banner-phu-quy

Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa

(PetroTimes) - Theo tục lệ xưa, cứ đến ngày mồng 5 tháng Giêng hằng năm, những người thợ bạc Đồng Xâm làm ăn khắp bốn phương lại trở về trước bàn thờ Tổ nghề.
tăng
a a
giảm
In bài viết
Điều gì đang tái định hình ngành kim hoàn toàn cầu?Điều gì đang tái định hình ngành kim hoàn toàn cầu?
Giá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăngGiá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Họ không chỉ dâng hương tưởng nhớ người truyền nghề, mà còn cùng nhau xét lại một năm làm ăn: ai giữ được sự thật thà, ai làm tổn hại thanh danh của làng, ai đã quay lưng khi bạn nghề gặp hoạn nạn.

Qua nhiều trăm năm, người Đồng Xâm không chỉ truyền lại cho đời sau kỹ thuật chế tác bạc, họ bồi đắp quanh nghề một địa tầng văn hóa gồm tín ngưỡng, đạo lý, luật lệ, thơ ca và ký ức cộng đồng.

Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa

Đền thờ Tổ nghề kim hoàn - chạm bạc Đồng Xâm, nơi các thế hệ thợ bạc tưởng nhớ người truyền nghề và gìn giữ ký ức nghề nghiệp của cộng đồng. Ảnh: Huy Minh

Cuộc trở về ngày mồng 5 tháng Giêng

Trong đời sống của một làng nghề, có những ngày người ta gọi nhau từ bốn phương trở về để vui hội, để gặp gỡ, để tưởng nhớ tiền nhân. Nhưng ngày mồng 5 tháng Giêng của những người thợ bạc Đồng Xâm xưa còn mang một ý nghĩa khác: đó là ngày mỗi người phải tự đặt nghề nghiệp và danh dự của mình trước bàn thờ Tổ.

Theo công trình Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm của các tác giả Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng, Lê Hồng Lý và Hoàng Cường, ngày này là dịp họp các bạn nghề tại am thờ Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu. Những người con của làng được truyền nghề, rồi tỏa đi làm ăn tứ xứ, lại tìm về giỗ Tổ. Họ kiểm điểm việc làm ăn trong năm, hỏi nhau công việc có khấm khá hay không, nhưng điều quan trọng hơn là: “Làm ăn có thật thà không?”.

Những người làm việc không đứng đắn, gây tai tiếng, làm mất uy tín của thợ bạc Đồng Xâm bị đưa ra xem xét nghiêm khắc. Ngay cả người biết bạn nghề gặp khó khăn, hoạn nạn mà không giúp đỡ, dù đã được báo tin theo quy ước của bạn nghề, cũng phải chịu sự phán xét của cộng đồng. Tùy mức độ, người vi phạm có thể bị khiển trách, đánh đòn trước mọi người, thậm chí bị cấm hành nghề trong một thời gian. Tục lệ cổ truyền của làng bạc Đồng Xâm xưa nghiêm khắc như thế đấy.

Điều cần nhận ra không nằm ở roi vọt, mà ở hệ giá trị đứng phía sau nó. Người thợ Đồng Xâm tự đặt ra cho mình hai bổn phận. Với khách hàng, phải thật thà, không được lạm dụng kỹ năng để làm điều gian dối. Với bạn nghề, phải có tình có nghĩa, không được bỏ mặc nhau khi sa cơ lỡ vận. Một mặt là trách nhiệm đối với xã hội; mặt bên kia là tình đồng nghiệp. Cả hai cùng quy tụ vào một chữ: danh dự.

Đó gần như là một thiết chế đạo đức nghề nghiệp hình thành từ trong lòng làng xã. Từ khi còn chưa có hiệp hội nghề nghiệp theo nghĩa hiện đại, chưa có bộ quy tắc ứng xử được in thành văn bản, nhưng cộng đồng thợ đã biết bảo vệ uy tín chung bằng sự giám sát lẫn nhau. Danh tiếng “thợ bạc Đồng Xâm” không thuộc riêng một người nào, nó là tài sản được nhiều thế hệ cùng gây dựng; bởi vậy, một người làm sai có thể khiến cả cộng đồng chịu điều tiếng.

Buổi họp bạn nghề cũng không kết thúc bằng việc luận tội. Sau khi kiểm điểm, những người thợ bạc cùng bàn phương hướng làm ăn, trao đổi kinh nghiệm cho năm tới, làm lễ tạ Tổ rồi hưởng lộc bên nhau. Công trình nghiên cứu hoàn thành năm 1992 có tên trên đã ghi lại một đúc kết giản dị mà hàm chứa toàn bộ ý nghĩa của ngày ấy: “Mối liên kết cộng đồng của những người bạn nghề được thắt chặt trước bàn thờ Tổ”.

