banner-phu-quy

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

(PetroTimes) - Làng bạc Đồng Xâm (Hưng Yên) nằm yên ả giữa mênh mông lúa. Chúng tôi về chuyến này là để gặp ba trong số những nghệ nhân nổi tiếng nhất của làng.
tăng
a a
giảm
In bài viết
Đồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóaĐồng Xâm - nơi nghề bạc trở thành địa tầng văn hóa
Phường thợ ở làng bạc Đồng XâmPhường thợ ở làng bạc Đồng Xâm

Ghép nối các cuộc trò chuyện lại với nhau, Đồng Xâm bỗng hiện lên như một làng nghề không hề “đứng yên” trong suốt chiều dài lịch sử: có lúc “khép cửa làng” để giữ nghề thủ công tổ truyền, có lúc theo chân người thợ bạc đi khắp mười phương, có lúc phải nhờ đến máy móc để còn tìm được khách.

Nghệ nhân Nhân dân Phạm Văn Nhiêu: Những năm ấy ở đây làm vui lắm

Nghệ nhân Nhân dân Phạm Văn Nhiêu năm nay đã 84 tuổi. Ông vào nghề từ năm 14 tuổi. Ngoại trừ 10 năm đi bộ đội, đến nay ông đã có 60 năm làm nghề bạc, một quãng đời làm nghề dài hiếm thấy. Ông là biểu tượng sống của cả lòng bền bỉ lẫn sức lao động phi thường. Đối với nghề chạm bạc, một nét chạm khắc nhỏ cũng đòi hỏi sự chuẩn xác đến từng milimét, con số sáu thập niên làm nghề không chỉ đơn thuần là thước đo thời gian, mà là dấu ấn của một đời giữ lửa nghề. Đến nay, đôi tay của ông vẫn giữ được nét chạm thanh nhẹ, nhãn lực vẫn tinh tường để điều khiển những đường chạm trổ, đôi tai vẫn quen với tiếng búa, tiếng chạm của làng nghề. Sáu chục năm làm nghề đã khiến mỗi nhát búa, mũi đục không chỉ tạo ra chỗ nông sâu, mà còn chứa đựng cảm giác và kinh nghiệm ông tích lũy suốt một đời. Ông là "báu vật nhân văn sống", là cây cao bóng cả của một làng nghề gần 600 năm tuổi.

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm
Nghệ nhân Nhân dân Phạm Văn Nhiêu trò chuyện với phóng viên chuyên mục Kim loại quý trong xưởng nghề tại nhà riêng.

Nghệ nhân Nhân dân Phạm Văn Nhiêu nhớ về nghề bằng những món đồ cụ thể. Các cụ kể rằng, thời phong kiến, thợ bạc Đồng Xâm hay vào chốn cung đình làm vòng làm xuyến cho quan lại, nhà giàu. Thời Pháp thuộc, người ta đặt thợ Đồng Xâm làm vòng tai, khuyên tai, khay cốc pha trà, khay cốc uống rượu. Có cả bộ cà phê bằng bạc gồm sáu cốc, sáu đĩa, một ống đựng đường và một ống đựng cà phê.

Sau khi hòa bình lập lại, vào khoảng năm 1956-1957, người làm nghề bạc ở Đồng Xâm được tập hợp thành các tổ sản xuất, rồi thành hợp tác xã. Đến giai đoạn 1978-1990, làng nhận nhiều đơn hàng làm bằng đồng cho các nước xã hội chủ nghĩa.

“Năm 1978-1990, ở đây làm vui lắm, phát triển lắm. Mình không có sức để làm thôi, họ đặt rất nhiều. Hồi đó không ai làm, chỉ có ở đây làm”, ông kể. Có lần vào Sài Gòn, mang theo một cái hộp đựng kính bằng bạc, một vị khách nước ngoài thấy đẹp quá, đặt ông làm một chiếc, rồi 3 tháng sau về tận làng Đồng Xâm để nhận hàng. Cuộc giao hàng ấy lại mở tiếp ra một mối làm ăn mới. Mỗi một khách hàng của thợ bạc Đồng Xâm vừa giống như một vị đại sứ văn hóa, vừa là một kênh tiếp thị tự nhiên, mang những tinh hoa thủ công của Việt Nam đi khắp năm châu. Sự hài lòng của một người trở thành chiếc cầu nối cho mười người khác, biến những sản phẩm mỹ nghệ mang đậm hồn cốt xứ sở của làng bạc thành những món quà ngoại giao, những món đồ sưu tầm quý giá xuyên biên giới. Từ xưa đến nay, Đồng Xâm nổi tiếng khắp nơi mà không cần bất cứ một chiến dịch quảng cáo rầm rộ nào. Sản phẩm và khách hàng đã tự lan truyền danh tiếng ấy.

Trong ký ức của ông, nghề được chia rất rõ theo từng công đoạn. Người gò chuyên gò, người lắp ráp chuyên lắp ráp: “Nghề này công đoạn nào cũng rất khó”. Bởi thế, một món đồ làm ra thường phải qua tay nhiều thợ.

Khi khách yêu cầu, người thợ phải nghiên cứu, vẽ mẫu sản phẩm, tính toán kích thước rồi mới bắt tay vào làm. Từ hình ảnh phác thảo đến sản phẩm cuối cùng là cả một chặng đường dài lao động mà người thợ phải tự tay hoàn thiện.

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm
Nghệ nhân Nhân dân Phạm Văn Nhiêu trò chuyện với phóng viên chuyên mục Kim loại quý trong xưởng nghề tại nhà riêng.

Ông Nhiêu cũng nhắc lại lệ cũ không được truyền nghề cho con gái, nếu không sẽ bị đuổi khỏi làng. Sự khắt khe ấy nhằm giữ lợi thế làm ăn, bảo vệ miếng cơm manh áo của cả làng nghề. Thế nhưng, đó đã là câu chuyện của quá khứ. Khi nghề đối mặt với nguy cơ mai một vì thiếu nhân lực, tư duy ấy đã cởi mở hơn rất nhiều, đón nhận bất cứ ai có tâm, có tài, không phân biệt nam nữ để cùng chung tay giữ lửa cho tinh hoa chạm bạc. “Bây giờ cả nước, cả làng, cả xã đều làm, nhưng ngày xưa chỉ có mỗi ở đây có nghề chạm bạc”, ông kể với chúng tôi với nụ cười mãn nguyện và ánh mắt lấp lánh niềm vui.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Tuân: Ấp ủ ý tưởng về “chợ bạc”

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

Nghệ nhân Quốc gia Nguyễn Văn Tuân.

Nghệ nhân Quốc gia Nguyễn Văn Tuân bắt đầu câu chuyện từ vị trí của làng. Đồng Xâm cách biển Đông chừng 15 km, nếu tính đường đi vòng; còn tính theo đường chim bay thì cách bãi biển Đồng Châu không xa đến thế. Câu chuyện anh kể không dừng ở địa giới của làng, mà còn đi theo những người thợ bạc rời quê qua nhiều thời kỳ đổi thay.

“Nghề chạm bạc tại làng Đồng Xâm đến đời chúng tôi là đã trải qua khoảng hơn 40 đời thợ. Nhiều lớp thợ, mỗi thời kỳ lại làm theo cuộc sống của người thợ”, anh Tuân nói.

Thuở đầu, nghề đồng phát triển, người trong làng làm những việc gần với đời sống hằng ngày: gò đồng, vá xoong nồi, chế tác đồ dân dụng. Người nọ dạy người kia. Khi nhu cầu đổi khác, người thợ chuyển dần sang đồ trang sức bằng vàng, bạc và đồ chạm trổ tinh xảo hơn.

Anh Tuân nhắc lại những câu chuyện được truyền tụng ở làng về những lớp thợ từng vào kinh đô làm đồ dùng, đồ trang sức cho triều đình. Thợ chạm bạc Đồng Xâm có tiếng và từng được gọi vào kinh đô Huế để chạm trổ cung kiếm, đồ trang sức và đồ ngự dụng hoàng cung. Đặc biệt, tại đền thờ tổ nghề chạm bạc ở làng Đồng Xâm hiện còn lưu giữ sắc phong vua Khải Định ban năm thứ chín (1924) để ghi nhận công trạng của làng nghề.

Người Đồng Xâm khi được triều đình trưng dụng, họ rời làng chỉ mang theo hòm nghề chạm bạc. Khi hồi hương, họ mang theo sắc phong và danh tiếng về theo.

Đến thời Pháp thuộc, tay nghề của người thợ Đồng Xâm có thêm một lớp khách hàng mới. Tại một cuộc triển lãm ở Hà Nội khoảng năm 1920, những sản phẩm tinh xảo của làng được trưng bày và lập tức lọt vào mắt xanh của những người chủ Pháp. Những đơn đặt hàng liên tục đổ về đã thúc đẩy kỹ nghệ chạm bạc của làng vươn lên một nấc thang mới về độ tinh xảo, mở ra con đường đưa hàng từ làng lên Hà Nội rồi xuất sang Pháp và các nước châu Âu.

Sau năm 1954, lịch sử làng nghề sang trang khi người thợ được tập hợp vào các hợp tác xã thủ công nghiệp như Việt Hồng, Đại Đồng và Phú Lợi. Giai đoạn này, nhiều người trong làng làm khay, cốc, lọ hoa và các mặt hàng mỹ nghệ cung cấp cho các xí nghiệp để xuất khẩu sang khối Đông Âu. Ký ức của anh Tuân về thời kỳ ấy gắn liền với cuốn sổ tem phiếu và một cơ cấu lao động đặc biệt, tạo nên một diện mạo khác hẳn so với các làng quê Bắc Bộ khác thời bấy giờ.

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

Một góc khung tranh (khung ảnh) cổ bằng bạc do nghệ nhân Đồng Xâm xưa chạm trổ.

Trong khi nhiều làng quê thời bao cấp sống chủ yếu bằng ruộng đồng, Đồng Xâm lại có một nhịp sống riêng của nghề thủ công. Theo anh Tuân, thời ấy chỉ khoảng một phần ba dân làng làm nông; phần lớn người còn lại làm việc cho các hợp tác xã. Tiếng búa, tiếng chạm vang lên trong những ngôi nhà giữa đồng lúa. Người làm nghề nhận tem phiếu mua gạo, làm hàng theo đơn rồi chuyển sản phẩm lên xí nghiệp. Một chiếc khay hay chiếc cốc làm ở làng có thể đi xa hơn nhiều người thợ làm ra nó. Giữa lũy tre làng, Đồng Xâm đã có một nếp làm ăn gắn với những đơn hàng xuất khẩu; còn việc món đồ đến tay ai, được dùng ở đâu, người làm ra nó không phải lúc nào cũng biết.

“Đa số là làm ở các hợp tác xã, làm đồ cho các xí nghiệp. Làng làm đồ thô, chuyển lên trên, các xí nghiệp mạ rồi xuất khẩu sang các nước Đông Âu”, anh kể.

Khi cơ chế bao cấp chấm dứt, người thợ lại tự tìm đường sinh sống. Họ làm cho các cửa hiệu ở Hà Nội, mở cửa hàng hoặc nhận gia công cho những công ty lớn. Những đứa trẻ học được thì đi học tiếp; ai ở nhà lại học nghề. Cứ như vậy, nghề nối từ người này sang người khác, lớp thợ này sang lớp thợ khác.

Nhưng nghề không chỉ được truyền trong phạm vi làng. Người Đồng Xâm đi làm ăn ở nhiều nơi, mang theo cả kỹ thuật gò, chạm và khảm. Chính bước chân của họ đã góp phần làm cho nghề vàng bạc đồng ở những vùng đất khác phát triển theo.

“Người thợ ở đây mặc dù đi kiếm cơm thật, nhưng lại thúc đẩy công việc của các làng khác”, anh nói. Theo anh, thợ Đồng Xâm từng sang làm, sửa nét chạm, khảm bạc trên đồ đồng ở Nam Định, Ninh Bình; có những cơ sở và nghệ nhân ở Hà Nội từ đó đến nay vẫn thuê thợ của làng.

Cũng bởi làm nghề trong làng diễn ra ngay trước mắt mọi người nên những quy định khắt khe ngày trước không thể ngăn những ai muốn học. Anh Tuân kể rằng xưa kia thường nói nghề không truyền cho con gái, nhưng thực tế nhiều phụ nữ vẫn chạm bạc rất giỏi. “Kể cả không dạy cho con gái thì người ta cũng biết, vì ở cạnh thợ suốt ngày. Người ta đun nước cho các ông thợ, rồi người ta học được hết”, anh nói. Rồi nghề chạm bạc theo bước chân những người Đồng Xâm đi làm ăn xa cũng như theo các cô gái đi lấy chồng xa, kỹ thuật tổ truyền của làng lan tỏa dần đến làng khác, thành phố khác.

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

Kiếm bạc cổ của làng bạc Đồng Xâm.

Ngày nay, sản phẩm cũng thay đổi theo thị trường. Bên cạnh đồ trang sức và đồ mỹ nghệ, nhiều hộ chuyển sang làm đồ thờ. Máy móc được đưa vào để tạo hình, ép khuôn, giúp hạ giá thành sản phẩm. Một bộ câu đối làm hoàn toàn thủ công có thể mất hàng tháng và cần nhiều lớp thợ, nhưng hàng tạo hình bằng máy rồi hoàn thiện bằng tay rẻ hơn nhiều, dễ bán trên mạng và dễ đi đến nhiều vùng đất khác nhau.

Anh Tuân không phủ nhận sự thay đổi ấy. Điều anh day dứt hơn là làng có nghề, có người nhiệt huyết, nhưng chưa có một nơi đủ sức kể câu chuyện của nghề. Ý tưởng của anh là tổ chức một phiên chợ bạc định kỳ, có thể mỗi tuần hoặc mỗi tháng kéo dài ba ngày. “Chợ bạc” hiện vẫn được người trong vùng nhắc tới, theo anh, thực chất vẫn chỉ là chợ dân sinh, chưa phải nơi bày bán, giới thiệu sản phẩm của người thợ Đồng Xâm. Anh nói mình chỉ là một tư nhân có nhiệt huyết, vì thế, ý tưởng về “chợ bạc” vẫn đang nằm lại đó.

Chủ tịch Hội làng nghề chạm bạc Đồng Xâm Triệu Đăng Khoa: Còn có cả một giọt sương mai

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

Chủ tịch Hội làng nghề chạm bạc Đồng Xâm Triệu Đăng Khoa trả lời phỏng vấn chuyên mục Kim loại quý/PetroTimes.

Theo ước tính của anh Triệu Đăng Khoa, làng hiện có khoảng 500 tổ sản xuất, với 1.500 - 2.500 lao động trực tiếp. Ngoài ra còn lực lượng làm phụ kiện và các công việc hỗ trợ, nhưng chưa có con số thống kê đầy đủ. Nghề vẫn phát triển, nhưng chậm hơn những làng nghề dựa nhiều vào công nghệ, bởi những phần cốt lõi và tinh túy của chạm bạc vẫn phải làm bằng tay.

“Chạm bằng máy thì nó không có hồn, mà nét chạm của người thì không ai giống ai được. Nên mới sinh ra người chạm giỏi và người chạm chưa giỏi”, anh nói.

Theo anh Khoa, nhiều làng nghề chỉ chuyên một vài công đoạn. Có nơi mạnh về đúc, có nơi chuyên gò, có nơi nổi tiếng với kỹ thuật đậu. Ở Đồng Xâm, một người thợ có thể đi qua nhiều phần việc: tạo hình, làm trơn, đấu ghép, đậu chi tiết rồi chạm. Chính khả năng làm trọn nhiều công đoạn tạo nên nét riêng biệt của làng.

Sự khác biệt giữa người thợ thường và người thợ giỏi đôi khi nằm trong một chi tiết rất nhỏ: “Người chạm giỏi thì sẽ có được cái hồn trong tác phẩm. Nếu người chạm chưa giỏi, nhìn vào nó cứ lù lù, không bóc tách được lá này là lá nghiêng, lá đứng hay lá ngửa; bông hoa này ngửa hay bông hoa này úp. Có người chạm tinh vi tới độ trên cánh hoa như còn có cả một giọt sương mai, còn người chạm bình thường thì nó chỉ là bông hoa thôi”.

Để làm được đến mức ấy, theo anh Khoa, người thợ cần 10-15 năm kinh nghiệm. Ba tháng có thể học những việc đơn giản, nhưng để hoàn thiện và làm ra sản phẩm mang dấu ấn riêng thì phải trải qua khoảng 15 năm rèn giũa.

Bản thân anh làm nghề từ năm 1990. Ban đầu anh cũng định đi theo một con đường khác, nhưng rồi “chẳng hiểu sao có duyên với nghề nên cũng chẳng đi đường khác nữa”. Anh ở nhà học các ông, các bác; ngoài những gì được truyền dạy, tự mình phải bỏ thời gian tìm tòi, nghiên cứu.

Anh Khoa kể sản phẩm của cơ sở mình là một trong số ít được sử dụng nhãn hiệu chung của làng nghề cho nhóm quà biếu, quà tặng. Những mô hình thuyền buồm lớn mạ vàng từng bày bán trên phố Nguyễn Thái Học ở Hà Nội là do anh làm. Sản phẩm của anh cũng đã được đặt làm cho một số bảo tàng, trong đó có hộp tráp đựng trầu phục vụ trưng bày tại Hoàng thành Thăng Long và bộ đĩa sen vàng thời Lý cho Bảo tàng Hưng Yên.

