn cung trước phép thử thực tế
-
Khẩn trương xem xét giảm giá điện và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng
-
Ứng dụng CCUS phải gắn với hiệu quả giảm phát thải và sản xuất
-
Cần cơ chế chính sách đồng bộ, nhất quán để khơi thông đầu tư các dự án điện