Từ góc nhìn này, có thể hiểu vì sao nghề bạc ở Đồng Xâm không chỉ là phương kế sinh nhai. Một nghề thủ công chỉ cần bàn tay khéo léo là có thể làm ra sản phẩm, nhưng muốn lưu truyền qua nhiều thế kỷ, nghề còn cần ký ức chung, kỷ luật chung và một niềm tin chung mới đủ sức vẫy gọi những người đã cất mưu sinh muôn dặm trở về.

Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa

Người thợ Đồng Xâm hoàn thiện một sản phẩm bạc. Kỹ thuật có thể đổi thay theo thời gian, nhưng sự tinh xảo và chữ tín vẫn là nền tảng làm nên danh tiếng làng nghề. Ảnh: Huy Minh

Từ gò đất giữa bốn bề sông nước đến làng thợ bạc lừng danh

Trong ký ức dân gian được các nhà nghiên cứu sưu tầm tại Đồng Xâm, thuở sơ khai nơi đây là một cồn đất nổi giữa bốn bề sóng nước. Trên gò mọc nhiều cây vông đồng, những người đầu tiên đến lập ấp, dựng nhà gọi đất là Đồng Xâm - nghĩa là gò cây vông mọc.

Không nhất thiết phải coi cách lý giải địa danh là một kết luận sử học, ta vẫn có thể nhận ra cách cộng đồng hình dung về cội nguồn của mình: từ một gò đất hoang vu, con người tụ họp, dựng làng rồi dựng nghề. Làng không có sẵn. Nghề cũng không có sẵn. Tất cả được tạo nên bởi quá trình nhiều thế hệ nương tựa vào nhau để sinh tồn và làm cho vùng đất trở thành quê hương xứ sở.

Khi dân cư đông dần, Đồng Xâm chia thành hai thôn Thượng Gia và Thượng Hòa. Nhưng sự phân chia địa vực không làm mất đi ý thức đồng nguyên. Một câu ca mộc mạc đã giữ lại mối liên hệ ấy:

Thượng Gia cùng với Thượng Hòa,

Hai cành một gốc, gọi là Đồng Xâm…

(Ca dao Đồng Xâm, do Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng, Lê Hồng Lý và Hoàng Cường sưu tầm, công bố trong “Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm”)

“Hai cành một gốc” không chỉ nói về hai thôn, đó còn là cấu trúc tinh thần của làng nghề: người thợ có thể tỏa đi nhiều nơi, lập nghiệp bằng nhiều cách, làm ra nhiều loại sản phẩm, nhưng vẫn nhận chung một gốc nghề và cùng chịu trách nhiệm về tiếng thơm của quê hương.

Theo truyền tụng tại địa phương và tư liệu lưu giữ ở đền thờ, Nguyễn Kim Lâu được suy tôn là người truyền dạy nghề chạm bạc cho dân làng. Bảng giới thiệu tại đền mà chúng tôi ghi nhận năm 2026 cho biết ngài sinh năm 1392, mất vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm 1475. Nếu tính theo niên đại này, năm 2026 là tròn 551 năm ngày mất của Tổ nghề. Theo GS Bùi Quang Thanh, người phương Tây thường coi trọng ngày sinh, còn người phương Đông coi trọng ngày mất, bởi đó là dịp hậu thế tưởng nhớ công lao và những giá trị người đã khuất để lại. Trải qua lớp lớp thế hệ, ngày mồng 5 tháng Giêng vẫn được những người thợ bạc Đồng Xâm truyền tụng, gìn giữ như ngày giỗ Tổ, ngày hội tụ của bạn nghề gần xa. Ngày giỗ Tổ gắn với niên đại cách đây 551 năm ấy không chỉ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, mà còn là một thuần phong mỹ tục rất đáng trân trọng của cộng đồng làng nghề Việt Nam.

Tư liệu khảo sát của các nhà nghiên cứu năm 1992 cho biết, phía sau chùa Thượng Gia khi ấy có am thờ Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu. Theo nội dung văn bia được nhóm tác giả khảo cứu, am có thể được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Bảng giới thiệu tại đền ngày nay cũng nhắc tới quá trình nhiều thế hệ thợ và dân làng góp công, góp của tu bổ nơi thờ tự, cùng bộ đồ thờ bằng bạc do chính những lớp thợ Đồng Xâm xưa chế tác.

