banner-phu-quy

GS Bùi Quang Thanh: “Nghề vàng bạc phải chăng đã manh nha sớm từ thời đại Hùng Vương?”

tăng
a a
giảm
In bài viết
(PetroTimes) - GS.TS Bùi Quang Thanh - Nghiên cứu viên cao cấp, Ủy viên Hội đồng khoa học Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã đặt vấn đề như vậy khi chúng tôi đi tìm lai lịch cổ xưa của nghề kim hoàn - vàng bạc nước nhà.
GS Bùi Quang Thanh: “Nghề vàng bạc phải chăng đã manh nha sớm từ thời đại Hùng Vương?”

GS Bùi Quang Thanh trả lời phỏng vấn Chuyên mục Kim loại quý/ PetroTimes. Ảnh: HM

Xin lược ghi lại ý kiến của GS.TS Bùi Quang Thanh tới bạn đọc.

Tổ nghề huyền thoại và Tổ nghề đích thực

Tổ nghề (hay còn gọi bằng các mỹ danh Đức Thánh Tổ, Tổ sư) là định danh tôn vinh của cộng đồng cho một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một hay nhiều nghề nào đó, được cộng đồng tiếp nhận làm sinh kế, tôn trọng và suy tôn là người sáng lập vì đã có công tạo ra nghề, gọi là tổ nghề, lập đền thờ phụng thường niên. Nếu căn cứ vào các nguồn tư liệu văn hóa dân gian, sử học và khảo cổ học thì có thể nhận thấy có hai dạng tổ nghề.

Trước hết, đó là tổ nghề được tôn vinh, truyền lưu như một nhân vật huyền thoại! Ngược dòng tâm thức, trở về với truyền thuyết của thời kỳ sơ sử, không khó để nhận diện “chân dung” về các tổ nghề, in bóng vào tâm thức người đời như một biểu tượng sống động về hình ảnh ông tổ nghề gắn với sinh kế tồn tại của cộng đồng thuở mới lập ra nhà nước Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng. Hàng loạt những câu chuyện lưu truyền quanh vùng đất trung du và châu thổ Bắc Bộ còn kể về Đức tổ Hiên Viên Hoàng Đế Hữu Hùng, hiệu là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên lập ra nhà nước Văn Lang, người đã dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, làm đồ gốm, tôi luyện kim loại làm vũ khí, dụng cụ làm ăn và trang sức, được người dân cả nước tôn vinh là Ông Tổ Bách Nghệ, coi như vị quốc tổ lâu đời nhất trong lịch sử dựng nước của dân tộc Việt. Cho đến nay, các làng Minh Nông, Cổ Tích và Hùng Lô (sau này gọi là các phường của thành phố Việt Trì cũ) vẫn quanh năm phụng thờ Đức vua Hùng, tổ chức hội làng, tưởng nhớ, tri ân ông tổ nghề trồng lúa. Các đền thờ của các làng Đại Lan (Văn Giang cũ) và Kim Ngân (Hàng Bạc, Hà Nội) phụng thờ Hữu Hùng Hoàng Đế - Đức tổ Hiên Viên như một “Bách nghệ Tiên sư”, trong đó mang trọng trách như ông tổ của nghề kim hoàn ở Việt Nam vậy. Rồi khắp vùng Ba Vì thuộc phía tây Hà Nội, các làng quê thuộc Hà Tây cũ đã và đang lưu truyền các hình thức thực hành tín ngưỡng tôn vinh, tri ân Thánh bất tử Sơn Tinh, coi Đức Thánh như ông tổ của các nghề trồng trọt, chăn nuôi, chống lũ lụt, chế tạo các công cụ bằng kim loại để làm ăn, trang sức trong sinh hoạt đời thường, giúp dân sinh tồn, cũng được dân chúng tôn vinh và phụng thờ như biểu tượng một ông tổ “bách nghệ”. Kết hợp với những dấu ấn vật chất được tìm thấy từ các di chỉ khảo cổ kéo dài qua những Chiềng Vậy, Gò Mun, Cổ Loa đối sánh cùng những thực hành tín ngưỡng dân gian và các nghệ thuật ngôn từ dân gian như truyền thuyết, giai thoại, có thể nhận thấy, trong tâm thức người dân vùng Phú Thọ, Hà Tây cũ, vùng trung du và đồng bằng châu thổ sông Hồng, người ta coi Sơn Tinh là bách nghệ tổ sư, một ông tổ nghề mang đậm tính huyền thoại.

