Tại Đồng Xâm (xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên), phường thợ đã góp phần kết nối tài khéo của từng người, từng gia đình thành sức mạnh chung của một làng bạc nổi tiếng qua nhiều thế kỷ.
Đằng sau mỗi nghề thủ công lâu đời bao giờ cũng có hai dạng di sản. Một dạng hiện hữu trong những sản phẩm mà người thợ để lại: một pho tượng, chiếc bình, bộ đồ thờ hay món trang sức được chế tác tinh xảo. Dạng kia khó nhìn thấy hơn, nhưng lại góp phần quyết định sức sống của nghề: cách những người thợ tập hợp, duy trì quy ước, truyền dạy kỹ năng, phân chia công việc, giữ bí quyết, bảo vệ nhau và gìn giữ danh tiếng chung.
Dạng di sản thứ hai ấy được kết tinh trong phường thợ, còn có tên gọi khác là phường nghề.
![]() |
| Đĩa sen thời Lý ở Hưng Yên, do nghệ nhân Đồng Xâm phục dựng. |
Phường thợ và đất lề quê thói
Phường thợ không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Tại nhiều quốc gia châu Âu thời trung cổ và cận đại, các tổ chức thường được gọi là craft guilds từng giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và đô thị. Đây là nơi tập hợp những người thợ thủ công cùng nghề, đặt ra điều kiện học việc, công nhận trình độ, duy trì quy tắc sản xuất và đại diện cho lợi ích của thành viên.
Các phường hội ấy đã trở thành đối tượng nghiên cứu của lịch sử học, kinh tế học, xã hội học và khoa học quản trị. Một trong những câu hỏi gây nhiều tranh luận là: phường thợ thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển?
Một dòng quan điểm cho rằng phường hội có xu hướng bảo vệ lợi ích nội bộ, hạn chế người ngoài gia nhập và làm giảm sức cạnh tranh. Những quy định về số lượng thợ, thời gian học việc, quyền mở xưởng hay điều kiện hành nghề có thể trở thành hàng rào bảo vệ những người đã ở bên trong.
Nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy bức tranh phức tạp hơn. Nhà sử học kinh tế S.R. Epstein nhấn mạnh vai trò của chế độ học việc trong việc truyền bá kỹ năng và thúc đẩy sự dịch chuyển của lao động lành nghề trong xã hội tiền công nghiệp. Một số công trình nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng phường hội không phải lúc nào cũng chống lại đổi mới; cách ứng xử của mỗi phường phụ thuộc vào đặc điểm nghề nghiệp, thị trường và hoàn cảnh của từng thời kỳ.
Nhìn từ lịch sử lâu dài, phường thợ mang trong mình hai mặt tưởng như đối lập: nó có thể dựng lên những rào cản nhằm bảo vệ người trong phường, nhưng cũng nhờ đó mà việc truyền nghề được kiểm soát, chuẩn mực được duy trì và người học việc có một con đường để trở thành thợ lành nghề.
Mâu thuẫn giữa giữ kín và trao truyền, giữa bảo vệ người trong nghề và mở rộng cộng đồng nghề nghiệp không chỉ xuất hiện trong các phường hội châu Âu. Nó cũng hiện diện rất rõ trong lịch sử các phường thợ Việt Nam.
Ở Việt Nam, phường thợ thường được nghiên cứu trong mối quan hệ với làng nghề, dòng họ, gia đình, tín ngưỡng thờ Tổ nghề và quá trình người thợ từ nông thôn dịch chuyển vào đô thị.
Đó là một đặc điểm đáng chú ý.
Ở nhiều đô thị châu Âu, phường hội gắn chặt với cơ cấu quản lý thành phố. Trong khi đó, nhiều phường thợ Việt Nam có gốc từ những làng quê. Người thợ sinh ra trong làng, học nghề trong gia đình hoặc dòng họ rồi mang nghề đi tứ xứ làm ăn. Dù lập nghiệp ở đô thị hay những miền đất xa quê cha đất tổ, họ vẫn duy trì quan hệ với cội nguồn và thường quần tụ quanh nơi thờ Tổ nghề trong những ngày lễ trọng.
![]() |
| Một xưởng thợ ở Đồng Xâm ngày nay. |
Bởi vậy, phường thợ Việt Nam không chỉ là một tổ chức thuần túy kinh tế. Trong đó còn có quan hệ thầy - trò, họ hàng, tình làng nghĩa xóm và một không gian tâm linh chung.
Khi người thợ từ các làng nghề tìm đến Thăng Long, họ không chỉ mang theo dụng cụ và kỹ năng đã được trui rèn mà còn mang theo lề lối sinh hoạt của quê hương. Họ tập hợp thành phường, lập nơi thờ Tổ và dần tạo nên những phố nghề. Chính quá trình tụ cư và duy trì đất lề quê thói ấy đã góp phần tạo nên diện mạo đặc biệt của đô thị Thăng Long - Hà Nội: phố ở trong phường, phường nối với làng, còn làng quê trở thành hậu phương nhân lực và kỹ thuật cho phố nghề.
