Bạc - kim loại của nữ thần
Các đồng tiền La Mã cổ nhất (thế kỷ VII trước Công nguyên) được sản xuất từ hợp kim bạc - vàng. Sau đó việc đúc các đồng tiền bạc được thực hiện ở thành phố Egin, Hy Lạp. Các đồng tiền mới được lan truyền khắp Hy Lạp, Ba Tư, sau đó đến La Mã và các dân tộc khác. Trong các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Đông cổ đại, bạc được đánh giá cao (ngang với đồng). Những người Khel đã khai thác các kim loại này trên lãnh thổ vùng Tiểu Á ngày nay. Hiệp ước hòa bình ký sau cuộc chiến tranh dài giữa hoàng đế Ai Cập Ramdex II và người Khel đã được khắc trên phiến bạc vào khoảng năm 1270 trước Công nguyên.
![]() |
Những người Phinic là những người đi biển giỏi nhất thời xưa đã đến Iberia và Luditania (trên lãnh thổ Tây Ban Nha ngày nay) để trao đổi hàng hóa lấy vàng và bạc. Sau đó, họ tổ chức chế biến quặng vàng và bạc trên nhiều lãnh thổ ở Địa Trung Hải.
Đúc tiền không chỉ là nghệ thuật, mà còn là một công việc có tầm cỡ quốc gia. Người La Mã gọi đơn vị tiền tệ là đênari (denarius), từ tiếng Latin “mười”, để chỉ giá trị ngang nhau của mười phunt đồng. Những đênari này được sản xuất vào thế kỷ trước niên đại của chúng ta trong xưởng đúc tiền của đền thờ nữ thần Iunôra - thần được gọi là Mônheta (ân cần, chu đáo). Trên một mặt của đồng tiền này là hình tượng đầu của nữ thần với dòng chữ “Mônheta”. Từ này cũng như tên gọi chung tất cả các đồng tiền kim loại vẫn được gọi ở khắp nơi cho đến ngày nay.
Sự phát hiện ra vùng đất mới châu Mỹ và việc tiến sâu vào lục địa Nam Mỹ của người Tây Ban Nha kéo theo việc nắm giữ tất cả các mỏ mới nói chung và mỏ bạc mới nói riêng. Các quặng rất giàu bạc, việc luyện bạc từ quặng không khó khăn lắm. Thậm chí luyện không cần thổi gió: Gió mạnh từ miền đất cao cũng đủ để luyện bạc Mexico tuôn từng dòng lớn về Tây Ban Nha. Việc phát hiện ra kho bạc giàu nhất - dãy núi Potosi (Bolivia ngày nay) là một sự kiện chấn động. Trong nửa cuối thế kỷ XVI, từ nơi đây đã chuyển về Tây Ban Nha hơn 7 tấn bạc.
![]() |
| Một nhà khảo cổ học khai thác mỏ đang làm việc tại một mỏ bạc 5.000 năm tuổi ở Thorikos, Hy Lạp |
Vào thế kỷ XIX, Tây Ban Nha bị mất đi các lãnh địa của mình ở châu Mỹ, do đó phải tìm kiếm các mỏ bạc trên đất của mình. Năm 1845 ở Tây Ban Nha phát hiện được ba mỏ giàu chì - bạc. Đến giữa thế kỷ, khai thác được đẩy mạnh ở Anh, Thụy Sĩ, Pháp. Tiếp sau cơn sốt vàng ở California, ở bang Nevada bên cạnh bùng nổ cơn sốt bạc. Từ vỉa quặng Cômxtốc nổi tiếng, sau 7 năm đã luyện được số bạc trị giá 237 triệu USD.
Nhu cầu về bạc tăng lên, vượt quá cả số lượng khai thác. Đầu thế kỷ XIX, một giải thưởng cao được đề ra cho việc tìm một hợp kim mới để làm bát đĩa. Hợp kim phải giống bạc về màu sắc, lấp lánh và có độ bền chống gỉ. Điều đó gây nên một cơn sốt nghiên cứu trong giới các nhà khoa học và luyện kim. Một số công thức luyện kim này đã được đề xuất. Tên gọi của chúng đều nói về bạc, mặc dù không có bạc trong hợp kim: “Bạc mới”, “bạc Đức”, “bạc Trung Quốc”… Năm 1825, một xưởng sản xuất “bạc mới” đã được thành lập. Tất cả các chất thay bạc này đều là hợp kim đồng - niken.
Ở Liên Xô (cũ), bạc Uran được luyện chủ yếu từ quặng đồng - pirit, bạc Trung Á từ quặng chì - kẽm. Bạc của Kazakhstan được luyện từ quặng chì - đồng pirit. Siberia, Kavkaz sản xuất bạc từ các quặng đa kim.
