banner-phu-quy

Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?

tăng
a a
giảm
In bài viết
(PetroTimes) - Trên bước đường tìm hiểu về kim hoàn Việt Nam, chúng tôi tìm tới Thư viện Quốc gia. Điều khá bất ngờ là sách về nghề kim hoàn khá hiếm hoi, nhưng lượng thông tin lưu giữ bên trong lại rộng và sâu hơn tưởng tượng rất nhiều.
Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?
Đền thờ Tổ nghề Kim hoàn ở Định Công - Hà Nội. Ảnh: Huy Minh

Càng đọc, chúng tôi càng nhận ra một điều thú vị: nghề kim hoàn Việt Nam dường như không chỉ có một vị tổ nghề duy nhất.

Trong các tư liệu hiện còn, có những nhân vật được triều đình sắc phong và ghi nhận rõ ràng bằng hệ thống văn bản dưới triều Nguyễn. Nhưng cũng có những vị tổ nghề tồn tại mạnh mẽ trong ký ức dân gian, trong truyền thuyết của các làng nghề và trong tín ngưỡng của người thợ vàng bạc nhiều thế hệ.

Điểm chung của họ là đều được xem như những người có công khai sáng, truyền dạy hoặc mở mang nghề vàng bạc nước nhà.

Những người “khai sáng” ngành kim hoàn Việt Nam

Trong cuốn “Câu chuyện nghề nghiệp” - Cuốn 1 - “Nghề mỹ nghệ kim hoàn” do Vietbooks và Nhà xuất bản Thông tấn xuất bản giai đoạn 2004 - 2005, phần viết về tổ nghề gọi họ bằng một cụm từ rất đáng chú ý: “những người khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam”.

Theo cuốn sách, người Việt từ xưa vốn có truyền thống thờ tổ nghề để tưởng nhớ những người có công truyền nghề cho hậu thế. Hầu hết các nghề truyền thống đều có tổ nghề riêng. Nghề kim hoàn cũng vậy.

Tư liệu trong sách cho rằng, mặc dù chưa xác định được chính xác tổ nghề kim hoàn xuất hiện từ thời đại nào, nhưng khoảng hơn 300 năm trước, những người có công khai sáng ngành kim hoàn đã được triều đình nhà Nguyễn sắc phong dưới các triều Khải Định và Bảo Đại. Hai nhân vật được nhắc đến nhiều nhất là Cao Đình Độ và Cao Đình Hương.

Theo sách, ông Cao Đình Độ sinh năm 1744 tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ ông được học Nho học nhưng lớn lên làm nghề bịt đồng. Tuy nhiên, niềm đam mê lớn nhất của ông lại là nghề kim hoàn.

Ở thời điểm đó, kỹ thuật chế tác vàng bạc tinh xảo phần lớn nằm trong tay các thợ người Hoa tại Thăng Long. Để học được nghề, ông Cao Đình Độ phải cải trang thành người Hoa để xin vào làm việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long. Nhờ tính hiếu học và lòng trung thực, ông được chủ tiệm quý mến và truyền nghề. Từ chỗ làm các việc nhỏ nhặt, ông dần nắm được kỹ thuật chế tác vàng bạc, chạm trổ và cả cách chế tạo dụng cụ nghề nghiệp. Bằng sự thông minh và chăm chỉ, tay nghề của ông ngày càng tinh xảo, đủ sức cạnh tranh với các thợ kim hoàn người Hoa tại Thăng Long thuở ấy.

Năm 1783, ông đưa gia đình vào làng Kế Môn, huyện Phong Điền, Thuận Hóa để lập nghiệp và truyền nghề lại cho con. Con trai ông là Cao Đình Hương nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật chế tác vàng bạc và trở thành một nghệ nhân thành thục.

Từ đây, Kế Môn dần trở thành một làng nghề kim hoàn nổi tiếng ở miền Trung.

Theo cuốn sách, dưới thời vua Quang Trung, danh tiếng của cha con ông Cao Đình Độ lan tới triều đình. Năm 1790, vua Quang Trung triệu hai cha con cùng một số thợ bạc làng Kế Môn vào triều để lập cơ vệ Ngân Tượng - nơi chuyên nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ vàng bạc và chế tác đồ trang sức cho cung điện.

Đây là một chi tiết rất đáng chú ý.

