Chứng khoán ngày 29/9: Nên mua cổ phiếu gì sau cơn bán tháo?

08:29 | 29/09/2022

|
Nhà đầu tư có thể quan tâm đến các nhóm cổ phiếu đã giảm sâu trong thời gian vừa qua đang được dòng tiền quan tâm như chứng khoán, ngân hàng, thép, bất động sản…

Thị trường vẫn có thể tiếp tục điều chỉnh mạnh hơn

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS)

VN-Index tiếp tục giảm điểm mạnh quay về khu vực đáy cũ hồi tháng 7. Về góc nhìn kỹ thuật, mẫu hình Falling window tiếp tục xuất hiện cho thấy rủi ro đang ở rất cao. Các chỉ báo quan trọng ở khung đồ thị ngày và giờ như RSI, MACD đều hướng xuống mạnh tiêu cực.

Thêm vào đó chỉ báo ADX và DI - đều đang ở mức rất cao báo hiệu cho việc thị trường vẫn có thể tiếp tục điều chỉnh mạnh hơn. Nếu VN-Index xuyên thủng vùng điểm này, chỉ số chung có thể sẽ lùi xuống sâu hơn vùng 1.085 điểm tương ứng với ngưỡng Fibonacci mở rộng 0.382, tính từ khu vực đỉnh tháng 4.

VCBS khuyến nghị các nhà đầu tư hạn chế bắt đáy sớm, tiếp tục kiên nhẫn đứng ngoài quan sát, đợi thị trường cho tín hiệu tạo sự cân bằng để hạn chế rủi ro và có thể giải ngân mua cổ phiếu với mức chiết khấu tốt.

Thị trường quá bán, sẽ sớm xuất hiện nhịp hồi phục

Công ty Chứng khoán Agribank (Agriseco)

Thị trường có phiên giảm điểm tiếp theo khi VN-Index mất hơn 20 điểm và đóng cửa tại mốc 1.144 điểm. Sắc đỏ bao phủ hầu hết nhóm ngành, trong đó đà giảm tập trung chủ yếu vào nhóm cổ phiếu tăng giá trong giai đoạn vừa rồi như xây dựng hạ tầng, lương thực và bảo hiểm. Chiều ngược lại, nhóm chứng khoán bắt đầu có tín hiệu hồi phục.

Chứng khoán ngày 29/9: Nên mua cổ phiếu gì sau cơn bán tháo? - 1
Đồ thị kỹ thuật VN-Index (Ảnh chụp màn hình).

Quan sát đồ thị kỹ thuật, mặc dù chỉ số đã có 4 phiên giảm điểm liên tiếp và hiện về vùng hỗ trợ 1.140 điểm thiết lập hồi tháng 7 song các chỉ báo động lượng như RSI và Stochastic đã vào vùng quá bán. Bên cạnh đó, phía trước vẫn còn nhiều câu chuyện để chờ đợi như số liệu vĩ mô quý III được công bố cuối tuần này với mức tăng trưởng GDP kỳ vọng 2 chữ số và giai đoạn sắp tới sẽ là mùa công bố kết quả kinh doanh quý III với dự kiến mức tăng trưởng ấn tượng từ các doanh nghiệp đầu ngành.

Vì vậy, Agriseco cho rằng thị trường sẽ sớm xuất hiện nhịp hồi phục trong các phiên tiếp theo. Nhà đầu tư có thể mở dần vị thế với nhóm VN30 khi một số mã cổ phiếu đã về mức chiết khấu hấp dẫn.

Thị trường đang bị ảnh hưởng từ nhóm cổ phiếu trụ

Công ty Chứng khoán MB (MBS)

Thị trường tiếp tục xuất hiện một nhịp giảm vào cuối giờ giao dịch hôm qua dưới sức ép từ các cổ phiếu trụ với nhiều cổ phiếu có lệnh bán lớn. Chỉ số VN-Index đã giảm 152 điểm kể từ đỉnh tháng 8 và đang trong tuần giảm thứ 5 liên tiếp. Trong khi chỉ số chung đang ở mức đáy tháng 7 thì nhiều nhóm cổ phiếu đã xuyên qua ngưỡng hỗ trợ này.

Các nhóm cổ phiếu giảm sâu đang nhận được dòng tiền bắt đáy như nhóm: chứng khoán, ngân hàng, bất động sản… nhóm cổ phiếu chứng khoán đang là điểm sáng khi đã có phiên tăng thứ 2 liên tiếp, nhóm cổ phiếu ngân hàng cũng duy trì đà tăng nhưng phân hóa, trong khi nhóm bất động sản đã có tín hiệu hồi phục khi khối ngoại giảm bán ròng.