Mexico đứng hàng đầu trong việc khai thác bạc, mặc dù ở đó bạc bị khai thác liên tục trong thời kỳ Tây Ban Nha chiếm đóng. Trữ lượng kim loại này ở Mexico hiện vẫn rất lớn. Ở Mexico có rất nhiều mỏ quặng mà trong đó bạc chiếm 170-560 gram/tấn, vàng chiếm 1-23 gram/tấn.
Ở Mỹ, bạc khai thác chủ yếu từ các quặng đồng, chì - kẽm cũng như quặng vàng. Bên cạnh các mỏ đa kim còn có các mỏ bạc với hàm lượng bạc cao - khoảng 1.500 gram/tấn.
Trong thời kỳ chiếm đóng, đối với thực dân Tây Ban Nha, các đồ trang sức của dân địa phương là “dấu hiệu” tìm kiếm bạc. Đổ bộ không xa thủ đô ngày nay của Achentina (Argentina), thực dân đã nhìn thấy những người da đỏ với các trang sức bằng bạc trên ngực và tưởng đó là biểu hiện bạc rất dồi dào ở vùng này, do đó đã gọi tên xứ sở không quen biết này theo tên thổ ngữ là Achentina (bạc), với hy vọng sẽ được cướp bóc thỏa thích. Lợi lộc không đáp ứng được chúng, nhưng tên gọi đất nước này vẫn giữ được cho đến ngày nay.
Nửa cuối thế kỷ trước, khai thác bạc hiện diện ở khắp nơi, từ Argentina, Bolivia đến đất nước Honduras nhỏ bé; từ Tây Ban Nha tới Thụy Sĩ, từ Nhật tới Nam Phi, từ châu Úc tới châu Á.
“Nước Thánh” - cuộc điều tra vô tiền khoáng hậu
Con người từ thời cổ xưa đã sử dụng bạc vào mục đích y học, nhưng họ không biết nguyên nhân tác dụng tốt của bạc. Chẳng hạn những người Ai Cập lấy tấm lá bạc phủ lên vết thương, làm cho vết thương mau lành. Khoảng 2.500 năm trước đây, vua Ba Tư Kirơ trong các cuộc hành quân đã mang theo nước trong các bình bạc. Có phải vì khát vọng muốn được ca tụng bằng cách phô trương của cải vật chất? Không, chỉ đơn giản là vì vua Kirơ đã biết rằng, trong những bình bạc, nước được giữ trong lành, uống được rất lâu.
![]() |
Ngay những người dân ở Assyria cũng đã coi bạc là kim loại của mặt trăng. Những vị đại tư tế và sau đó, những nhà giả kim thuật đã khẳng định giả thuyết cho rằng, giữa mặt trăng và bạc có một sự liên kết nhất định. Chứng mộng du hay thụy du đã được biết từ rất lâu. Từ đó có thể đi đến kết luận là nữ thần Mặt Trăng có quyền hành với những người điên dại và do đó mà bạc - kim loại của nữ thần - và cả muối của nó đều có thể sử dụng để chữa các bệnh thần kinh. Nhà canh tân học thế kỷ XVI Paracelsus đề nghị chữa các bệnh của hệ thần kinh bằng “đá của mặt trăng”, như Liapis đã gọi - bạc nitrit. Sau đó, để chữa bệnh động kinh và các chứng bệnh thần kinh, người ta đã sử dụng các hợp chất của bạc.
![]() |
| Đồng bạc 1 peso của Argentina. Tên của đất nước này có nghĩa là “bạc” |
Tác dụng khử trùng của bạc không
chỉ được y học mà cả nhà thờ cũng dùng làm vũ khí. Khó mà thuyết phục được người ngoan đạo tin rằng, “nước Thánh” nhận được trong nhà thờ chẳng có gì khác so với nước thường. Họ cười mỉa mai những lý lẽ ấy và chỉ ra rằng, nước thường ứ đọng vài ngày là có mùi, còn “nước Thánh” thì trong mát. Trong cuốn “Những câu chuyện về bạc và platin”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 1988, tác giả B.I. Kazakôp kể chuyện một vị linh mục ở tu viện Kiev Pechersk nổi tiếng khắp vùng vì ngài đã chữa được bệnh “đau đớn trong nội tạng” bằng thứ nước ngài đã làm phép thánh. Một cộng tác viên của tờ báo Thanh niên Cộng sản quyết định đi tìm sự thật. Giả vờ bị ốm, vào ngày sau đó, anh đến vài lần cầu phúc và nhận một lọ con “nước Thánh”.
