Tin tức kinh tế ngày 22/6: Việt Nam là nước duy nhất được WB nâng dự báo tăng trưởng

21:24 | 22/06/2022

|
(PetroTimes) - VCCI đề nghị bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng để kiểm soát lạm phát; Nhập siêu 1,3 tỷ USD tính đến nửa đầu tháng 6/2022; Việt Nam là nước duy nhất được WB nâng dự báo tăng trưởng… là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 22/6.
Tin tức kinh tế ngày 22/6: Việt Nam là nước duy nhất được WB nâng dự báo tăng trưởng
Ảnh minh họa

Giá vàng trong nước đứng yên, vàng thế giới giảm mạnh

Mở cửa phiên giao dịch sáng 22/6, Công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết giá vàng mua vào ở mức 67,85 triệu đồng/lượng; giá bán ra là 68,65 triệu đồng/lượng, giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với đóng của phiên giao dịch ngày 21/6. Chênh lệch giá mua - bán vàng SJC đang là 800.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng mua vào - bán ra ở mức 67,80 - 68,60 triệu đồng/lượng, đứng yên ở cả chiều mua vào và bán ra so với đóng cửa phiên giao dịch ngày 21/6. Chênh lệch giá mua - bán vàng DOJI đang là 800.000 đồng/lượng.

Trong khi đó, đầu giờ sáng 22/6 (giờ Việt Nam), giá vàng niêm yết trên sàn Kitco ở mức 1.828,9 USD/oz, giảm 13 USD/oz so với cuối giờ chiều 21/6.

VCCI đề nghị bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng để kiểm soát lạm phát

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản trả lời Công văn của Bộ Tài chính về việc lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.

VCCI cho rằng, việc cắt giảm thuế bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên có thể thực hiện được ngay trong tháng 7/2022.

"Nếu lựa chọn cắt giảm thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế giá trị gia tăng thì phải đợi kỳ họp Quốc hội gần nhất vào cuối năm 2022, như vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô hiện nay", VCCI đánh giá.

Về lâu dài, VCCI đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động của việc bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng và có văn bản báo cáo Quốc hội vào kỳ họp tới.

Nhập siêu 1,3 tỷ USD tính đến nửa đầu tháng 6/2022

Theo thông tin Tổng cục Hải quan mới công bố, nửa đầu tháng 6 (1-15/6), kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 15,1 tỷ USD, giảm 16,1% (tương ứng giảm 2,9 tỷ USD) so với kỳ 2 tháng 5/2022.

Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 6/2022 giảm so với kỳ 2 tháng 5/2022 ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện giảm 914 triệu USD, tương ứng giảm 30,1%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 426 triệu USD, tương ứng giảm 18,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác giảm 220 triệu USD, tương ứng giảm 10,4%; thủy sản giảm 126 triệu USD, tương ứng giảm 20,7%...

Như vậy, tính đến hết 15/6/2022, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 168,28 tỷ USD, tăng 17,2% tương ứng tăng 24,65 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2021.

Cán cân thương mại hàng hóa đang nghiêng về nhập siêu ở mức 1,3 tỷ USD.

Xuất khẩu tôm tháng 5 bật tăng ở thị trường Trung Quốc

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) kể từ tháng 3/2022, xuất khẩu (XK) tôm Việt Nam sang Trung Quốc đã bật tăng so với 2 tháng đầu năm, liên tục ghi nhận mốc tăng trưởng 3 con số.

XK tôm Việt Nam sang thị trường này từ tháng 3 đến tháng 5 tăng trưởng dao động từ 126%-140%. Tháng 5-2022, XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc đạt 88 triệu USD, tăng 126% so với tháng 5/2021. Lũy kế 5 tháng đầu năm, XK tôm sang thị trường này đạt 275 triệu USD, tăng 101% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hơn 51 ngàn lao động xuất ngoại làm việc

Theo số liệu thống kê từ Cục quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH), từ ngày 1-1-2022 đến giữa tháng 6 - 2022, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 51.677 người, trong đó có 19.849 lao động nữ.

Các thị trường trọng điểm thu hút lao động Việt Nam sang làm việc gồm: Nhật Bản hơn 32.000 lao động, Đài Loan hơn 15.600 lao động, Hàn Quốc hơn 1.200 lao động.

Việt Nam là nước duy nhất được WB nâng dự báo tăng trưởng

Ngân hàng Thế giới - WB đã đưa dự báo mới là tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ giảm xuống 2,9%, từ mức dự báo vào tháng 1/2022 là 4,1%.

Nguyên nhân của sự sụt giảm trong dự báo này là do tác động của COVID-19; tác động lan tỏa của cuộc xung đột Nga - Ukraine. Ngoài ra, hiện nay, do lạm phát cao, giá hàng hóa trong đó bao gồm nhiên liệu, thực phẩm tăng cao cũng ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở các nước khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương, WB cũng dự báo tăng trưởng GDP giảm xuống 4,4%. Tuy nhiên, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới mà WB đã rà soát và dự báo điều chỉnh đà tăng trưởng GDP từ mức 5,5% vào đầu tháng 1/2022 lên 5,8% vào tháng 6/2022.

Tin tức kinh tế ngày 20/6: Ô tô nhập từ Trung Quốc giảm sâu

Tin tức kinh tế ngày 20/6: Ô tô nhập từ Trung Quốc giảm sâu

Việt Nam đề nghị EU giảm tần suất kiểm tra nông sản xuất khẩu; Giá các mặt hàng xăng dầu thành phẩm có xu hướng tăng; Ô tô nhập từ Trung Quốc giảm sâu… là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 20/6.

P.V (Tổng hợp)

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 66,550 67,550
AVPL/SJC HCM 66,800 67,550
AVPL/SJC ĐN 66,600 67,550
Nguyên liêu 9999 - HN 52,550 52,750
Nguyên liêu 999 - HN 52,500 52,700
AVPL/SJC Cần Thơ 66,550 67,450
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 52.700 53.800
TPHCM - SJC 66.600 67.550
TPHCM - Hà Nội PNJ 52.700
Hà Nội - 66.550 67.550 13/08/2022 10:29:14
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 52.700
Đà Nẵng - 66.600 67.550 13/08/2022 10:20:28
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 52.700
Cần Thơ - 66.800 67.600 13/08/2022 10:28:06
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 52.700
Giá vàng nữ trang - 52.300 53.100 13/08/2022 10:20:28
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.580 39.980
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.810 31.210
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.840 22.240
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,275 5,355
Vàng trang sức 99.99 5,190 5,340
Vàng trang sức 99.9 5,180 5,330
Vàng NL 99.99 5,245 5,340
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,655 6,755
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,655 6,755
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,655 6,755
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,270 5,360
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,265 5,365
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,275 5,355
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 66,600 67,600
SJC 5c 66,600 67,620
SJC 2c, 1C, 5 phân 66,600 67,630
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 52,750 53,650
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 52,750 53,750
Nữ Trang 99.99% 52,650 53,250
Nữ Trang 99% 51,423 52,723
Nữ Trang 68% 34,364 36,364
Nữ Trang 41.7% 20,357 22,357
Cập nhật: 14/08/2022 17:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,162.14 16,325.39 16,851.41
CAD 17,855.54 18,035.90 18,617.03
CHF 24,205.57 24,450.07 25,237.86
CNY 3,396.43 3,430.74 3,541.81
DKK - 3,182.96 3,305.29
EUR 23,498.00 23,735.35 24,813.92
GBP 27,761.87 28,042.29 28,945.83
HKD 2,907.15 2,936.52 3,031.13
INR - 293.01 304.76
JPY 170.70 172.43 180.72
KRW 15.50 17.23 18.89
KWD - 76,220.11 79,278.00
MYR - 5,205.54 5,319.79
NOK - 2,403.97 2,506.37
RUB - 335.34 454.47
SAR - 6,209.63 6,458.75
SEK - 2,275.39 2,372.31
SGD 16,634.59 16,802.62 17,344.01
THB 586.80 652.00 677.05
USD 23,220.00 23,250.00 23,530.00
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,362 17,062
CAD - 18,015 18,715
CHF - 24,350 25,300
CNY - 3,400 3,540
DKK - 3,138 3,308
EUR - 23,153 24,443
GBP - 27,833 29,003
HKD - 2,866 3,061
JPY - 171.2 180.75
KRW - 15.97 19.77
LAK - 0.84 1.79
NOK - 2,366 2,486
NZD - 14,851 15,261
SEK - 2,219 2,354
SGD - 16,509 17,309
THB - 649 677
USD - 23,175 23,615
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,255 23,255 23,535
USD(1-2-5) 23,036 - -
USD(10-20) 23,208 - -
GBP 27,922 28,091 29,120
HKD 2,925 2,946 3,029
CHF 24,336 24,482 25,276
JPY 171.73 172.77 180.57
THB 627.29 633.62 691.48
AUD 16,285 16,384 16,928
CAD 17,952 18,061 18,629
SGD 16,705 16,806 17,355
SEK - 2,287 2,362
LAK - 1.18 1.51
DKK - 3,194 3,298
NOK - 2,419 2,500
CNY - 3,418 3,530
RUB - 349 448
NZD 14,848 14,938 15,294
KRW 16.1 - 19.66
EUR 23,688 23,752 24,788
TWD 705.77 - 801.95
MYR 4,930.55 - 5,411.29
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,240.00 23,250.00 23,525.00
EUR 23,711.00 23,736.00 24,575.00
GBP 27,994.00 28,163.00 28,831.00
HKD 2,926.00 2,938.00 3,029.00
CHF 24,399.00 24,497.00 25,169.00
JPY 172.85 173.54 177.46
AUD 16,237.00 16,302.00 16,884.00
SGD 16,806.00 16,873.00 17,262.00
THB 643.00 646.00 683.00
CAD 18,030.00 18,102.00 18,535.00
NZD 0.00 14,788.00 15,282.00
KRW 0.00 17.16 18.74
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.220 23.240 23.784
AUD 16.351 16.451 17.109
CAD 17.947 18.147 18.803
CHF 24.511 24.611 25.276
EUR 23.712 23.812 24.622
GBP 28.185 28.235 28.948
JPY 172,82 173,82 180,39
SGD 16.770 16.870 17.480
Cập nhật: 14/08/2022 17:00
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2022
  • pvgas