Nghề vàng bạc nước ta đã có ít nhất từ 2.000 năm trước?

Quan điểm của GS Bùi Quang Thanh không lẻ loi. Trong cuốn “Nghề kim hoàn, ngọc, sản xuất vàng truyền thống kinh doanh đồ cổ” của Nhà xuất bản Thanh Niên, xuất bản năm 2010, tác giả Bùi Văn Vượng cũng nói rõ điều này. Tác giả nhận định:

“Những phát hiện khảo cổ học gần đây nhất ở Việt Nam đã giúp chúng ta nhìn xa hơn về quá khứ: người Việt có ngay từ thời đại đồ đá mới đã tìm ra vàng bạc, cũng như đã phát hiện và sử dụng nhiều loại đá khác nhau, kể cả đá ngọc. Nhưng buổi ban đầu, người Việt cổ ít quan tâm đến vàng bạc. Phải đến thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt, do kỹ nghệ luyện kim phát triển, vàng bạc mới dần dần được quý trọng. Càng về sau, vàng bạc càng chiếm vị trí hàng đầu trong các kim loại và được sử dụng ngày càng nhiều trong việc chế tác đồ trang sức và đúc tiền.

Dưới thời phong kiến, vàng bạc được cất giữ, lưu hành và sử dụng bằng nhiều hình thức, kiểu loại khác nhau: vàng thoi, bạc nén làm tiền tệ và cũng là tài sản quý được cất giữ, làm nguyên liệu trang trí và sản xuất đồ trang sức, làm cống phẩm dưới dạng các bảo vật là chủ yếu.

Như vậy, nghề vàng bạc ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm, cách chúng ta vào khoảng trên 2.000 năm. Nhưng phải đến khoảng thế kỷ thứ VII trở đi, nghề chạm vàng bạc (nghề kim hoàn) ở nước ta mới phát triển mạnh và phát triển rực rỡ dưới thời Lý - Trần, với kỹ thuật chế tác đạt tới trình độ điêu luyện”.

Trên đường đi khảo cứu, tìm hiểu lịch sử về ông tổ của nghề kim hoàn ở Việt Nam, có thể hướng đến nguồn tư liệu trong cuốn sách "Thời đại Hùng Vương: Lịch sử - Kinh tế - Chính trị - Văn hóa - Xã hội" do Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Hưng biên soạn, vốn chắt lọc kết quả nghiên cứu về Thời đại Hùng Vương từ những năm 60-70 thế kỷ trước, từ đây có thể minh giải cho thấy việc chế tác kim loại thời Hùng Vương đã xuất hiện khá thành thạo. Biểu hiện rõ nhất là thông qua những hiện vật về kim loại chủ yếu là đồng, sắt. Trên mặt trống đồng người ta đã gò - đúc những hình người nhảy múa, cắm lông chim và các hình hoa văn. Điều đó ít nhiều đã thể hiện có sự chế tác những đồ trang sức gắn với kim loại. Dù rằng, hiện vẫn chưa phát hiện được đồ trang sức gắn đích thực với vàng và bạc, mà chỉ có đồ trang sức gắn với đồng và sắt, vẫn có thể cho phép hình dung ra khả năng và trình độ chế tác kim loại thời đại này đã khả dĩ tạo nguồn và cơ sở để sáng tạo ra những hiện vật trang sức bằng vàng bạc trong sinh hoạt đời sống văn hóa cư dân Việt Mường sau đó!

Thứ hai là những ông tổ nghề đích thực, có thật trong lịch sử. Đương nhiên, với những người được tôn vinh là ông tổ một nghề, nghề đó đích thị phải do ngài ấy sáng tạo ra, sau đó trao truyền cho một hay nhiều địa phương nào đấy, hoặc là địa phương của quốc gia khác trong những hoàn cảnh/bối cảnh lịch sử nhất định. Khi ngài mất đi, dân làng tôn vinh, thờ phụng anh linh ngài. Có những làng, tổ nghề còn được phối thờ với các thành hoàng khác của làng và những dấu tích ấy thường được trân trọng khắc vào văn bia, ghi trong những thần tích, ngọc phả của gia đình hoặc dòng họ và của làng. Đấy là những tổ nghề đích thực. Và tổ nghề đích thực thì nhiều khi không phải chỉ có một người. Bởi vì đôi khi có hai, ba ngài học cùng nghề hoặc là từ một tổ nghề nhưng tỏa đi hai, ba nơi. Hai, ba nơi ấy lại thờ thành hai, ba tổ nghề. Tổ nghề đích thực thường để lại dấu ấn bền vững nhất trong những giai đoạn khi người Việt chưa có chữ viết. Đó là đi vào tín ngưỡng, đi vào thờ phụng.

