banner-phu-quy
Vàng bạc Châu Khê:

550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội

(PetroTimes) - Người Châu Khê phụng mệnh lên Thăng Long đúc bạc nén cho triều đình, rồi từ tràng đúc bạc, họ mở cửa hiệu, lập phường, dựng đình, mang cả nếp làng lên phố Hàng Bạc.
tăng
a a
giảm
In bài viết
Vàng Nga đổi hướng, Hồng Kông đón cơ hộiVàng Nga đổi hướng, Hồng Kông đón cơ hội
Giá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnhGiá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội

Lễ hội làm Vàng bạc truyền thống Châu Khê diễn ra vào ngày 18, 19 tháng giêng âm lịch hằng năm. Ảnh tư liệu do người làng Châu Khê cung cấp.

Hơn năm thế kỷ sau, hai địa danh Châu Khê và Hàng Bạc vẫn gắn kết qua lại với nhau bằng nghề làm bạc.

Trong thiên ký sự ghi lại những điều tai nghe mắt thấy Vũ trung tùy bút viết rải rác từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, Phạm Đình Hổ có biên một chương gọi là “Trộm cắp”: “Một hôm, ở phường Đông Các có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tì dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả (mặc cả) giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú già cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mắt, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy”.

Phạm Đình Hổ kể chuyện ấy để nói về mánh khóe của bọn trộm, nhưng người đọc đời sau cũng kịp nhận ra rằng, ở Đông Các khi ấy đã có cửa hiệu buôn bạc nén, có người đến hỏi mua từng chục nén một là việc rất thường tình. Đó là một trong những dấu vết sống động về nghề bạc ở nơi về sau này mang tên là phố Hàng Bạc, Hà Nội.

Lần theo gốc gác những người thợ từng lập nên cả con phố ấy, ta sẽ gặp một ngôi làng cách kinh thành khá xa: Châu Khê, thuộc đất Đường An xưa. Trước đây làng thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; nay thuộc xã Đường An, thành phố Hải Phòng. Khoảng cách Châu Khê - Thăng Long chừng 60km, đi theo đường thủy (sông Hồng) hoặc đường bộ, trên con đường tơ lụa kinh kỳ (tức đường 5 bây giờ), đều được cả, tùy theo số vàng bạc mang theo và nạn trộm cắp dọc đường. Đi cách nào cũng mất khoảng 2-3 ngày, nếu số vàng bạc mang theo lớn, đường thủy có lẽ thường là lựa chọn ưu tiên.

Châu Khê đã có một lịch sử riêng trước khi trở thành làng vàng bạc. Phạm Đình Hổ dành hẳn một thiên khác trong Vũ trung tùy bút để nói về tên làng. Ông kể chuyện Châu Tung Trinh, người thống lĩnh quân Tam Sương thời Trần và một cộng đồng ban đầu mang tên Châu Xá. Trong khảo cứu cuối thế kỷ XX của Tăng Bá Hoành, ở làng còn có chùa Sùng Ân, đình thờ tướng Phạm Sỹ; tiếng chuông chùa từng đi vào câu “Chuông Châu, trống Ủng, mõ Đầu”. Đó là các lớp ký ức và di tích thuộc về ngôi làng cổ, và câu hỏi quan trọng vì thế không chỉ là người Châu Khê đã làm nên một thương hiệu vàng bạc nổi danh lịch sử như thế nào, mà còn là một cộng đồng làng quê đã sống và đổi thay ra sao khi nhiều người dân của họ hội tụ và làm nghề giữa đất kinh kỳ.

Làm bạc cho triều đình

Người Châu Khê kể về khởi đầu nghề bạc của làng bằng tên một vị quan quê mình: Lưu Xuân Tín. Theo tư liệu địa phương được nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành ghi lại trong sách Nghề cổ truyền xuất bản năm 1987, dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông Lưu Xuân Tín làm Thượng thư Bộ Lại và được giao lập xưởng đúc bạc nén tại kinh thành. Ông về quê đưa người làng lên phường Đông Các làm nghề.