Trong số những công trình nghiên cứu làng nghề Việt Nam, Văn hóa làng nghề truyền thống của Vũ Trung khảo sát ba trường hợp tiêu biểu tại châu thổ sông Hồng: nghề tạc tượng ở Sơn Đồng, nghề gốm Bát Tràng và nghề chạm bạc Đồng Xâm. Công trình đặt phường, hội nghề trong tổng thể các mối quan hệ làng xóm, dòng họ, gia đình, thợ thủ công và tín ngưỡng thờ Tổ nghề.
Một nghiên cứu tiếp theo của tác giả về ba làng nghề này cũng phân tích những biến đổi trong cơ cấu tổ chức và văn hóa cộng đồng khi kinh tế hàng hóa cùng quá trình hội nhập tác động ngày càng sâu vào làng nghề.
Nhìn trong bối cảnh rộng ấy, phường thợ Đồng Xâm không phải một hiện tượng riêng lẻ mà là một biểu hiện cụ thể của khả năng tự tổ chức trong các cộng đồng thủ công Việt Nam. Tuy nhiên, phường thợ Đồng Xâm mang một diện mạo riêng, được tạo nên bởi đặc điểm của nghề bạc: nguyên liệu quý, kỹ thuật khó, nhiều công đoạn, thị trường ở xa và danh tiếng của người thợ phụ thuộc đặc biệt lớn vào chữ tín.
Bảy bậc thợ và “truyền nghề bằng tay”
Theo công trình Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam, phường nghề đầu tiên được ghi nhận ở Đồng Xâm hình thành vào cuối thế kỷ XVIII, mang tên phường Phúc Lộc.
Buổi đầu, phường chưa có nhiều thành viên. Nhưng những hoạt động chung vốn, chung sức, bảo vệ nghề và hỗ trợ người thợ khi gặp khó khăn dần thu hút thêm người tham gia. Từ đó, nhiều phường thợ cùng những dòng họ hành nghề theo lối gia truyền lần lượt hình thành.
Sự ra đời của phường thợ trước hết bắt nguồn từ nhu cầu tổ chức sản xuất.
Để hoàn thành một sản phẩm bạc cầu kỳ, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn. Có người chuẩn bị nguyên liệu, người tạo hình, người lắp ghép, người chạm khắc, người mài và đánh bóng. Một thợ giỏi có thể biết nhiều kỹ thuật, nhưng với những đơn hàng lớn, sức của một người hay một gia đình khó có thể đảm đương tất cả.
Phường thợ tập hợp những người có trình độ và sở trường khác nhau thành một năng lực sản xuất chung. Nhờ đó, người Đồng Xâm có thể nhận làm theo công nhật, nhận khoán từng phần hoặc đảm nhận cả một lô hàng, một công trình.
Phường Phúc Lộc vì thế không chỉ là nơi những người thợ tìm đến nhau. Nó đánh dấu một bước phát triển của nghề bạc: từ kỹ năng của từng cá nhân, từng gia đình tiến tới một hoạt động nghề nghiệp có tổ chức.
![]() |
| Ấm chén của làng nghề chạm bạc Đồng Xâm. |
Phường thợ Đồng Xâm có thứ bậc và kỷ luật riêng. Tư liệu trong Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam cho biết, mỗi phường có một thợ cả đứng đầu, chịu trách nhiệm phân công, cắt đặt công việc. Người làm nghề được chia thành bảy hạng, bắt đầu từ “phó nhỏ tập nghề”, rồi từng bước tiến lên các bậc thợ phó, thợ cả. Tiền công được trả theo năng suất và trình độ tay nghề.
Bảy bậc thợ cũng là bảy nấc thang của một đời làm nghề.
Người mới bước vào xưởng chưa thể đứng ngang hàng với người đã nhiều năm cầm ve, cầm búa. Tay nghề phải được chứng minh qua từng công đoạn và từng sản phẩm. Sự công nhận trước hết đến từ người thầy và cộng đồng những người cùng nghề; còn uy tín của người thợ được thử thách lâu dài qua sản phẩm và lòng tin của khách hàng.
Trong phường có sự phân công theo sở trường: người làm hàng trơn, người chuyên chạm, người đảm nhiệm việc tuyển và luyện bạc, người giỏi đánh bóng, mài, cườm. Mỗi công đoạn đòi hỏi một kỹ năng riêng, nhưng tất cả phải ăn khớp với nhau trong sản phẩm cuối cùng.