Người thợ bạc không chỉ mang hương hoa đến dâng Tổ, họ còn dùng chính đôi tay, kỹ thuật và vật liệu của nghề mình làm thành lễ vật. Bạc từ chỗ là chất liệu để mưu sinh đã bước vào không gian thiêng; tay nghề từ phương tiện kiếm sống trở thành cách báo ân người thắp lửa nghề.

Tổ nghề vì thế không chỉ là nhân vật mở đầu một phả hệ kỹ thuật. Trong tâm thức người thợ, Tổ là điểm quy chiếu đạo lý. Khi gia đình có việc giỗ cha mẹ, cưới xin, sinh con, hoặc khi xin cho con theo học nghề, người ta biện một lễ nhỏ, thắp hương kính báo. Nghề hiện diện trong những bước ngoặt của đời người; bàn thờ Tổ trở thành nơi chứng giám cho việc một thành viên mới bước vào cộng đồng làm bạc.

Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa

Một sản phẩm bạc Đồng Xâm với những đường nét chạm khắc tinh xảo - lớp hữu hình của một di sản được bồi đắp bằng kỹ thuật, tín ngưỡng và đạo lý nghề nghiệp qua nhiều thế hệ. Ảnh: nghệ nhân làng bạc Đồng Xâm cung cấp

Ở đó, sự truyền nghề không đơn thuần là dạy cầm búa, cầm ve, pha hàn hay điều khiển đường chạm. Người học còn được tiếp nhận một căn cước cổ truyền: từ nay mình là người của nghề, được hưởng danh tiếng nghề để lại và phải có bổn phận gìn giữ danh tiếng ấy.

Khi người thợ bạc dùng thơ ca để kể về nghề

Mỗi làng nghề đều lưu giữ tri thức bằng bàn tay lao động, nhưng ở Đồng Xâm, nghề còn được lưu giữ bằng ca từ truyền khẩu. Những bài “Hoa sắc”, câu chúc nghề, tiếng rao và ca dao không chỉ làm đẹp đời sống tinh thần; chúng là một dạng ký ức nghề nghiệp truyền từ đời thợ này sang đời thợ khác.

Niềm tự hào của người nghệ nhân Đồng Xâm vang lên trực tiếp, hồn nhiên:

Thợ bạc làng ta

Thoạt bước chân xa

Người ta mời gọi…

Và:

Hoa sắc, hoa sắc

Tiếng đồn thợ bạc

Công dịch mọi nơi

Tài khoe trong nước…

(Trích “Hoa sắc”, sáng tác dân gian Đồng Xâm, nguồn: “Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm”)

Chỉ với vài câu ngắn đã hiện lên cả một chuyển dịch lịch sử. Người thợ rời làng, mang dụng cụ và bí quyết đến những vùng đất khác. Bước chân xa không làm họ mất gốc; trái lại, tài nghệ chính là tấm giấy thông hành khiến “người ta mời gọi”. Danh tiếng của làng lan tỏa theo bước chân người thợ và được xác nhận ở nơi họ đến.

Có những câu thơ gần như một tờ giới thiệu sản phẩm bằng nhịp điệu dân gian:

Việc làm có kích, có thước

Mắt tinh rũa bạc, rũa vàng

Tay ve, tay chạm, mối hàn rất xinh

Ống vôi, ống thuốc, ống kinh

Đường sòi, đường đậu, đường hình như in

Đồng xanh, đồng bạch, đồng đen

Bộ nhẫn, bộ cúc, hoa sen, hoa hồi

Cuống trâm, thánh giá, đồi mồi,

Bao diêm, thuốc lá, hoa tai đủ đồ…

(Trích “Hoa sắc”, sáng tác dân gian Đồng Xâm, nguồn sưu tầm như trên)

Đọc đoạn thơ, người hôm nay không chỉ thấy một danh mục đồ vật. Trong đó là cả một bộ từ vựng của nghề: kích thước, rũa, ve, chạm, hàn; có các đường trang trí; có vật liệu; có những sản phẩm gắn với đời sống của nhiều tầng lớp và nhiều không gian văn hóa. Bài thơ vì thế giống một “bảo tàng bằng lời”, lưu lại thế giới sản phẩm của người thợ ở một thời đoạn lịch sử.