Nhiều tài liệu nghiên cứu về phố Hàng Bạc và di tích đình Kim Ngân cũng ghi lại câu chuyện nói trên. Tuy vậy, những tư liệu hiện có chưa cho phép ấn định chắc chắn một năm duy nhất mà xưởng đúc ra đời. Mốc đáng tin cậy để kể là thời vua Lê Thánh Tông, trong nửa sau thế kỷ XV, khoảng chừng 550 năm về trước.

Đúc bạc cho triều đình là việc lớn, có thể gọi là quốc sự, chính sự hoặc quan vụ, không thể giao cho những người xa lạ thiếu tin cẩn. Thượng thư Lưu Xuân Tín đã về làng để đưa người tin cậy đến kinh đô. Tuy nhiên, theo khảo cứu của Nguyễn Đức Kiên trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, nơi người Châu Khê tập trung làm nghề ban đầu lại là phường Đông Các. Từ đó, tay nghề và việc làm ăn mới lan về nguyên quán. Như vậy, người Châu Khê gây dựng nghề ngay tại kinh thành, rồi đem nghề ấy về quê. Vì vậy, đường đi của làng nghề này có hai chiều: người từ làng ly tổ ly hương lên phố làm bạc, hoặc nghề từ phố trở về làng theo bước hồi hương.

Dưới thời Lê, tiền đồng đã được sử dụng rất rộng rãi, nhưng “đúc bạc nén cho triều đình” là đúc bạc có giá trị lớn, được dùng trong những giao dịch quan trọng trên mức thông thường, không phải việc tiêu dùng mỗi ngày ở chợ. Chất liệu càng quý thì việc đúc càng phải đúng. Một nén bạc không thể chỉ trông “sáng màu” là được; người giao bạc và người nhận bạc phải biết nén ấy nặng bao nhiêu, chất bạc ra sao. Bởi vậy, phía sau một khối bạc nhỏ là cả dây chuyền công việc gồm tuyển, nấu, đúc, cân và kiểm nhận. Người thợ bạc Châu Khê được giao làm ra một thứ mà sai một chút về trọng lượng hay chất lượng đều có thể làm mất lòng tin. Được triều đình giao đúc bạc nén là một sự tin cậy lớn, cũng là trách nhiệm với từng phần bạc đưa vào xưởng. Quốc triều hình luật quy định thợ làm đồ vật công mà bớt xén vật liệu phải chịu tội đồ và bồi thường (Điều 205); người làm vàng bạc giả hoặc đồ dùng bằng vàng bạc giả để bán cũng chịu tội đồ (phục dịch), vật giả bị sung công (Điều 523). Những quy định ấy cho thấy sự trung thực về vật liệu và chất lượng thành phẩm đã được đặt dưới phép nước.

550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
Sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao năm 2020

Đúc một nén bạc cần đi qua bao nhiêu bàn tay?

Nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành đã ghi lại khá tỉ mỉ kỹ thuật đúc bạc nén cổ truyền. Những mô tả ông thu thập vào cuối thế kỷ XX giúp ta hình dung phần nào công việc của người thợ thời Lê.

Nguyên liệu đưa vào xưởng đúc có thể là bạc vụn, bạc chưa tinh hoặc bạc đã qua sơ chế. Trước khi đúc nén, thợ phải tuyển bạc để loại bỏ tạp chất. Chiếc nồi dùng cho công đoạn này được làm từ vôi, gạch non và tro bếp; tro củi hoặc tro vỏ bưởi được chuộng vì xốp, nhẹ. Thợ dùng lò và bễ để nấu bạc, theo dõi mặt bạc đang chảy. Họ gọi lớp màng xám là “váng”, còn những hạt đỏ như lửa chạy trên mặt ấy là “sao”. Nhìn sự thay đổi của váng và sao, người thợ giàu kinh nghiệm có thể đoán được bạc đã được tinh luyện tới mức độ nào.