Thường thì chỉ có Việt Nam mới có truyền thống sống theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Khi nhân dân đã tôn vinh ai thì sau khi người đó mất đi sẽ được thờ cúng. Tổ nghề được gắn với thực hành tín ngưỡng luôn bền vững trong tâm thức cộng đồng, bởi vì không ai thay đổi được ngày giỗ - ngày tưởng nhớ tri ân của hậu sinh. Ở phương Tây, người ta coi trọng sinh nhật nhưng ở phương Đông người ta lại coi trọng ngày giỗ. Với người Việt, ngày giỗ tổ nghề cũng thường là ngày hội làng, trong khoảng thời gian linh thiêng đó, diễn trình lễ hội chính là những cuộc tái hiện về công danh hoặc sự nghiệp của tổ nghề, đi kèm cùng trò chơi dân gian, ẩm thực, nhiều khi gắn với một số tục hèm để làm tăng tính thiêng của sự kiện và nhân vật được phụng thờ. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, Việt Nam có khoảng hai nghìn làng nghề truyền thống, trong đó đã có đến 60% số làng có thờ tổ nghề và tổ chức sinh hoạt hội làng thường niên.

Tuy nhiên, với sự hiện diện của thực hành tín ngưỡng phụng thờ các ông/bà tổ nghề đích thực, cần thấy rõ, người được tôn vinh là tổ nghề đích thực cũng chưa hẳn là do ngài ấy tự sáng tạo ra nghề, mà có không ít trường hợp, nghề đó được tiếp nhận, học hỏi từ địa phương khác, thậm chí từ quốc gia khác, rồi mang về truyền dạy cho người sở tại mà thành. Từ đấy, được cộng đồng sở tại tôn vinh là tổ nghề, chết đi được thờ phụng, tri ân thông qua các hình thức thực hành tín ngưỡng, hội hè, trong vị thế thành hoàng làng (thờ tại đình làng) hoặc vai vế của một vị thần/thánh (thờ tài đền, miếu), trở thành chủ điện thờ của làng hoặc dòng họ của chính vị tổ nghề đó!

Nghề kim hoàn không phải từ phía Bắc tràn xuống phía Nam

Bước đầu, đã có thể đặt vấn đề về một giả thuyết khoa học như vậy. Xét trên thực tế các nguồn tư liệu có khả năng suy luận, quanh vùng Cổ Loa, giới khảo cổ học đã thu nhận được các hiện vật cụ thể như bếp dùng như một lò nấu đồng, một số khuôn đúc đồng. Nhà sử học Lê Văn Lan đã từng chia sẻ trong phần biên soạn về đời sống văn hóa xã hội Thời đại Hùng Vương rằng, trước công nguyên khoảng 1.000 - 2.000 năm, người ta đã biết đến các đồ trang sức, biết trang điểm từ các trang sức bằng đá và kim loại. Cuối thế kỷ II - đầu thế kỷ III, theo chỉ dẫn của giới khoa học trong nước, trong cổ sử của Trung Quốc và Việt Nam có ghi lại câu chuyện Sĩ Nhiếp sang cai trị Giao Châu, được nhân dân và sử sách tôn kính gọi là “Sĩ Vương”.

GS Bùi Quang Thanh: “Nghề vàng bạc phải chăng đã manh nha sớm từ thời đại Hùng Vương?”
Nhẫn vàng Óc Eo. (Ảnh: Trịnh Thông Thiện)

Trong cuốn “Nghề kim hoàn, ngọc, sản xuất vàng truyền thống kinh doanh đồ cổ” của Nhà xuất bản Thanh Niên, xuất bản năm 2010 tác giả Bùi Văn Vượng cho biết: “Trong các sách cổ sử Trung Quốc, có ghi các danh mục cống phẩm của Giao Châu do Thứ sử Sĩ Nhiếp (vào khoảng năm 187 - 226 sau CN) nộp cho triều đình phong kiến Trung Quốc. Trong danh mục ấy, vàng bạc châu báu được ghi ở hàng đầu. Đó là những đồ vật làm bằng vàng và bằng bạc. Những ghi chép đó rất phù hợp với những kết quả nghiên cứu khảo cổ học về sau ở nước ta. Trong nhiều mộ cổ có niên đại thế kỷ II - III (sau CN), các nhà khảo cổ học đã tìm thấy khá nhiều đồ trang sức bằng vàng, ngọc được gia công tinh tế. Sử cũ của ta và của Trung Quốc còn cho biết: thời thuộc Tề (năm 479 - 502) cứ vài năm một lần, Giao Châu phải cống nạp cho triều đình phương Bắc mũ đầu bằng bạc mạ vàng. Những phát hiện khảo cổ học gần đây nhất ở Việt Nam đã giúp chúng ta nhìn xa hơn về quá khứ: người Việt ngay từ thời đại đồ đá mới đã tìm ra vàng bạc cũng như đã phát hiện và sử dụng nhiều loại đá khác nhau, kể cả đá ngọc. Nhưng buổi ban đầu, người Việt cổ ít quan tâm đến vàng bạc. Phải đến thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt, do kỹ nghệ luyện kim phát triển, vàng bạc mới dần dần được quý trọng. Càng về sau, vàng bạc càng chiếm vị trí hàng đầu trong các kim loại và được sử dụng ngày càng nhiều trong việc chế tác đồ trang sức và đúc tiền”.

Kỹ thuật làm đồ trang sức siêu hạng của cư dân văn hóa Óc Eo

Cuộc khai quật khảo cổ di tích Óc Eo - Ba Thê (TT.Óc Eo, H.Thoại Sơn, An Giang) kéo dài từ tháng 8/2017 - 6/2020 đã phát hiện một chiếc nhẫn vàng duy nhất trong địa tầng. Nhẫn kim loại màu vàng được đúc nguyên khối, phía trên là hình ảnh bò thần Nandin (vật thiêng để cưỡi của thần Shiva) được tạo hình theo phong cách tả thực tai, mắt, sừng, móng, chùm lông ở đuôi.

Theo Viện Khảo cổ học, hai bên thành nhẫn phía sau và phía trước của bò Nandin được trang trí hoa văn cánh hoa sen hay hình lá cây trông như hình chiếc đinh ba. Chiếc nhẫn nằm ở lớp văn hóa thuộc giai đoạn thế kỷ 3 - 5, sâu khoảng 1,5m so với lớp đất mặt. Theo hồ sơ bảo vật quốc gia, nhẫn Nandin Giồng Cát được chế tác với kỹ thuật kết hợp đúc và chạm. Đây là loại hình có số lượng tìm thấy không nhiều trong văn hóa Óc Eo, đặc biệt là nhẫn có mặt hình động vật.

Hiện vật được chế tác với những chi tiết nhỏ, tinh tế, đòi hỏi trình độ chế tác rất cao. Người thợ kim hoàn thời kỳ này đã rất thành thục các kỹ thuật chế tác phức tạp và đạt tới trình độ điêu luyện từ luyện vàng đến khâu đúc hay dát mỏng, kéo thành sợi, cắt, giũa. Các thành viên Hội đồng Di sản Quốc gia còn cho rằng, đặc điểm hình dạng và cấu trúc tổng thể của hiện vật cho thấy đây là hiện vật thuộc loại đẹp nhất trong khu di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo - Ba Thê. “Nhẫn Nandin cùng với nhiều hiện vật và vàng lá tìm được trong văn hóa Óc Eo, minh chứng Óc Eo có một nền kinh tế rất phát triển và có giao lưu thương mại với nhiều nước trên thế giới qua con đường tơ lụa trên biển”, hồ sơ nêu rõ. Bên cạnh đó, nhẫn Nandin Giồng Cát được một số nhà khoa học đánh giá là hiện vật được các quý tộc sử dụng.

Cần lưu ý rằng báo chí và khảo cổ học chính thống khẳng định thời đại Hùng Vương (tương ứng với các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và đỉnh cao là Đông Sơn) chưa sử dụng vàng hay bạc để đúc tiền hoặc làm đồ trang sức phổ biến hoặc chưa có bằng chứng khảo cổ cụ thể.

Văn hóa Đông Sơn hình thành và phát triển từ khoảng thế kỷ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 1 - 2 sau Công nguyên. Văn hóa Óc Eo ra đời và phát triển từ khoảng thế kỷ 1 sau Công nguyên đến thế kỷ 7 sau Công nguyên. Có một số giai đoạn tiền Óc Eo xuất hiện sớm hơn từ thế kỷ 2 trước Công nguyên nhưng giai đoạn rực rỡ nhất vẫn là sau Công nguyên.

Như vậy, có thể suy đoán vững chắc rằng, để có được loại hiện vật cao cấp như thế mang đi cống nạp cho chính quốc, chắc hẳn nghề vàng bạc phải xuất hiện ở nước ta từ trước thời Sĩ Vương rất lâu, cụ thể là phải có từ thời đại Hùng Vương!

Về tư liệu gắn với ông tổ vàng bạc đá quý sớm nhất mà hiện nay mọi người biết được, chúng ta đã và đang được tiếp nhận công trình biên khảo “Vàng bạc đá quý mỹ nghệ kim hoàn” của Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ xuất bản năm 2010, tác giả PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh đã cung cấp một tư liệu văn hóa dân gian. Theo ông: Dân gian kể rằng, vào khoảng nửa sau của thế kỷ thứ sáu, tức là vào thời kỳ tồn tại của nước Vạn Xuân (Lý Bí đánh tan giặc Lương) ở làng Định Công (nay thuộc Hà Nội) có ba anh em người họ Trần là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Diều. Ba anh em họ Trần tuy sớm bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng họ ở với nhau rất thuận thảo. Trần Hòa, Trần Điện đều nổi tiếng khéo tay hơn người. Do hoàn cảnh lịch sử, ba anh em đành phải bỏ làng ra đi, may mắn học được nghề làm thủ công mỹ nghệ vàng bạc. Nhờ chịu thương chịu khó, lại nhờ có chút năng khiếu bẩm sinh, chẳng bao lâu tất cả trở thành thợ lành nghề có kỹ xảo rất điêu nghệ. Trở về nơi chôn nhau cắt rốn là làng Định Công, cả ba anh em cùng nhau mở tiệm làm đồ trang sức vàng bạc, lấy tên là tiệm Kim Hoàn. Những món nữ trang vàng bạc của họ càng ngày càng được khách hàng gần xa ưa thích. Khách thập phương tìm đến tiệm Kim Hoàn ngày một đông. Ba anh em họ Trần bèn nghĩ cách truyền nghề cho dân làng, vì thế, làng Định Công dần nổi tiếng với nghề làm đồ trang sức bằng vàng. Sau khi mất đi, cả ba anh em được dân làng tôn là vị tổ của nghề Kim hoàn Định Công, lập đền thờ nhang khói quanh năm.

Câu chuyện khảo cứu tổ nghề vàng bạc kim hoàn còn được bắt gặp ở nhiều địa phương khác. Chẳng hạn, tập sách “Câu chuyện nghề nghiệp” tập I đã cung cấp một tư liệu mới về công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam được lưu truyền cho đến ngày nay chính là hai vị tổ sư họ Cao: Cao Đình Độ và Cao Đình Hương, xuất thân từ Cẩm Thủy, Thanh Hóa vào khoảng thế kỷ XVI - XVII. Không những tiếp thu được nghề luyện kim hoàn và truyền dạy cho con cháu tại quê nhà, hai cao nhân còn truyền nghề ra nhiều vùng quê khác, từ Huế đến Thành phố Hồ Chí Minh. Còn theo tác giả tập sách “Câu chuyện nghề nghiệp”, dưới thời Lê Thánh Tông (1461), trong làng Trần Khê (huyện Bình Giang - tỉnh Hải Dương) có ông Lưu Xuân Tín được vua cho phép lập nên một trang đúc bạc và tiền ở Thăng Long, sau đó làm tới chức Thượng Thư Bộ Lại rồi được tôn làm thủy tổ của nghề đúc bạc. Về sau, người làng của ông ra Thăng Long hành nghề ngày càng đông. Phố Hàng Bạc được thành lập từ đó. Câu chuyện móc nối nghề kim hoàn từ một làng quê với phố phường nơi đô hội danh tiếng này đã được nghiên cứu chuyên sâu trong một luận án tiến sĩ, bảo vệ thành công tại Học viện Khoa học Xã hội năm vừa qua…