Nhưng thơ nghề không phải lúc nào cũng chỉ có ánh sáng. Đằng sau niềm kiêu hãnh “tài khoe trong nước” là cuộc đời bấp bênh của những người mang nghề đi xa. Tư liệu dân gian còn lưu giữ nỗi niềm của một đôi vợ chồng thợ bạc khi sa cơ nơi đất khách:

Bây giờ tiền hết gạo không

Thôi anh ở lại mà trông lấy hòm…

(Ca dao về người thợ bạc Đồng Xâm, nguồn sưu tầm như trên)

Chỉ hai câu đã mở ra một cảnh đời: tiền hết, gạo không, trước mặt là chiếc hòm nghề - có lẽ là tài sản cuối cùng và cũng là hy vọng cuối cùng. Vinh quang của nghề và cay đắng của người thợ cùng tồn tại trong một mạch ký ức. Chính vì từng trải qua cảnh tha hương, người Đồng Xâm càng thấu hiểu vì sao gặp bạn nghề hoạn nạn thì không thể ngoảnh mặt làm ngơ.

Vào dịp đầu năm, “Hoa sắc” còn trở thành lời chúc giữa những người làm nghề:

Ông trảy có kỳ,

Tiền năm bảy gánh,

Ơn nhờ tiên thánh,

Phúc lộc đề đa,

Phú quý vinh hoa,

Về tay ông làm thợ…

(Trích lời chúc nghề “Hoa sắc”, nguồn sưu tầm như trên)

Đó là ước vọng rất bình dị: đi làm có kỳ hạn, trở về mang theo thành quả, nhờ phúc Tổ mà nghề nghiệp hanh thông. Nhưng lời chúc không hướng đến sự giàu sang vô cớ. “Phú quý vinh hoa” phải “về tay ông làm thợ”, tức phải đến từ bàn tay lao động.

Qua thơ ca, nghề bạc có tiếng nói riêng. Người thợ tự hào về kỹ năng, giới thiệu sản phẩm, chúc nhau phát đạt, than thở khi sa cơ và nhắc nhau nhớ về cội nguồn. Một nghề đã nhuần nhuyễn đến mức tạo ra được cả văn chương thì nghề ấy không còn chỉ tồn tại trong xưởng thợ. Nó đã lan sâu vào tâm hồn cộng đồng.

Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa
Hộp đựng xá lợi ở chùa Ngọa Vân - Đông Triều - Quảng Ninh do nghệ nhân Triệu Đăng Khoa phục dựng.

Những lớp văn hóa bồi đắp quanh ánh bạc

Nếu chỉ nhìn vào sản phẩm hoàn thiện, người ta dễ cho rằng giá trị của Đồng Xâm nằm ở những đường chạm tinh xảo trên bạc. Nhưng một sản phẩm không tự nhiên sinh ra. Phía sau nó là cả một hệ sinh thái văn hóa: người truyền nghề, người học nghề, phường bạn, quy ước, bàn thờ Tổ, ngày giỗ Tổ, lời chúc đầu năm, ký ức tha hương và danh dự của làng.

Nhóm tác giả công trình Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm từng viết về quá trình dựng đất, dựng làng: song song với việc “làm ra kinh tế để nuôi người”, người Đồng Xâm còn “làm ra văn hóa để dưỡng đời”. Hai vế ấy tôn vinh nhau, nâng đỡ cho nhau. Nghề bạc nuôi sống con người, còn văn hóa nghề giữ cho nghệ nhân không đánh mất mình giữa cuộc mưu sinh muôn vàn biến động.

Nhìn theo chiều sâu thời gian, mỗi thế hệ lại bồi thêm một lớp địa tầng. Lớp đầu tiên là kỹ thuật: cách chọn và xử lý vật liệu, tạo hình, hàn, ve, chạm, hoàn thiện sản phẩm. Lớp tiếp theo là tổ chức xã hội của nghề: thầy - trò, bạn nghề và mạng lưới những người thợ đi khắp bốn phương tám hướng. Trên đó là lớp đạo đức: thật thà với khách, giữ tín nghĩa với bạn nghề, bảo vệ uy tín làng nghề. Rồi đến lớp tín ngưỡng: thờ Tổ, giỗ Tổ, kính báo những việc hệ trọng của gia đình và đời người. Bao phủ và kết nối tất cả là lớp ký ức được lưu trong thơ ca, lời chúc, hội làng và những câu chuyện truyền đời.