“Váng” và “sao” là ngôn ngữ đặc thù của nghề luyện bạc cổ truyền. Sách cũng ghi việc dùng chì trong quá trình tuyển bạc. Sau khi tuyển, bạc được cân thành từng phần để đúc. Theo quy cách Tăng Bá Hoành ghi nhận, một nén gồm mười lạng bạc. Khuôn đúc gọi là “thảo”, có thể làm bằng đất, đồng hoặc sắt. Thợ làm nóng khuôn, xử lý mặt trong để bạc khỏi dính, rồi rót bạc lỏng vào. Tay cầm chuôi khuôn lắc nhẹ về bốn phía để các cạnh nén bạc hiện rõ. Bạc vừa ra khuôn được gõ sửa cho vuông vắn; mặt trên hơi lõm. Sau khi cân đo, cuối cùng là đóng dấu chìm “thập túc”, nghĩa là đủ mười lạng.

Hai chữ ấy ít lời mà đầy đủ, gắn với tất cả những người tham gia quy trình từ luyện bạc, cân bạc nói riêng và với uy tín của nơi làm ra nó nói chung. Nếu bạc thiếu cân hoặc không đúng chất lượng, điều bị mất đi không chỉ là phần kim loại quý thiếu hụt, mà còn là danh tiếng của cả làng nghề.

Những kỹ thuật cổ truyền này còn nhiều điều đáng để tìm hiểu sâu thêm: cách tuyển bạc, ngả vẩy hàn, đậu vàng, chạm bạc, làm hàng trơn… Nhưng ở điểm khởi đầu của câu chuyện Châu Khê, nén bạc “thập túc” cho thấy một điều rằng, để làm nghề này, đôi tay tài khéo thôi chưa đủ. Người thợ còn phải trọng danh dự, trọng chữ tín, dưới có lệ làng trên có phép vua.

Đưa làng lên phố

Khảo cứu của Tăng Bá Hoành cho thấy, địa điểm tràng đúc bạc xưa tương ứng với số nhà 58 phố Hàng Bạc ngày nay. Bạc nguyên liệu được nhận và bạc nén thành phẩm được giao tại hai ngôi đình của cộng đồng thợ: Đình Thượng ở khu vực nhà số 50 và Đình Hạ, tức đình Kim Ngân, ở nhà số 42 phố Hàng Bạc. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng ghi nhận những địa điểm này khi giới thiệu dấu tích làng nghề trong phố cổ Hà thành. Ba địa chỉ trên phố cổ Hàng Bạc còn giúp ta hình dung một chuỗi công việc: nhận bạc, đưa vào tràng đúc, làm ra nén rồi giao lại.

Người Châu Khê lên kinh kỳ ngày một đông, cả năm giáp của làng đều có người tới phường Đông Các. Họ mở cửa hiệu, làm việc trong những gia đình thợ, nhận hàng của khách hoặc dùng vốn của mình chế tác hàng đem bán. Người có cửa hiệu riêng, người làm thuê, người học việc; phố dần có đời sống của cả một cộng đồng nghề đông đúc chứ không chỉ là một xưởng đúc bạc riêng của triều đình.

Giáp vốn là cách chia và tổ chức người trong làng. Lên phố, các giáp vẫn cùng gánh việc chung, từ khoản đóng góp đến việc cúng tế. Vào dịp lễ xuân và lễ thu, từng giáp, từng người thay phiên lo tiền, gạo, bày cuộc họp mặt của thợ Châu Khê. Bữa hội ở Hàng Bạc nhờ thế không đơn thuần là một ngày nghỉ việc. Nó nhắc những gia đình làm ăn riêng rằng họ còn thuộc về một phường nghề, một gốc gác chung.