Thị trường đang bị ảnh hưởng từ nhóm cổ phiếu trụ, do vậy không phản ánh được các cổ phiếu đã giảm về vùng hỗ trợ và có lực cầu bắt đáy. Do vậy, nhà đầu tư có thể quan tâm đến các nhóm cổ phiếu đã giảm sâu trong thời gian vừa qua đang được dòng tiền quan tâm như: chứng khoán, ngân hàng, thép, bất động sản…

Xu hướng ngắn hạn vẫn suy giảm

Công ty Chứng khoán Sài Gòn Hà Nội (SHS)

VN-Index tiếp tục chịu áp lực bán và giảm mạnh 1,96% với khối lượng giao dịch tăng 19,65% so với phiên trước, đặc biệt áp lực chốt lời ngắn hạn nhóm mã đầu tư công, nông nghiệp tăng đột biến. Xu hướng ngắn hạn của VN-Index vẫn suy giảm và rủi ro vẫn gia tăng ở nhiều mã, nhóm mã. Độ rộng thị trường vẫn tiêu cực với đa số các mã phục hồi là do tình trạng quá bán ngắn hạn trong xu hướng trung hạn vẫn suy giảm.

Xét về trung hạn, VN-Index vẫn giao dịch dưới kênh giảm giá hình thành từ vùng đỉnh 1.520-1.528 điểm tháng 4 và đỉnh 1.295 điểm tháng 8. Nhà đầu tư ở thời điểm hiện tại nên duy trì tỷ trọng hợp lý, chờ thêm các thông tin mới về vĩ mô, kết quả kinh doanh quý III của các doanh nghiệp... cũng như xu hướng của thị trường chung cải thiện tốt hơn mới xem xét gia tăng thêm tỷ trọng đầu tư đối với các mã có tiềm năng tăng trưởng tốt.

Thị trường sẽ sớm có nhịp hồi phục kỹ thuật

Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC)

Thị trường tiếp tục lao nhanh về vùng đáy cũ quanh 1.145 điểm của VN-Index. Mặc dù chỉ số đã xuyên thủng ngưỡng hỗ trợ quan trọng quanh 1.160 điểm, tuy nhiên thanh khoản trong phiên sụt giảm này chưa mạnh mẽ và dứt khoát. Đồng thời, động thái dừng giảm của nhóm tài chính cũng cho thấy tín hiệu lạc quan nhỏ trong một bức tranh chung u ám.

Do đó, nhà đầu tư có thể kỳ vọng thị trường sẽ sớm có nhịp hồi phục kỹ thuật trong thời gian gần tới. Tuy nhiên nhịp hồi phục này tạm thời chỉ mang tính chất kỹ thuật và là cơ hội để cơ cấu lại danh mục theo hướng giảm thiểu rủi ro.

Lưu ý: Khuyến cáo từ các công ty chứng khoán trên đây chỉ mang tính chất tham khảo đối với nhà đầu tư. Các công ty chứng khoán cũng đã tuyên bố miễn trách nhiệm với các nhận định trên.

Theo Dân trí

"Cá mập" Thái khẳng định không để tuột "viên ngọc quý" Sabeco
Chứng khoán 28/9: Kỳ vọng cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán kéo thị trường hồi phụcChứng khoán 28/9: Kỳ vọng cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán kéo thị trường hồi phục
Còn tâm lý nôn nóng gỡ gạc, nhà đầu tư chứng khoán có thể càng thua đauCòn tâm lý nôn nóng gỡ gạc, nhà đầu tư chứng khoán có thể càng thua đau
Quá bán, cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán, đầu tư công hồi phụcQuá bán, cổ phiếu ngân hàng, chứng khoán, đầu tư công hồi phục
Chịu tác động kép từ nâng lãi suất, VN-Index ở đoạn cuối nhịp điều chỉnh?Chịu tác động kép từ nâng lãi suất, VN-Index ở đoạn cuối nhịp điều chỉnh?
Đại gia đất Hải Phòng gây chú ý phiên VN-Index rơi gần 30 điểmĐại gia đất Hải Phòng gây chú ý phiên VN-Index rơi gần 30 điểm
Chứng khoán tuần mới sẽ tích cực nhờ 2 thông tin?Chứng khoán tuần mới sẽ tích cực nhờ 2 thông tin?

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 66,150 ▼100K 66,850 ▼100K
AVPL/SJC HCM 66,100 ▼200K 66,800 ▼200K
AVPL/SJC ĐN 66,000 ▼250K 66,700 ▼250K
Nguyên liệu 9999 - HN 52,400 ▼400K 52,750 ▼350K
Nguyên liệu 999 - HN 52,300 ▼400K 52,650 ▼350K
AVPL/SJC Cần Thơ 66,700 67,600
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 53.100 ▼200K 54.200 ▼200K
TPHCM - SJC 66.000 ▼300K 66.800 ▼300K
TPHCM - Hà Nội PNJ 53.100 ▼200K
Hà Nội - 66.000 66.800 ▼300K 06/12/2022 10:19:08 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 53.100 ▼200K
Đà Nẵng - 66.000 66.800 ▼300K 06/12/2022 10:19:08 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 53.100 ▼200K
Cần Thơ - 66.300 66.900 ▼150K 06/12/2022 10:41:15 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 53.100 ▼200K
Giá vàng nữ trang - 52.600 53.400 ▼200K 06/12/2022 10:19:08 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.800 ▼150K 40.200 ▼150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.990 ▼120K 31.390 ▼120K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.960 ▼90K 22.360 ▼90K
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,265 ▼45K 5,360 ▼45K
Vàng trang sức 99.99 5,180 ▼45K 5,345 ▼45K
Vàng trang sức 99.9 5,170 ▼45K 5,335 ▼45K
Vàng NL 99.99 5,180 ▼45K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,590 ▼30K 6,690 ▼30K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,590 ▼30K 6,690 ▼20K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,605 ▼15K 6,680 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,270 ▼40K 5,370 ▼40K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,270 ▼40K 5,370 ▼40K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,265 ▼45K 5,360 ▼45K
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 66,100 ▼150K 66,900 ▼150K
SJC 5c 66,100 ▼150K 66,920 ▼150K
SJC 2c, 1C, 5 phân 66,100 ▼150K 66,930 ▼150K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 52,950 ▼300K 53,950 ▼300K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 52,950 ▼300K 54,050 ▼300K
Nữ Trang 99.99% 52,750 ▼300K 53,550 ▼300K
Nữ Trang 99% 51,720 ▼297K 53,020 ▼297K
Nữ Trang 68% 34,568 ▼204K 36,568 ▼204K
Nữ Trang 41.7% 20,483 ▼125K 22,483 ▼125K
Cập nhật: 06/12/2022 13:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,737.50 15,896.46 16,407.94
CAD 17,220.85 17,394.80 17,954.49
CHF 24,826.83 25,077.61 25,884.50
CNY 3,367.84 3,401.86 3,511.84
DKK - 3,324.63 3,452.26
EUR 24,539.27 24,787.14 25,912.37
GBP 28,526.26 28,814.40 29,741.53
HKD 3,010.17 3,040.58 3,138.41
INR - 291.11 302.78
JPY 170.58 172.30 180.58
KRW 15.82 17.58 19.28
KWD - 77,904.09 81,026.01
MYR - 5,423.16 5,541.94
NOK - 2,367.89 2,468.65
RUB - 367.17 406.50
SAR - 6,367.47 6,622.64
SEK - 2,258.67 2,354.78
SGD 17,255.15 17,429.45 17,990.25
THB 605.90 673.22 699.07
USD 23,870.00 23,900.00 24,180.00
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,893 15,993 16,543
CAD 17,402 17,502 18,052
CHF 24,993 25,098 25,898
CNY - 3,398 3,508
DKK - 3,334 3,464
EUR #24,761 24,786 25,896
GBP 28,858 28,908 29,868
HKD 3,013 3,028 3,163
JPY 171.88 171.88 180.43
KRW 16.46 17.26 20.06
LAK - 0.69 1.64
NOK - 2,375 2,455
NZD 14,973 15,056 15,343
SEK - 2,253 2,363
SGD 17,249 17,349 17,949
THB 631.86 676.2 699.86
USD #23,838 23,858 24,138
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,870 23,870 24,150
USD(1-2-5) 23,646 - -
USD(10-20) 23,822 - -
GBP 28,686 28,859 29,915
HKD 3,025 3,046 3,132
CHF 24,950 25,101 25,872
JPY 171.66 172.7 180.42
THB 648.84 655.39 715.23
AUD 15,803 15,898 16,426
CAD 17,291 17,395 17,937
SGD 17,348 17,453 17,959
SEK - 2,269 2,344
LAK - 1.06 1.37
DKK - 3,335 3,443
NOK - 2,379 2,458
CNY - 3,385 3,496
RUB - 345 442
NZD 14,946 15,036 15,390
KRW 16.4 18.12 19.2
EUR 24,732 24,799 25,872
TWD 709.81 - 806.27
MYR 5,126.73 - 5,626.22
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,830.00 23,860.00 24,140.00
EUR 24,800.00 25,850.00 26,905.00
GBP 28,787.00 28,961.00 29,663.00
HKD 3,029.00 3,041.00 3,137.00
CHF 25,031.00 25,132.00 25,835.00
JPY 173.11 173.31 180.29
AUD 15,759.00 15,822.00 16,418.00
SGD 17,429.00 17,499.00 17,915.00
THB 663.00 666.00 705.00
CAD 17,396.00 17,466.00 17,880.00
NZD 0.00 14,955.00 15,469.00
KRW 0.00 17.63 20.26
Cập nhật: 06/12/2022 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.900 24.135
AUD 15.952 16.461
CAD 17.488 17.996
CHF 25.285 25.807
EUR 24.905 25.625
GBP 29.006 29.623
JPY 173,97 180,05
Cập nhật: 06/12/2022 13:00