Tựu chung lại, cho đến nay, thật khó có được những nguồn tư liệu chính xác để chỉ ra một cách đích thực Thủy tổ của nghề kim hoàn ở Việt Nam! Thực tế cho thấy, trải qua ngót hai chục thế kỷ, nghề vàng bạc đá quý hay còn gọi chung là nghề kim hoàn ở Việt Nam đã được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, ở nhiều địa phương khác nhau và đương nhiên cũng ở nhiều hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử khác nhau. Vì thế, việc hiện đã và đang có một đội ngũ các nghệ nhân khác nhau được tôn vinh và tri ân là tổ sư của nghề kim hoàn ở các làng quê từ Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế và Thành phố Hồ Chí Minh cũng là minh chứng sinh động cho một mẫu số: Nghề kim hoàn luôn được người Việt Nam quan tâm, trao truyền phát triển mở rộng cho nhiều thế hệ, ở mọi vùng miền trên phạm vi cả nước, trở thành một trong những làng nghề cao quý, được xã hội trân trọng và ngưỡng mộ.

Như vậy, bằng những nguồn tư liệu có phần eo hẹp nhưng không thiếu căn cứ cho luận cứ khoa học, có thể thấy rằng, nếu suy luận theo các tư liệu cổ sử đã đề cập sơ lược trên đây, với thực trạng trong lịch sử liên quan đến việc nước Việt ta đã từng chế tác được những vật phẩm từ vàng bạc, châu báu để mang đi cống nạp thì tức là đã có người thăm dò, khai thác và chế tác vàng bạc ít nhất là từ giữa thời đại Hùng Vương. Có như vậy, sang đầu Công nguyên mới có những đồ vật tinh xảo để đi cống nạp. Như thế là ở thời đại Hùng Vương, trình độ văn minh có thể đã đạt đến một mức độ nhất định về kỹ nghệ trang sức. Trống đồng Đông Sơn còn chế tác được thì làm một vài món kim hoàn vàng bạc không phải là việc khó.

Cũng từ đây, có thể có căn cứ để giả thiết hoặc khẳng định rằng, nghề kim hoàn chắc hẳn không phải từ phương Bắc tràn xuống nước ta. Vậy nên, suốt thời kỳ Bắc thuộc, hằng năm việc cống nạp nối tiếp nhau diễn ra, từ phương Nam gồng gánh mang lên phương Bắc. Và đương nhiên, thực tế đó là hệ quả của thực tiễn chúng ta đã có nguyên vật liệu vàng bạc được khai thác, có kỹ năng chế tác vàng bạc, có nhân công - nghệ nhân chế tác vàng bạc và có các tổ nghề vàng bạc ngay từ thời đại Hùng Vương. Thời gian sẽ minh định cho logic khoa học này!

Kết thúc buổi trò chuyện với chúng tôi, GS.TS Bùi Quang Thanh một lần nữa nhấn mạnh: “Nghề kim hoàn là một trong những nghề kim khí ra đời rất sớm ở Việt Nam, chí ít cũng cách đây khoảng 2.000 - 3.000 năm. Và như vậy, nghề kim hoàn ở Việt Nam rất nhiều khả năng là một trong những nghề bản địa, có vai trò quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế, thẩm mỹ và bảo tồn văn hóa truyền thống. Nghề kim hoàn đã và đang góp phần làm giàu cho kho tàng mỹ thuật dân tộc, làm giàu cho chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và quảng bá giá trị di sản văn hóa Việt Nam, hiện tại và lâu dài!

GS Bùi Quang Thanh: “Nghề vàng bạc phải chăng đã manh nha sớm từ thời đại Hùng Vương?”
Linga vàng Óc Eo. (Ảnh: Trịnh Thông Thiện)

Nghề vàng bạc nước ta đã có ít nhất từ 2.000 năm trước?

Quan điểm của GS Bùi Quang Thanh không lẻ loi. Trong cuốn “Nghề kim hoàn, ngọc, sản xuất vàng truyền thống kinh doanh đồ cổ” của Nhà xuất bản Thanh Niên, xuất bản năm 2010, tác giả Bùi Văn Vượng cũng nói rõ điều này. Tác giả nhận định:

“Những phát hiện khảo cổ học gần đây nhất ở Việt Nam đã giúp chúng ta nhìn xa hơn về quá khứ: người Việt ngay từ thời đại đồ đá mới đã tìm ra vàng bạc, cũng như đã phát hiện và sử dụng nhiều loại đá khác nhau, kể cả đá ngọc. Nhưng buổi ban đầu, người Việt cổ ít quan tâm đến vàng bạc. Phải đến thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt, do kỹ nghệ luyện kim phát triển, vàng bạc mới dần dần được quý trọng. Càng về sau, vàng bạc càng chiếm vị trí hàng đầu trong các kim loại và được sử dụng ngày càng nhiều trong việc chế tác đồ trang sức và đúc tiền.