Điều đáng nói là họ không cắt đứt với quê cha đất tổ. Có gia đình vẫn giữ ruộng vườn ở Châu Khê để đi về và giữ gốc. Người ở phố vẫn dự việc làng, góp các khoản theo lệ làng, cử người về quê vào dịp lễ hội. Theo Tăng Bá Hoành, cuối thế kỷ XIX, cộng đồng Châu Khê ở Hàng Bạc đã đông đến mức riêng số suất thuế đinh phải đóng lên tới 300. Họ lập giáp ở phố, xây nơi thờ tự để xuân thu tế lễ và cùng nhau lo việc của phường nghề. Lúc này, có thể gọi Hàng Bạc là một Châu Khê khác giữa đất kinh kỳ. Châu Khê ở quê có đình chùa, họ tộc, ruộng đồng; Châu Khê ở phố có xưởng thợ, cửa hiệu, đình thờ và mối làm ăn. Hai nơi cách xa nhau về địa lý nhưng nối với nhau bằng những người vừa là dân làng, vừa là dân phố.

Mối dây ấy còn được giữ qua một cuộc trở về rất đặc biệt. Khảo cứu của Nguyễn Đức Kiên cho biết vào dịp giỗ tổ tháng Giêng, thợ Châu Khê làm ăn ở Hà Nội mang những món đẹp nhất về quê dâng cúng tổ nghề. Nghi lễ có tên là “hiến xảo”, tức dâng cái tài khéo của mình. Người thợ đem một món đồ mình làm ra trình trước làng, để những người cùng nghề nhìn vào đó thấu hiểu tay nghề đã đi xa đến đâu. Có nhiều cuộc thi tay nghề và có nhiều người được công nhận là thợ giỏi. Sau những ngày phải giữ kín bí quyết ở cửa hiệu nơi đông đúc, đây lại là lúc sản phẩm được đem ra cho cả cộng đồng ruột thịt xem.

Tại đình Kim Ngân, những người thợ bạc thờ Hiên Viên Hoàng Đế, nhân vật huyền thoại được tôn là tổ của bách nghệ - trăm nghề. Còn trong ký ức nghề của Châu Khê, Thượng thư Lưu Xuân Tín được tôn là người đã mở đường đưa thợ làng lên kinh thành. Theo quan sát của chúng tôi tại đình làng Châu Khê ngày nay, ngài Lưu Xuân Tín chỉ ngồi dưới thành hoàng làng. Việc thờ tự cho thấy một phường nghề có thể cùng lúc nhớ đến người mở lối riêng cho làng mình và một biểu tượng chung của những người thợ thủ công.

Nhưng sẽ không đầy đủ nếu nói Hàng Bạc như một thành quả của riêng dân làng bạc Châu Khê. Thợ vàng Định Công và thợ bạc Đồng Xâm cũng đến đây hành nghề. Mỗi nhóm mang theo sở trường, kinh nghiệm và mối khách khác nhau. Châu Khê góp lực lượng đông đảo nhất và giữ dấu ấn trọng yếu trong nghề đúc bạc nén, nhưng chính sự tụ hội của nhiều làng thợ kim hoàn mới làm nên phố nghề Hàng Bạc.

Về sau này, cùng với đúc bạc, người ta còn chế tác vàng bạc và đổi tiền. Tên Hàng Bạc gợi nhớ đến chủng loại hàng hóa và nghề nghiệp; còn tên tiếng Pháp thời thuộc địa, Rue des Changeurs - phố của những người đổi tiền - lại giữ một dấu vết khác của hoạt động mua bán trên con phố ấy.

Tràng đúc đi, người thợ ở lại

Đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn định đô ở Huế, công việc đúc bạc phục vụ triều đình cũng dịch chuyển theo. Nhưng theo các tư liệu về Châu Khê, phần lớn người thợ của làng vẫn ở lại Thăng Long làm nghề kim hoàn. Nếu chỉ sống nhờ việc đúc bạc nén cho triều đình, một làng thợ rất dễ mất nghề khi công việc ấy dời đi. Người Châu Khê đã tìm đường khác cho những đôi bàn tay thủ công điêu luyện: từ bạc nén sang đồ trang sức, đồ dùng, hàng chạm, hàng trơn và những việc gia công theo yêu cầu của khách thập phương.

Một chiếc nhẫn trơn phải cân đối, đúng cỡ, nhẵn bóng; món đồ chạm bạc đòi hỏi nét ve chính xác; một mối hàn phải kín và sạch. Tăng Bá Hoành nhận xét rằng, hàng trơn trông có vẻ đơn giản nhưng chính vì không có hoa văn che mắt, sự lệch lạc hay thô vụng lại càng dễ lộ. Người thợ cần phải làm nên cả vẻ đẹp, sự vừa vặn và hữu dụng của mỗi món đồ.

Những món đồ ấy bước vào đời sống theo nhiều cách. Sách Nghề cổ truyền kể chuyện trẻ nhỏ được đeo vòng bạc, trên vòng có khánh khắc chữ “Mệnh” hoặc “Bản mệnh trường sinh”, có khi gắn thêm ba quả chuông bé xíu. Đứa trẻ chạy nhảy, những quả nhạc phát tiếng “đung - đinh” đầy duyên dáng, giàu sang và gia thế. Với người lớn, đồ được ưa chuộng là đôi khuyên, chiếc nhẫn, sợi xà tích, hộp trầu, ống điếu bịt bạc. Một người đặt thợ làm đồ có thể chỉ muốn chiếc nhẫn thật vừa tay; người khác lại muốn món bạc để cho con, để dùng trong nhà hoặc để lưu một lời cầu chúc. Cùng một chất bạc, yêu cầu của mỗi người mỗi khác, buộc người thợ phải hiểu món đồ sẽ đi vào cuộc sống theo nẻo đường nào.

Nghề bạc được truyền dạy trong nhà, bên bàn thợ. Theo tư liệu Tăng Bá Hoành thu thập, người học có thể mất ba đến bốn năm mới thành nghề, rồi tiếp tục làm việc cho thầy đến lúc đủ thạo nghề. Bí quyết được giữ kín, nhưng sự tin cậy thì không thể giấu trong một gian nhà nhỏ. Bạc có đúng tuổi không, cân có đủ không, thợ nhận của khách rồi giao có đúng hẹn không; mỗi lần mua bán lại là một lần cửa hiệu tự gây dựng hoặc đánh mất tên mình.

Tăng Bá Hoành mô tả chiếc bàn thợ chỉ rộng khoảng một mét, mặt bàn có gờ để đồ nghề khỏi lăn xuống đất. Phía người ngồi có một rãnh nhỏ cho mạt vàng, bạc rơi xuống khay có chỗ tụ lại. Vàng bạc quý đến mức khi cưa, dũa, người ta cũng phải tìm mọi cách để giữ lại phần bụi vụn ấy. Trên bàn là bễ, đèn thổi, búa, ve chạm, dũa và nhiều dụng cụ nhỏ; thứ nào cần dùng, bàn tay với ra phải chạm đúng vào thứ đó. Cái bàn không lớn, nhưng quanh nó là cả một nghề rất cổ xưa: mắt nhìn nét chạm, tay giữ lực búa, rồi lại quét nhặt những mạt kim loại quý vừa rơi xuống.

Một nghiên cứu về phường nghề ở Hà Nội còn cho biết thợ kim hoàn Châu Khê tại Hàng Bạc từng có “Điều lệ phố chợ kim ngân”. Trong đó có quy định xử phạt người làm trái phép tắc của phố, đồng thời phạt cả người xét việc mà thiên lệch. Điều ấy cho thấy phường thợ không chỉ cùng nhau thờ tổ, ăn hội; họ còn đặt ra lệ để giữ trật tự và thanh danh chung.

Nghề bạc không phải lúc nào cũng chỉ có hưng thịnh. Cuốn Nghề cổ truyền xuất bản năm 1987 ghi lại một giai đoạn thợ Châu Khê phải chuyển sang làm bật lửa, đèn pin và một số hàng kim khí. Năm 1978, hợp tác xã tổ chức làm ba mặt hàng: đèn pin, bật lửa, phanh xe đạp. Riêng năm 1984, có hơn 40 gia đình trong làng vừa làm ruộng vừa sản xuất bật lửa, đạt khoảng 70.000 chiếc. Khuôn, dáng, mối hàn, công đoạn đánh bóng vẫn cần đôi tay điêu luyện từng quen với vàng bạc.