Đây chính là điểm gặp gỡ giữa phường thợ Đồng Xâm với nhiều phường thủ công trên thế giới: học việc - phân bậc - chuyên môn hóa - công nhận tay nghề.
Tuy nhiên, tại Đồng Xâm, quá trình ấy còn được lồng trong quan hệ gia đình và làng xã. Một gia đình có thể đồng thời hiện diện ba, bốn thế hệ thợ: từ những đứa trẻ mới học việc đến các cụ cao niên vẫn còn đủ sức cầm dụng cụ. Gia đình, dòng họ là nơi nghề được trao truyền; phường là nơi tay nghề được đặt vào một trật tự rộng hơn.
Người thợ vì vậy làm việc bằng đôi tay của mình nhưng không đứng một mình. Đằng sau mỗi người còn có gia đình, người thầy, phường nghề và danh tiếng của cả làng bạc.
Cách học nghề ở Đồng Xâm trước hết là nhìn và làm. Người mới học bắt đầu từ những công việc nhỏ, quan sát động tác của người đi trước rồi tự thực hiện dưới sự theo dõi của thầy. Họ làm quen với lửa, bạc, dụng cụ và từng công đoạn; từ việc phụ giúp đến các kỹ thuật đơn giản, rồi mới tiến dần tới những phần khó hơn.
Người Đồng Xâm gọi đó là cách “truyền bằng tay”.
Đằng sau một cụm từ giản dị là cả một phương pháp đào tạo. Kiến thức nghề không chỉ nằm trong lời nói mà còn nằm trong cảm giác của bàn tay: sức búa mạnh hay nhẹ, độ nóng của kim loại, cách một đường ve đi qua mặt bạc, thời điểm một mối ghép vừa đủ lửa.
Những tri thức ấy rất khó truyền đạt trọn vẹn bằng sách vở. Người học phải đứng cạnh người thầy, quan sát nhiều lần, tự mình thực hiện, làm sai rồi sửa lại, dần hình thành cảm giác nghề nghiệp của chính mình.
![]() |
| Thuyền buồm bằng đồng mạ vàng của Đồng Xâm. |
Quá trình học thường kéo dài nhiều năm. Theo tư liệu của công trình nghiên cứu, người học phải trải qua từ ba đến bốn năm học việc. Khi đã thành nghề, họ còn tiếp tục làm việc từ một đến ba năm để trả công người thầy đã truyền dạy, sau đó mới được tính công và nâng bậc theo khả năng.
Chế độ học việc ấy vừa truyền kỹ năng, vừa rèn tính kiên nhẫn và đặt người học vào một trật tự nghề nghiệp. Họ không chỉ học cách làm ra sản phẩm mà còn học cách ứng xử với thầy, với bạn nghề và với khách hàng.
Bởi vậy, câu “tiên học lễ, hậu học nghề” không đứng ngoài nghề làm bạc. Đạo lý và kỹ thuật cùng được trao truyền trong một quá trình.
Bước chân người thợ và cánh cửa giữ nghề
Phường thợ Đồng Xâm không chỉ hoạt động trong phạm vi làng.
Đồng Xâm xưa là vùng đất hẹp, người đông; vị trí lại xa những tuyến giao thông lớn. Trong khi đó, các sản phẩm bạc có giá trị cao cần tìm đến nơi tập trung khách hàng và các hoạt động trao đổi hàng hóa.
Muốn sống bằng nghề, người thợ phải đi tìm thị trường. Từ Đồng Xâm, các nhóm thợ tỏa đến miền núi và những đô thị như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng. Người làm thuê trong các cửa hàng kim hoàn, người làm tại xưởng mỹ nghệ, người nhận khoán theo từng đơn hàng. Có người chỉ đi theo từng mùa, từng kỳ hoặc từng công việc nhất định; có người ở lại thành thị, gây dựng cơ nghiệp lâu dài.
Nhưng rời làng không có nghĩa là rời phường. Những người thợ đi xa vẫn giữ quan hệ với quê gốc, trở về trong ngày giỗ Tổ hoặc hội làng, gặp lại những người cùng nghề. Phường hội trở thành sợi dây kết nối họ với nhau ngay cả khi không còn làm việc trong cùng một xưởng hoặc sinh sống tại cùng một địa bàn.
![]() |
| Nghệ nhân Triệu Đăng Khoa - Chủ tịch Hội Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm bên sản phẩm thuyền đồng mạ vàng. |
Nếu làng nghề là một địa chỉ trên bản đồ thì phường thợ là một mạng lưới có thể di chuyển theo hòm nghề, theo những đơn hàng và theo bước chân người thợ.
Chính mạng lưới ấy giúp nghề bạc của một làng quê vượt khỏi lũy tre làng, tìm đến những thị trường rộng lớn hơn mà vẫn duy trì được mối liên hệ với nơi nghề được sinh thành.