Ngày trước, người thợ phải vẽ trực tiếp bằng tay lên sản phẩm rồi mới chạm. Nay máy tính hỗ trợ phần đồ họa, giúp công việc nhẹ đi. Anh Khoa cho rằng máy móc còn có thể đảm nhận thêm những phần nặng nhọc như tạo khuôn, tạo mẫu, tạo hình. Nếu một ngày làm thủ công chỉ được một hoặc hai chiếc cốc, thì máy có thể giúp tạo ra 15-20 chiếc trước khi người thợ hoàn thiện.

Nhưng anh đặt một ranh giới rõ ràng: máy móc hỗ trợ sức người, không thay được bàn tay ở phần làm nên hồn cốt sản phẩm.

Nỗi lo về những năm tới của làng bạc lại đến từ giá nguyên liệu. “Tương lai 10 năm nữa, giá nguyên liệu mà tăng thì sản phẩm tiếp cận với khách hàng hơi khó, nhất là những sản phẩm dùng nhiều nguyên liệu”, anh nói.

Đó là thế khó của hàng thủ công: làm hoàn toàn bằng tay thì đẹp, có hồn nhưng giá cao; đưa máy móc vào quá nhiều thì dễ đánh mất điều khiến sản phẩm Đồng Xâm khác với hàng sản xuất hàng loạt. Người thợ phải tự tìm điểm dừng hợp lý giữa hai chiều kích ấy.

Ba cuộc trò chuyện của chúng tôi ở làng bạc Đồng Xâm đều đi đến một điểm giống nhau: nghề chỉ sống khi người thợ còn tìm được cách làm ra sản phẩm và tìm được người cần sản phẩm.

Đồng Xâm vì thế không chỉ là câu chuyện về giữ gìn một kỹ thuật cổ truyền đã có gần 600 năm tuổi. Đó còn là câu chuyện người thợ đã sống bằng nghề ra sao, đã mang nghề đi đâu trong những năm tháng ấy; hiện đang xoay xở thế nào để những chiếc lá còn biết nghiêng, biết ngửa, những bông hoa còn biết ngửa, biết úp trên mặt bạc. Và trên cánh hoa bạc ấy còn long lanh một giọt sương mai.

Huy Minh - Thiên Hương

Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý

Cùng chuyên mục

Giá vàng hôm nay 24/9: Vàng trong nước đảo chiều tăng, vàng thế giới lại mất mốc 4.300 USD

Phú Quý mang cốt cách Việt Nam đến JGW 2026

(PetroTimes) - Giữa khoảng 3.000 nhà triển lãm đến từ 46 quốc gia và vùng lãnh thổ tại Jewellery & Gem WORLD Hong Kong 2026, một không gian mang tên Phú Quý đã hiện diện với vàng, bạc và những câu chuyện từ văn hóa Việt Nam.
Giá vàng hôm nay 24/9: Vàng trong nước đảo chiều tăng, vàng thế giới lại mất mốc 4.300 USD

[Longform] Phú Quý mang câu chuyện văn hóa Việt đến Jewellery & Gem WORLD Hong Kong

(PetroTimes) - Jewellery & Gem WORLD Hong Kong - sự kiện thương mại lớn nhất thế giới của ngành trang sức và đá quý - sẽ diễn ra tại Hong Kong (Trung Quốc).
Giá vàng hôm nay 24/9: Vàng trong nước đảo chiều tăng, vàng thế giới lại mất mốc 4.300 USD

Chuyện truyền kỳ về luyện bạc

(PetroTimes) - Từ những lò luyện có niên đại hàng nghìn năm đến các nhà máy điện phân tự động ngày nay, con người đã không ngừng tìm cách tách bạc khỏi đá, chì, đồng và vô số tạp chất.
Giá vàng hôm nay 24/9: Vàng trong nước đảo chiều tăng, vàng thế giới lại mất mốc 4.300 USD

Khi nào trang sức trở thành tác phẩm nghệ thuật?

(PetroTimes) - Trang sức có thể mang những viên đá quý đáng giá cả gia tài, nhưng chỉ thực sự bước vào địa hạt nghệ thuật khi vàng, đá, kỹ thuật và tư tưởng cùng tạo nên một hình hài độc nhất - không thể thay thế bằng món đồ khác có cùng trọng lượng vàng hay số carat.