Gần bốn mươi năm sau cuốn sách ấy, bức tranh lại khác. Báo Hải Phòng tháng 11/2025 ghi nhận khoảng 250 hộ ở thôn Châu Khê hiện còn làm nghề vàng bạc; nhiều khâu trước kia phải làm bằng sức người nay có máy hỗ trợ. Con số của năm 1984 và năm 2025 cho thấy hai loại công việc ở hai thời điểm khác nhau. Phạm Đình Hổ chép chuyện một hiệu bạc ở Đông Các bị lừa mất mười nén, còn Tăng Bá Hoành tìm về làng, ghi lại chiếc thảo đúc bạc, bàn kéo sợi vàng, cả những năm người thợ kim hoàn làm bật lửa. Qua các thời đoạn ấy, người thợ kim hoàn Châu Khê - Hàng Bạc nhiều lần đổi đầu việc để mưu sinh, nhưng tay nghề thiện xảo thì đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Đóng góp to lớn của Châu Khê

Qua nhiều thế kỷ, thợ kim hoàn Châu Khê đã có đóng góp to lớn cho nhu cầu sản xuất vàng bạc nén và mỹ nghệ vàng bạc, sáng tạo nhiều kỹ thuật tinh xảo và sản phẩm có giá trị kinh tế và văn hóa lớn hiện nay còn được lưu trong các bảo tàng, góp phần xây dựng nền văn minh của dân tộc. Nay, nguồn kim loại này ngày càng hiếm, nhu cầu về đồ trang sức cũng đổi thay, một số thợ tiếp tục phục vụ cho nhà nước sản xuất một số mặt hàng cho nhu cầu quân sự, khoa học và ngoại thương, một số chuyển sang ngành nghề khác. Nếu được sự giúp đỡ của nhà nước và tìm ra phương hướng thì Châu Khê sẽ trở thành một trung tâm sản xuất hàng kim khí mỹ nghệ và dân dụng…

(Tăng Bá Hoành (chủ biên), Nghề cổ truyền, tập 2, Sở Văn hóa Thông tin Hải Hưng xuất bản, 1987)

Chùm ảnh lễ hội làm Vàng bạc truyền thống Châu Khê diễn ra vào ngày 18, 19 tháng giêng âm lịch hằng năm. Ảnh tư liệu do người làng Châu Khê cung cấp.

550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội
550 năm đỏ lửa tinh hoa giữa Thăng Long - Hà Nội

Huy Minh - Thiên Hương

Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý

Cùng chuyên mục

Giá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh

Ba cuộc trò chuyện ở làng bạc Đồng Xâm

(PetroTimes) - Làng bạc Đồng Xâm (Hưng Yên) nằm yên ả giữa mênh mông lúa. Chúng tôi về chuyến này là để gặp ba trong số những nghệ nhân nổi tiếng nhất của làng.
Giá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh

Phú Quý mang cốt cách Việt Nam đến JGW 2026

(PetroTimes) - Giữa khoảng 3.000 nhà triển lãm đến từ 46 quốc gia và vùng lãnh thổ tại Jewellery & Gem WORLD Hong Kong 2026, một không gian mang tên Phú Quý đã hiện diện với vàng, bạc và những câu chuyện từ văn hóa Việt Nam.
Giá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh

[Longform] Phú Quý mang câu chuyện văn hóa Việt đến Jewellery & Gem WORLD Hong Kong

(PetroTimes) - Jewellery & Gem WORLD Hong Kong - sự kiện thương mại lớn nhất thế giới của ngành trang sức và đá quý - sẽ diễn ra tại Hong Kong (Trung Quốc).
Giá vàng hôm nay 15/10/2026: Vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh

Chuyện truyền kỳ về luyện bạc

(PetroTimes) - Từ những lò luyện có niên đại hàng nghìn năm đến các nhà máy điện phân tự động ngày nay, con người đã không ngừng tìm cách tách bạc khỏi đá, chì, đồng và vô số tạp chất.