Bởi trong xã hội phong kiến, nghề kim hoàn không đơn thuần chỉ là nghề thủ công dân gian. Những người thợ giỏi còn trực tiếp tham gia chế tác vật phẩm cho triều đình, từ đồ trang sức, đồ nghi lễ cho tới những bảo vật bằng vàng bạc phục vụ cung vua. Nói cách khác, nghề kim hoàn vừa thuộc về đời sống dân gian, vừa hiện diện trong không gian quyền lực cung đình.

Điều đặc biệt là sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, nhiều thành tựu văn hóa thời Tây Sơn bị phá hủy, nhưng ngành Ngân Tượng vẫn được bảo tồn. Cha con ông Cao Đình Độ và nhóm thợ làng Kế Môn tiếp tục được vua Gia Long trọng dụng, cấp bổng lộc và giữ nguyên tước cũ để tiếp tục nghề kim hoàn trong cung điện.

Năm 1810, ông Cao Đình Độ qua đời, hưởng thọ 66 tuổi.

Dù tiếp tục giữ chức trong triều đình, Cao Đình Hương dần nhận ra rằng nếu nghề kim hoàn chỉ quanh quẩn trong cung vua thì sớm muộn cũng bị mai một. Vì thế, ông quyết định rời khỏi môi trường cung đình để tìm người truyền nghề.

Đây có lẽ là một trong những lý do quan trọng khiến cha con họ Cao được nhiều thế hệ thợ kim hoàn tôn kính như tổ nghề khai sáng.

Trong nhiều nghề thủ công truyền thống, giữ nghề đã khó, nhưng truyền nghề còn khó hơn nhiều.

Theo sách, quan Thượng thư Bộ Lại ở Thuận Hóa lúc bấy giờ là Trần Minh cùng vợ là Huỳnh Thị Ngọc đã mời Cao Đình Hương về dinh phủ để dạy nghề cho ba người con trai là Trần Hòa, Trần Điện, Trần Diên và ba người cháu là Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật.

Sau nhiều năm học nghề, những người học trò ấy tiếp tục mang nghề kim hoàn tỏa đi nhiều hướng.

Ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Diên ra Thăng Long mở lò thợ bạc và thu nhận đệ tử. Trong khi đó, anh em họ Huỳnh xuôi vào phương Nam, dừng chân tại Phan Thiết để vừa truyền nghề vừa lập nghiệp. Nghề kim hoàn ở Phan Thiết được hình thành từ đó.

Thời điểm ấy, nghề kim hoàn ở phía Nam vẫn chưa phổ biến rộng rãi. Từ Thăng Long, anh em họ Trần tiếp tục xuôi vào Gia Định - Chợ Lớn, nơi có thương cảng sầm uất với hoạt động buôn bán nhộn nhịp của thương hồ từ nhiều vùng đất khác nhau. Ba ông mở lò thợ bạc tại khu vực cảng Bình Đông ngày nay và truyền nghề cho hàng chục lò thợ bạc ở Chợ Lớn trước khi tiếp tục hành trình sang các tỉnh miền Tây rồi qua Campuchia, Thái Lan… Cuốn sách viết rằng về sau họ mất ở đâu không ai rõ.

Nếu cha con họ Cao được xem là những người có công khai sáng nghề kim hoàn ở miền Trung, thì họ Trần và họ Huỳnh được xem là những người góp phần phổ biến nghề kim hoàn từ Bắc vào Nam.

Chính vì thế, họ được nhiều người trong nghề tôn vinh là tổ sư đời thứ hai của ngành kim hoàn Việt Nam.

Những sắc phong còn lưu giữ

Điểm đáng chú ý trong hệ thống tư liệu về tổ nghề kim hoàn là sự xuất hiện của nhiều sắc phong triều Nguyễn còn được lưu giữ đến ngày nay.

Theo cuốn sách, tại nhà thờ tổ nghề kim hoàn ở Huế và Lệ Châu hội quán tại thành phố Hồ Chí Minh hiện vẫn còn lưu giữ nhiều sắc phong dành cho các vị tổ nghề.

Triều đình nhà Nguyễn từng phong cho ông Cao Đình Độ hàm cấp “Tiến sĩ khai hóa kim ngân”, phẩm tước “Đức bảo Trung hưng”, chức Lãnh binh dưới thời Gia Long. Sau khi mất, ông tiếp tục được phong tước hiệu “Đệ nhất tổ sư”.