Các lớp ấy không nằm im như những dấu tích khảo cổ, mà vẫn tiếp tục chi phối cách cộng đồng nghệ nhân nhìn nhận, thực hành và gìn giữ nghề. Một người thợ hôm nay có thể dùng công cụ khác, làm sản phẩm cho thị trường cách xa làng hàng vạn dặm, bán hàng bằng phương thức mà tiền nhân chưa từng hình dung. Nhưng câu hỏi ngày mồng 5 tháng Giêng vẫn không hề cũ: làm ăn có thật thà không? Có vì lợi ích trước mắt mà làm tổn hại thanh danh của nghề không? Khi bạn nghề khó khăn, ta ứng xử thế nào?

Đó cũng là những câu hỏi mà mọi ngành nghề hiện đại đều phải đối diện. Quy chuẩn kỹ thuật có thể đo độ tinh khiết của bạc, độ chắc của mối hàn hay độ chính xác của sản phẩm. Pháp luật có thể quy định trách nhiệm của người sản xuất và người bán. Nhưng còn một phần không máy móc nào đo được: lòng tự trọng nghề nghiệp. Người xưa đặt phần ấy trước bàn thờ Tổ và trước sự phán xét của cộng đồng.

Tất nhiên, lịch sử của bất cứ cộng đồng làng nghề nào cũng có thăng trầm, xung đột và đứt gãy. Công trình khảo sát hoàn thành năm 1992 phản ánh ký ức, hiện trạng và cách lý giải ở một thời điểm cụ thể; nhiều chi tiết cần tiếp tục được đối chiếu với văn bia, sắc phong, tư liệu hành chính và nghiên cứu mới. Nhưng đã đủ để giúp ta nhận ra giá trị chắc chắn nhất: Đồng Xâm đã tạo dựng quanh nghề bạc một địa tầng văn hóa phong phú và có sức gắn kết lâu bền.

Bởi vậy, ngày nay gọi Đồng Xâm là một làng chạm bạc nổi tiếng có lẽ vẫn chưa đủ. Ở đây, bạc không chỉ được dát, gò, hàn và chạm thành đồ vật. Qua nhiều thế hệ, nghề bạc còn được chạm vào ký ức, tín ngưỡng và đạo lý làm người. Mỗi đường nét trên sản phẩm là lớp dễ nhìn thấy nhất, nhưng nằm phía dưới là những lớp trầm tích vô hình mà bền chắc hơn: nghĩa thầy trò, tình bạn nghề, lòng biết ơn Tổ, niềm kiêu hãnh quê hương và ý thức giữ gìn thanh danh đã tồn tại hơn 6 thế kỷ, tính từ cuộc đời của Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu.

Nguồn tư liệu

• Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng, Lê Hồng Lý, Hoàng Cường, “Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm”, trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam, tập 2: Nghề chế tác kim loại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2012, tr. 16-80. Công trình được nhóm tác giả hoàn thành ngày 29/12/1992.

• Bảng giới thiệu lịch sử tại đền thờ Tổ nghề kim hoàn - chạm bạc Đồng Xâm, chụp tại di tích năm 2026.

Huy Minh - Thiên Hương

Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý

Cùng chuyên mục

Giá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Kim hoàn - nhánh vàng son của cây đại thụ nghề kim loại Việt Nam

(PetroTimes) - Trong một xưởng kim hoàn ở làng Định Công, người thợ cầm chiếc búa chỉ nặng vài chục gam, liên tiếp gõ nhẹ lên một sợi bạc chỉ mảnh như sợi tóc. Những nhịp gõ tưởng như nhỏ bé ấy mang theo ký ức của hàng nghìn năm văn minh kim khí nước nhà.
Giá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Những biểu tượng cát tường trên sản phẩm bạc “Ngựa gió Phú Quý”

(PetroTimes) - Được sự cố vấn của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Kiến trúc Phong thủy (Viện Phong thủy), Tập đoàn Vàng bạc đá quý Phú Quý chuẩn bị ra mắt sản phẩm “Ngựa gió chở ngọc Như ý”, được làm từ bạc nguyên chất 999, có trọng lượng 1 lượng.
Giá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Tổ nghề - tiếng vọng thiên thu

(PetroTimes) - “Nếu anh coi mẹ là vàng/ Coi cha là bạc, thiếp theo chàng về dinh”.
Giá vàng hôm nay 13/8: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Tổ nghề kim hoàn và nền văn minh thờ Tổ nghề của người Việt

(PetroTimes) - Biết ơn từ người dạy làm gốm, đúc đồng, làm giấy đến kim hoàn, nhiều thế hệ người Việt đã gìn giữ một tập tục đặc biệt: thờ phụng những người khai sáng nghề nghiệp của mình.