Khi thu được gần 1 lít, anh đưa nó cho nhà chuyên môn về các chứng bệnh nội khoa và đề nghị nghiên cứu. Giáo sư tuyên bố rằng, đó là nước sông Đnhiep (Dnieper) bình thường. Cộng tác viên khẩn khoản yêu cầu giáo sư cho các bệnh nhân dùng thử “nước Thánh”. Sau ba tuần, thật kỳ lạ, việc dùng nước thánh đã làm cho tình trạng của những người viêm dạ dày lâu năm, thậm chí mắc bệnh viêm loét tiến bộ rõ rệt. Phân tích hóa học tiến hành sau đó không xác định được sự khác nhau nào giữa nước “chữa bệnh” và nước sông Đnhiep. Còn phân tích vi khuẩn học đã chứng minh rằng, trong nước hoàn toàn không có vi trùng, giống nước đun sôi. Thế nhưng nước này lại không giống nước đun sôi. Thật dễ dàng tìm hiểu được ở người nô bộc mau miệng của tu viện rằng, mỗi ngày ông ta phải xách 9 thùng nước từ sông Đnhiep về cho vị linh mục và đổ nước vào các thùng gỗ chứa nhiều đồng tiền bằng bạc. Hóa ra, nước được “ngâm” bạc có đặc tính chữa bệnh thật sự. Điều này được giải thích là các ion bạc đã giết chết các vi trùng.
![]() |
| Bạc không chỉ để dùng trong tích lũy tài sản mà còn rất hữu ích cho sức khỏe con người |
Còn có rất nhiều thông tin lý thú về đặc tính chữa bệnh của nước có chứa bạc. Thật lạ là hướng vào việc dùng bạc để khử trùng cho nước uống lại không phải là thầy thuốc mà là kỹ sư phòng thí nghiệm kim loại học “Uramasơ” G.Kurucli. Ông không hãm nước với các đồng tiền bạc, mà tìm cách làm cho nó giàu thêm các ion bạc bằng phương pháp điện phân. Người ta cho dòng điện chạy qua nước theo một tấm bạc và nước liền trở nên vô trùng sau vài giây. Nước không mất mùi vị mà vẫn giữ được trong lành, nghĩa là các vi sinh vật có hại không thể tìm tới được trong vòng vài tuần lễ. Tác giả đã quy định phương pháp và nồng độ cho phép của các ion bạc, điều đó được Viện Hàn lâm khoa học Uzbekistan kiểm tra và duyệt. Nồng độ bạc tối ưu là 1: 5.000.000. Nó hoàn toàn đủ để làm nước được vô trùng. Còn chi phí về bạc, thì có thể nói là không đáng kể.
Nước chứa bạc được các nhà hóa học, sinh học và các thầy thuốc lâm sàng nghiên cứu một cách chi tiết. Như người ta chờ đợi, nó tỏ ra là thuốc chữa bệnh khi điều trị những vết thương bị loét, bệnh loét dạ dày, bệnh sổ mũi và nhiều bệnh cấp tính khác. Nước có bạc được sử dụng với quy mô rộng trên các con tàu biển cần có ở trên boong một trữ lượng lớn nước uống. Việc giữ gìn nước lâu dài được bảo đảm bằng cách xử lý nước trong thiết bị đặc biệt được gọi là máy làm giàu ion. Dòng điện xoay chiều thông thường có điện áp 220 và 127V chạy qua các tấm bạc, một giờ có thể chuyển vào dung dịch tới 10gr bạc, đủ khử trùng cho 50m3 nước.
Như vậy, đặc tính chữa bệnh của bạc là tính khử trùng của những ion bạc. Không có căn cứ nào để giả định rằng, những ion ấy sẽ gây ảnh hưởng đến cơ thể được điều trị, bởi liều lượng bạc được đưa vào là hết sức hạn chế.
Bạc - kim loại của nữ thần Mặt Trăng - còn hàm dưỡng vô số điều kỳ thú, khi có dịp chúng tôi sẽ trở lại sau.
| Nước chứa bạc được các nhà hóa học, sinh học và các thầy thuốc lâm sàng nghiên cứu một cách chi tiết. Như người ta chờ đợi, nó tỏ ra là thuốc chữa bệnh khi điều trị những vết thương bị loét, bệnh loét dạ dày, bệnh sổ mũi và nhiều bệnh cấp tính khác. |
Nguyễn Huy Minh
Tập đoàn Phú Quý cùng đồng hành kiến tạo tri thức về Kim loại quý