Những mỹ tự này không chỉ có ý nghĩa tôn vinh cá nhân. Cụm “khai hóa kim ngân” có thể hiểu là người mở mang, khai sáng nghề vàng bạc. Hai chữ “kim ngân” vốn chỉ vàng và bạc, còn “khai hóa” nhấn mạnh công lao mở lối, truyền nghề, đưa kỹ thuật từ chỗ ít người nắm giữ trở thành một nghề có thể lan rộng trong xã hội. Việc một người thợ được đặt trong hệ thống sắc phong với những danh xưng cao quý như vậy cho thấy nghề kim hoàn không chỉ được nhìn nhận như một kỹ nghệ kiếm sống, mà còn như một nghề có công lao với quốc gia, với cộng đồng nghề nghiệp và với trật tự văn hóa đương thời.

Đến thời Minh Mạng, hai cha con Cao Đình Độ và Cao Đình Hương được sắc phong “Đức bảo Trung hưng Linh phù Bổn sư - Khai hóa Kim ngân Thế tổ Cao Đình Độ tọa thần vị - Cao Đình Hương linh thần vị”.

Đây là một chuỗi danh xưng mang sắc thái thần vị. “Bổn sư” là bậc thầy gốc, người được hậu thế trong nghề xem là nguồn truyền dạy căn bản. “Thế tổ” là vị tổ được tôn kính qua nhiều đời. Còn “linh phù” gợi ý nghĩa che chở, phù trợ về mặt tín ngưỡng. Khi đặt các vị tổ nghề vào hệ thống thờ phụng như vậy, nghề kim hoàn không chỉ ghi nhớ người truyền lửa khai sáng nghề, mà còn hình thành một trật tự tinh thần riêng: người thợ làm nghề phải biết nguồn gốc, biết người mở đường, biết giữ đạo nghề.

Ông Cao Đình Hương được phong tước hiệu “Đệ nhị tổ sư”. Nếu Cao Đình Độ được tôn là người khai mở, thì Cao Đình Hương được đặt ở vị trí người tiếp nối và truyền bá. Đây là điểm rất quan trọng, bởi trong lịch sử các nghề thủ công, người truyền nghề đôi khi có vai trò không kém người đầu tiên học được nghề. Một bí quyết nếu chỉ dừng lại trong một gia đình hoặc trong cung đình thì rất dễ trở thành kỹ thuật khép kín. Nhưng khi được truyền ra dân gian, nó mới có cơ hội trở thành một nghề sống, có cộng đồng, có thợ, có phường hội, có lễ tổ và có ký ức nghề nghiệp.

Dưới thời Khải Định năm thứ 9 (1924) và Bảo Đại năm thứ 13 (1938), hai ông tiếp tục được sắc phong “Đức bảo Trung hưng Linh phù chi Thần” dành cho những người có công khai sáng ngành kim hoàn Việt Nam.

Việc các sắc phong được ban qua nhiều đời vua cũng cho thấy sự thừa nhận có tính liên tục của triều đình đối với công lao của hai vị tổ nghề. Đây là điểm làm cho hệ thống thờ tổ họ Cao có “trọng lượng tư liệu” đặc biệt: không chỉ được truyền tụng trong dân gian, mà còn có sự xác nhận bằng nghi lễ và văn bản nhà nước phong kiến.

Hiện nay, lăng mộ Đệ nhất tổ sư Cao Đình Độ và Đệ nhị tổ sư Cao Đình Hương đều tọa lạc tại khu vực phường Trường An, phía Nam thành phố Huế. Theo tư liệu, lăng ông Cao Đình Độ được xây dựng năm 1810, còn lăng ông Cao Đình Hương xây dựng năm 1821 theo kiến trúc đặc trưng triều Nguyễn.

Đền thờ hai ông đặt tại phường Phú Cát, Huế. Cả khu lăng mộ và nhà thờ tổ nghề kim hoàn đã được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa.

Hằng năm, các thợ kim hoàn miền Trung vẫn tổ chức giỗ tổ ông Cao Đình Độ vào ngày 27/2 âm lịch và giỗ ông Cao Đình Hương vào ngày 7/2 âm lịch. Theo ước lệ từng vùng, ngày giỗ tổ kim hoàn ở Việt Nam có thể khác nhau, nhưng đều tập trung trong tháng 2 âm lịch, với cùng một tinh thần: tưởng nhớ những người đã có công khai sáng và truyền dạy nghề vàng bạc.

Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?

Ban thờ hậu cung Tổ nghề Kim hoàn ở Định Công - Hà Nội. Ảnh: Huy Minh

Tổ nghề trong dân gian có thể còn xa hơn thế

Nếu cuốn “Câu chuyện nghề nghiệp” chủ yếu đi theo hệ thống tư liệu triều Nguyễn và sắc phong chính thức, thì cuốn “Vàng bạc đá quý mỹ nghệ kim hoàn” của PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh, Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ xuất bản năm 2010, lại mở rộng câu chuyện theo hướng dân gian và truyền thuyết nghề nghiệp.

Trong cuốn sách này, tác giả nhắc tới nhiều dòng truyền thừa khác nhau của nghề vàng bạc Việt Nam.

Một trong những câu chuyện đáng chú ý là về ông Lưu Xuân Tín ở làng Trần Khê, huyện Bình Giang, Hải Dương.

Theo sách, dưới thời Lê Thánh Tông, ông được vua cho phép lập trang đúc bạc và tiền ở Thăng Long, sau đó làm tới chức Thượng thư Bộ Lại. Người làng của ông theo ra Thăng Long hành nghề ngày càng đông. Phố Hàng Bạc được hình thành từ đó.

Theo tư liệu trong sách, các trang đúc bạc khi ấy nằm tại khu vực ngày nay là phố Hàng Bạc. Hai ngôi đình Thượng Đình và Kim Ngân Đình từng là nơi giao nộp thành phẩm cho triều đình.

Qua thời gian, nhu cầu vàng bạc ngày càng lớn.

Không chỉ người làng Trần Khê, nhiều nghệ nhân từ các vùng nghề khác cũng tập trung về Hàng Bạc. Trong đó có các nghệ nhân làng Đồng Xâm, vốn nổi tiếng với kỹ thuật chạm bạc tinh xảo trên hộp trầu, chén bát, đỉnh, lư đèn…

Theo sách, ông tổ của phái chạm bạc này là Nguyễn Kim Lân, sống vào thế kỷ XV.

Nhưng điều đặc biệt hơn cả là, không dừng lại ở đó, cuốn sách tiếp tục nhắc tới một truyền thuyết còn cổ xưa hơn nữa.

Theo truyền thuyết dân gian được ghi lại trong sách, vào khoảng nửa sau thế kỷ VI, dưới thời nước Vạn Xuân, ở làng Định Công có ba anh em họ Trần là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Diều.

Trong giai đoạn loạn lạc giữa Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử, ba anh em phải rời quê hương tha phương cầu thực và thất lạc nhau.

Điều thú vị là ở những vùng đất khác nhau, cả ba đều học được nghề chế tác vàng bạc thủ công mỹ nghệ. Sau nhiều năm, họ trở về Định Công và đoàn tụ. Tại đây, ba anh em mở tiệm chế tác đồ vàng bạc mang tên “Kim Hoàn”. Theo cách lý giải trong sách, từ cái tên ấy mà về sau nghề chế tác vàng bạc được gọi chung là nghề kim hoàn.

Những món nữ trang vàng bạc do ba anh em chế tác ngày càng nổi tiếng. Họ bắt đầu truyền nghề cho dân làng. Định Công từ đó trở thành một làng nghề vàng bạc ngày càng nổi tiếng của vùng Thăng Long.

Nếu truyền thuyết này đúng, thì lịch sử của nghề kim hoàn Việt Nam có thể đã được đẩy lùi xa hơn rất nhiều so với hệ thống tổ nghề thời Nguyễn.

Nghề chạm vàng bạc và nghề kim hoàn là một

Trong cuốn “Nghề kim hoàn, Ngọc, Sản xuất vàng truyền thống kinh doanh đồ cổ” của ThS. Bùi Văn Vượng, Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2010, tác giả tiếp tục nhắc tới mối liên hệ giữa nghề chạm vàng bạc và nghề kim hoàn.

Theo tác giả, ở Việt Nam, nghề tạo tác sản phẩm vàng bạc được gọi bằng hai danh xưng: nghề chạm vàng bạc và nghề kim hoàn. Cái tên “kim hoàn” xuất hiện từ khoảng thế kỷ VI, gắn với cửa hiệu “Kim Hoàn” của ba anh em họ Trần ở Định Công. Về sau, các cửa hiệu vàng bạc đều gọi là hiệu kim hoàn và những người thợ chế tác nữ trang, chạm trổ vàng bạc cũng được gọi chung là thợ kim hoàn để ghi nhớ công lao ba vị tổ họ Trần.

Điểm này giúp giải thích vì sao trong nhiều tư liệu, các khái niệm “nghề chạm vàng bạc”, “nghề thợ bạc”, “nghề kim hoàn” đôi khi được dùng gần như thay thế cho nhau. “Chạm vàng bạc” nhấn mạnh kỹ thuật tạo tác, còn “kim hoàn” dần trở thành danh xưng rộng hơn, chỉ toàn bộ nghề chế tác vàng bạc, nữ trang, đồ quý và các sản phẩm mỹ nghệ liên quan.

Ngày nay, tại Định Công vẫn còn đền thờ ba vị tổ nghề này. Nhiều thế hệ người dân làng nghề vàng bạc Định Công vẫn tôn kính ba ông như tổ sư của nghề kim hoàn nước Việt.

Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?

Cặp bình đồng có hoa văn rất đẹp được người đời sau cung tiến vào đền Tổ nghề. Ảnh: Huy Minh

Lệ Châu hội quán và ký ức của người thợ bạc

Một địa điểm khác thường xuyên được nhắc tới trong các tư liệu về tổ nghề kim hoàn là Lệ Châu hội quán ở Chợ Lớn.

Từ trước năm 1892, những người thợ kim hoàn khu vực Chợ Lớn thường tụ họp tại các lò chế tác nữ trang. Khi nghề thợ bạc phát triển mạnh hơn, họ quyết định lập một nhà thờ tổ để con cháu đời sau nhớ tới nghề của cha ông.

Ngôi đền bắt đầu được xây dựng năm 1892 và hoàn thành năm 1896. Đến đợt trùng tu năm 1934, công trình được dựng bằng gỗ lim, mái lợp ngói âm dương. Trên cổng có bốn chữ “Lệ Châu hội quán” đúc bằng đồng.

Hai bên cổng là đôi câu đối:

“Lệ thủy kim sanh cơ quốc thái

Châu đê ngân xuất nghiệp dân an”

Có thể hiểu nghĩa là:

“Sông Lệ sinh vàng nên quốc thái

Bờ Châu ra bạc nghiệp dân an”

Đôi câu đối này vừa có nghĩa ca ngợi nghề vàng bạc, vừa gửi gắm một quan niệm rất đẹp của người xưa về vai trò của nghề nghiệp. “Kim sanh” là vàng sinh ra, “ngân xuất” là bạc hiện ra. Nhưng vàng bạc ở đây không chỉ là của cải. Nó còn gắn với “quốc thái” và “dân an” - đất nước yên ổn, dân chúng an cư, nghề nghiệp thịnh vượng. Trong cách nghĩ ấy, nghề kim hoàn không phải một nghề xa xỉ tách rời đời sống, mà là một nghề góp phần làm nên sự phồn thịnh của cộng đồng.

Tên gọi “Lệ Châu” cũng có nhiều lớp nghĩa.

Theo một cách giải thích, tên này xuất phát từ câu “Kim trầm lệ thủy, ngân xuất châu đề”, tức vàng chìm sông Lệ, bạc xuất bờ Châu. Hai chữ “Lệ Châu” vì thế được dùng để chỉ vàng bạc, rồi trở thành tên gọi của ngôi đình tổ thợ bạc.

Nhưng theo truyền thuyết của ngành kim hoàn, “Lệ Châu” còn có nghĩa là nước mắt rơi. Cách hiểu này gợi nỗi thương nhớ của học trò đối với thầy, của người đời sau đối với các vị tổ nghề. Chính lớp nghĩa ấy làm cho Lệ Châu hội quán không chỉ là một địa điểm thờ phụng, mà còn là nơi lưu giữ tình cảm nghề nghiệp của nhiều thế hệ thợ kim hoàn.

Nếu các sắc phong ở Huế cho thấy sự ghi nhận của triều đình đối với tổ nghề khai sáng, thì Lệ Châu hội quán lại cho thấy sức sống của cộng đồng thợ bạc trong đời sống đô thị Nam Bộ. Một bên là hệ thống tôn phong chính thức, một bên là thiết chế phường hội và tín ngưỡng nghề nghiệp. Cả hai cùng làm nên ký ức tổ nghề kim hoàn Việt Nam.

Ngày nay, Lệ Châu hội quán vẫn là nơi tổ chức lễ giỗ tổ nghề kim hoàn lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, quy tụ đông đảo thợ vàng bạc từ nhiều tỉnh thành phía Nam.

Từ năm 1998, Lệ Châu hội quán còn thờ Đệ nhất tổ sư Cao Đình Độ, Đệ nhị tổ sư Cao Đình Hương, các vị tổ đời thứ hai là ba anh em Trần Hòa, Trần Điện, Trần Diên và ba anh em Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật. Ngày chánh giỗ tổ sư kim hoàn lấy theo ngày mất của Đệ nhị tổ sư Cao Đình Hương, tức ngày 7/2 âm lịch hằng năm.

Ai là người khai sinh nghề vàng bạc nước nhà?

Bái đường của đền thờ Tổ nghề Kim hoàn ở Định Công - Hà Nội. Bức đại tự ghi: “Hữu công ư dân” (tạm dịch: Có công với dân). Đôi câu đối có thể hiểu: “Ngôi thánh nơi điện quý, công huân rực rỡ, nghìn thu còn lưu trong sử nước”/ “Được phong bậc thượng đẳng thần, anh linh muôn thuở giúp dân sinh”. Ảnh: Huy Minh

Một nghề - nhiều lớp tổ nghề

Càng đọc nhiều tư liệu, càng thấy nghề kim hoàn Việt Nam dường như không phát triển theo một dòng truyền thừa duy nhất.

Có những vị tổ nghề được ghi nhận bằng sắc phong triều đình.

Có những người tồn tại mạnh mẽ trong ký ức dân gian và truyền thuyết làng nghề.

Có người được xem là người khai sáng.

Có người lại được xem là người mở mang và truyền bá nghề nghiệp đi khắp đất nước.

Nhưng dù khác nhau về thời gian và truyền thuyết, hầu hết những nhân vật ấy đều có một điểm chung: truyền nghề.

Có lẽ với nghề kim hoàn, điều quan trọng không chỉ là ai là người đầu tiên làm ra vàng bạc, mà còn là ai đã giữ được nghề và trao lại cho hậu thế.

Và cũng có lẽ vì thế mà suốt hàng trăm năm qua, những lễ giỗ tổ nghề kim hoàn vẫn được tổ chức trang trọng ở nhiều nơi, từ Huế tới Chợ Lớn, từ Định Công tới những làng nghề vàng bạc khác.

Những ngôi đền tổ, những sắc phong đã úa màu thời gian và những câu chuyện được truyền qua nhiều thế hệ vẫn đang kể tiếp lịch sử của một nghề thủ công đặc biệt của người Việt.

Một nghề mà vàng bạc không chỉ là vật liệu quý. Mà còn là ký ức, đạo nghề và niềm tự hào của nhiều thế hệ nghệ nhân Việt Nam.

Huy Minh - Thiên Hương

Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý

Cùng chuyên mục

Giá vàng hôm nay 28/5: Giảm phiên thứ hai liên tiếp

Kim hoàn - nghề thủ công lâu đời và cao quý bậc nhất của nhân loại

(PetroTimes) - Nghề kim hoàn gắn liền với tiến trình lịch sử văn minh trải dài hàng vạn năm, là minh chứng cho trí tuệ và tình yêu cái đẹp của nhân loại từ thời kỳ tiền sử cho đến ngày nay.
Giá vàng hôm nay 28/5: Giảm phiên thứ hai liên tiếp

Khởi đăng loạt bài: “Nghề kim hoàn Việt Nam”

(PetroTimes) - Kim hoàn là nghề cao quý.
Giá vàng hôm nay 28/5: Giảm phiên thứ hai liên tiếp

7 điều thú vị về bạch kim có thể bạn chưa biết

(PetroTimes) - Khi người dân khắp Vương quốc Anh và các nơi khác trên thế giới kỷ niệm Đại lễ Bạch kim của Nữ hoàng Elizabeth II vào tháng 6 năm 2022, nhiều người đã tự hỏi bạch kim là gì?