Dưới thời phong kiến, vàng bạc được cất giữ, lưu hành và sử dụng bằng nhiều hình thức, kiểu loại khác nhau: vàng thoi, bạc nén làm tiền tệ và cũng là tài sản quý được cất giữ, làm nguyên liệu trang trí và sản xuất đồ trang sức, làm cống phẩm dưới dạng các bảo vật là chủ yếu.

Như vậy, nghề vàng bạc ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm, cách chúng ta vào khoảng trên 2.000 năm. Nhưng phải đến khoảng thế kỷ thứ VII trở đi, nghề chạm vàng bạc (nghề kim hoàn) ở nước ta mới phát triển mạnh và phát triển rực rỡ dưới thời Lý - Trần, với kỹ thuật chế tác đạt tới trình độ điêu luyện”.

Bộ Linga bằng đồng - vàng đặc biệt hiếm có

Theo UBND tỉnh An Giang, Óc Eo là một trong ba nền văn hóa lớn cùng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh Đông Sơn miền Bắc, Sa Huỳnh miền Trung. Văn hóa Óc Eo hình thành trong khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII, thuộc vương quốc Phù Nam - quốc gia cổ hình thành sớm nhất Đông Nam Á. Bộ linga - yoni (biểu tượng bộ phận sinh dục của nam và nữ) bằng kim loại vàng và đồng thau, được phát hiện ở khu di tích Đá Nổi, huyện Thoại Sơn năm 1985.

Đa phần các bộ linga - yoni làm bằng đá. Đây là hiện vật hiếm hoi được chế tác bằng kim loại vàng, đồng thau ghép lại thành khối thống nhất. Hiện vật cao 10 cm, rộng 12,2 cm, nặng khoảng 2,6 kg. Đây là một bộ linga - yoni có cấu trúc ba phần là linga, yoni cùng khối bệ và tấm kim loại biểu tượng của bộ phận yoni ghép lại với nhau.

Trong đó linga được chế tác kim loại vàng, yoni và phần bệ được đúc bằng đồng thau. Bên dưới là khối bệ ba tầng cũng làm bằng đồng thau. Cách thể hiện linga xuyên thủng yoni mang tính tượng trưng cao, sinh động, thể hiện đậm nét nội dung tôn giáo của Ấn Độ giáo và sự sáng tạo của người thợ thủ công. Hiện vật tiêu biểu cho dấu ấn của văn hóa Ấn Độ du nhập ở vùng đất Nam Bộ và khu vực Đông Nam Á, được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2018.

Huy Minh - Thiên Hương (ghi)

Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý

Cùng chuyên mục

Giá vàng hôm nay 4/6: Tiếp tục lao dốc

Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?

(PetroTimes) - Trên bước đường tìm hiểu về kim hoàn Việt Nam, chúng tôi tìm tới Thư viện Quốc gia. Điều khá bất ngờ là sách về nghề kim hoàn khá hiếm hoi, nhưng lượng thông tin lưu giữ bên trong lại rộng và sâu hơn tưởng tượng rất nhiều.
Giá vàng hôm nay 4/6: Tiếp tục lao dốc

Kim hoàn - nghề thủ công lâu đời và cao quý bậc nhất của nhân loại

(PetroTimes) - Nghề kim hoàn gắn liền với tiến trình lịch sử văn minh trải dài hàng vạn năm, là minh chứng cho trí tuệ và tình yêu cái đẹp của nhân loại từ thời kỳ tiền sử cho đến ngày nay.
Giá vàng hôm nay 4/6: Tiếp tục lao dốc

Khởi đăng loạt bài: “Nghề kim hoàn Việt Nam”

(PetroTimes) - Kim hoàn là nghề cao quý.
Giá vàng hôm nay 4/6: Tiếp tục lao dốc

7 điều thú vị về bạch kim có thể bạn chưa biết

(PetroTimes) - Khi người dân khắp Vương quốc Anh và các nơi khác trên thế giới kỷ niệm Đại lễ Bạch kim của Nữ hoàng Elizabeth II vào tháng 6 năm 2022, nhiều người đã tự hỏi bạch kim là gì?