Một chức năng quan trọng khác của phường thợ là bảo vệ bí quyết. Trong nhiều thế kỷ, việc truyền nghề ở Đồng Xâm tuân theo những quy định nghiêm ngặt. Người trong phường không được tùy tiện đem kỹ thuật truyền cho người ngoài. Việc tiếp nhận người không thuộc dòng họ hoặc phường nghề phải được người có trách nhiệm chấp thuận và thực hiện những thủ tục nhất định.
Ngay trong phường, kiến thức cũng được truyền theo thứ bậc. Người mới chỉ học những công việc phù hợp với trình độ; những kỹ thuật khó hoặc công thức quan trọng được dành cho người đã trải qua thời gian thử thách và có đủ độ tin cậy.
Những quy định ấy mang đậm tính bí truyền, dựng nên một ranh giới chặt chẽ giữa người trong nghề và người ngoài nghề. Nhưng không thể tách chúng khỏi hoàn cảnh của người thợ thủ công xưa.
Với người thợ, bí quyết nghề nghiệp là vốn liếng lớn nhất. Dụng cụ có thể mua, nguyên liệu có thể tìm, nhưng kỹ năng được tích lũy qua nhiều thế hệ thì không dễ thay thế. Nếu bí quyết bị truyền ra ngoài tùy tiện, lợi thế của phường, của làng có thể mất đi. Nếu người chưa đủ tay nghề làm ra sản phẩm kém chất lượng dưới danh nghĩa của phường, thanh danh chung cũng bị tổn hại.
Giữ bí quyết do đó không chỉ là giữ một vài công thức kỹ thuật. Đó còn là giữ sinh kế, chất lượng sản phẩm và danh dự của cả cộng đồng.
Tuy nhiên, cánh cửa đóng quá chặt cũng có thể khiến nghề thiếu người kế tục. Khi hoạt động dạy nghề được mở rộng vào khoảng đầu thập niên 1960, tính bí truyền của nghề bạc Đồng Xâm dần thay đổi. Nghề có thêm người học, nhưng việc đào tạo nhanh và rộng cũng đặt ra nguy cơ suy giảm chất lượng.
Đó là mâu thuẫn từng xuất hiện trong lịch sử nhiều phường thợ trên thế giới và vẫn còn ý nghĩa đến hôm nay: Làm thế nào để mở rộng việc truyền nghề mà không hạ thấp chuẩn mực của nghề?
Phường thợ không để lại một sản phẩm có thể đặt trong tủ kính. Dấu vết của phường hiện diện trong cách người Đồng Xâm tổ chức công việc, phân bậc tay nghề, truyền dạy kỹ năng, bảo vệ bí quyết và duy trì mối liên hệ với quê hương.
Nếu không có phường thợ, những người thợ riêng lẻ khó kết thành sức mạnh đủ để nhận các đơn hàng lớn và đi tới những thị trường xa. Nếu không có chế độ học việc, kỹ năng tinh xảo khó được trao truyền theo trật tự thứ bậc. Nếu không có quy ước, bí quyết và danh tiếng nghề nghiệp có thể bị tổn hại. Nếu không có sự tương trợ, người thợ phải đơn độc trước những thăng trầm của công việc và cuộc sống.
Sản phẩm bạc cho thấy tài hoa của đôi tay. Phường thợ cho thấy năng lực liên kết của một cộng đồng có bề dày lịch sử. Một bên làm nên vẻ đẹp của vật phẩm; một bên tạo nên sức bền của nghề nghiệp.
Chính sự kết hợp ấy đã giúp nghề bạc Đồng Xâm không dừng lại ở tài khéo của những cá nhân riêng lẻ, mà trở thành di sản chung được nhiều thế hệ trao truyền và gìn giữ.
| Thợ bạc làng Đồng Xâm được coi trọng, ca dao, thi phú cũng viết rằng: “Làm thân con gái chả biết lo Thợ bạc chẳng lấy, lấy học trò Ngày ngày cúc cắc dăm ba tiếng Chẳng giàu nhưng cũng đủ no...” (“Nhắn em” - các nhà nghiên cứu ghi theo lời kể của cụ Nguyễn Thị Thơ - nghệ nhân chạm bạc làng Đồng Xâm) |
Tài liệu tham khảo chính: S.R. Epstein, “Craft Guilds, Apprenticeship, and Technological Change in Preindustrial Europe”, The Journal of Economic History, tập 58, số 3, năm 1998; Vũ Trung, “Văn hóa làng nghề truyền thống”, NXB Văn hóa - Thông tin, 2008; Trương Duy Bích, Trương Minh Hằng, Lê Hồng Lý, Hoàng Cường, “Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm”, in trong “Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam”, tập 2: “Nghề chế tác kim loại”, NXB Khoa học Xã hội, 2012.
Thế Vinh
Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý