Thứ sáu 17/08/2018 00:42

Ngành dầu khí thế giới hiện tại và tương lai

06:50 | 09/06/2018

|
Năng lượng cho phát triển là bài toán chiến lược đối với các quốc gia. Đặc biệt, trong bối cảnh các nguồn năng lượng không thể tái sinh dần cạn kiệt và những đòi hỏi cấp bách về giảm thiểu tác hại của việc tiêu thụ năng lượng đối với môi trường, năng lượng bền vững được dự báo sẽ trở thành nguồn thay thế quan trọng trong tương lai.

60 năm nữa, công nghiệp dầu khí sẽ ra sao?

Khi toàn bộ các giếng dầu dễ dàng đã bị hút, các công ty lớn phải thích ứng và thay đổi. 10 công ty dầu khí lớn nhất thế giới sẽ làm gì trong vòng 60 năm tới? Người ta không thể không đặt ra các câu hỏi về tương lai ngành dầu khí thế giới. Dĩ nhiên, công ty dầu khí vẫn rất vui vẻ với công việc khoan và hút dầu khí, hàng nghìn giếng dầu đang sản xuất hôm nay vẫn sẽ vận hành tương tự. Tuy nhiên, các công ty dầu khí sẽ nhỏ bé hơn, khai thác độc quyền các loại dầu phi truyền thống, như sa thạch có chứa dầu và đá phiến. Điều này đòi hỏi nhiều thiết bị tinh vi hơn, chi phí cao, nhưng hoàn toàn có thể dự đoán trước về dài hạn. Có hai khía cạnh phải xem xét, đó là cung và cầu. Về mặt cung, thế giới đang dần cạn kiệt loại dầu khai thác dễ dàng - còn gọi là các mỏ dầu truyền thống. Các công ty dầu khí liên tục theo đuổi các công nghệ và nguồn lợi nhuận mới.

nganh dau khi the gioi hien tai va tuong lai
Swift 10 là giàn khoan jack-up nhẹ, được thiết kế đặc biệt để đáp ứng những thách thức kinh tế và kỹ thuật của các hoạt động ngoài khơi của thế kỷ XXI

Nhiều chuyên gia nhấn mạnh rằng, phần lớn chi phí R&D (nghiên cứu và phát triển) sẽ tập trung vào dầu phi truyền thống, chứ không phải loại dầu thay thế. Trên thực tế, việc nghiên cứu để khai thác dầu sa thạch và khí đá phiến một cách kinh tế hơn đang là nhiệm vụ trọng tâm của ngành dầu khí từ hơn 1 thập niên qua. Các nghiên cứu kinh tế cơ bản luôn gắn kết hai mặt hàng dầu và khí trong khi nguồn cung bắt đầu giảm sút. Điểm mấu chốt ở chỗ, dầu luôn là mặt hàng thiết yếu với sự thay thế rất hạn chế, nhu cầu thị trường dầu luôn tăng cao tới mức đủ để người ta biện hộ việc duy trì sản lượng đắt giá này. Lượng dầu còn lại càng ít đi, người ta lại càng đổ vào nhiều tiền để khai thác tới từng giọt.

Sự khan hiếm dầu lại càng làm gia tăng lợi nhuận và khuyến khích các công ty mở rộng sản xuất, thay vì ký thêm hợp đồng. Người ta có thể nhận thấy rõ điều này trong giai đoạn 2003-2014, khi đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu và bất ổn chính trị đã khiến nguồn cung trở nên tương đối ngặt nghèo. Khai thác dầu khí nước sâu - một trong những nguồn dầu đòi hỏi công nghệ hút cao và khó nhất - trở thành động lực tăng trưởng lớn trong giai đoạn đó. Khi nguồn cung toàn cầu dư thừa đã kéo tụt giá dầu xuống và khai thác nước sâu đã trở nên kém kinh tế với giá dầu ở dưới mức 40-50 USD/thùng.

Rất nhiều tính năng của dầu khí không bao giờ bị bỏ đi. Chế phẩm hóa dầu thay thế và dầu nhờn với nguồn gốc sinh học tương đương còn nhiều giá trị với ngành nông nghiệp. Những tác dụng của nhiên liệu hóa thạch này gây tác động tối thiểu với môi trường nên sẽ không có lý do gì để người ta ngừng sử dụng chúng. Vì thế, nhiều chuyên gia dự báo, việc khai thác dầu khí ở mức thấp sẽ còn kéo dài tới hàng trăm năm nữa.

Giá dầu quá cao đã đánh sụp nhu cầu tiêu dùng khi hoạt động phát điện chuyển sang nguồn năng lượng tái tạo, trong khi ngành giao thông hướng về các thiết bị lưu trữ năng lượng. Những lo ngại về biến đổi khí hậu cũng dẫn tới một số văn bản pháp quy có hiệu lực ở những nước phát triển nhằm thúc đẩy sử dụng xe ôtô điện. Trong đó, có thể kể tới những kế hoạch tại Anh và Pháp nhằm cấm bán các loại xe chạy diesel/xăng ở một số khu vực nhất định vào năm 2040. Nhưng trên thực tế, các tác động này khá chậm chạp vì nền kinh tế và kết cấu hạ tầng thế giới đã được đầu tư quá nhiều vào nhiên liệu hóa thạch, nhiều tới mức không một chuyên gia nào là không hiểu được điều này. Điều đó có nghĩa rằng, ngành dầu khí có sức ì khá lớn.

Không thể phủ nhận rằng, về mặt kinh tế, nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm thế thượng phong so với hầu hết các ứng dụng lớn của con người. Bất chấp sự gia tăng sử dụng nhiên liệu tái tạo, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu vẫn tăng hằng năm, ở mức 1,5 triệu thùng/ngày (tăng tới 9% trong vòng 5 năm qua) và không một dự báo đáng tin nào khẳng định xu thế này sẽ thay đổi trong tương lai gần. Khi các nước đang phát triển trên đà giàu lên, người dân ở đó sẽ mau chóng mua ôtô và điều hòa nhiệt độ với số lượng lớn hơn nhiều so với mức tiết giảm sử dụng năng lượng ở các nước phát triển. Xu thế này không thể kéo dài mãi, nhưng nó cũng chưa thể mau chóng thay đổi.

Người ta cho rằng, các công ty dầu khí vẫn có thừa thời gian để cập nhật mô hình kinh doanh của họ trong nhiều thập niên khi diễn ra sự sụt giảm nói trên. Khí đốt tự nhiên hiện giờ đang là thứ “rẻ như bèo” và nguồn cung dường như lớn hơn nhiều so với trữ lượng dầu. Vậy nên, sẽ là sáng suốt hơn khi sử dụng xe ôtô chạy bằng khí đốt tự nhiên trong tương lai.

nganh dau khi the gioi hien tai va tuong lai
Một giàn khoan khí ngang năng lượng Consol khám phá đá cẩm thạch Marcellus bên ngoài thị trấn Waynesburg, Pennsylvania, Mỹ

Một khả năng nữa là việc hóa lỏng than (CTL). Công nghệ CTL bao hàm việc chuyển hóa than thành dạng chất đốt lỏng. Điều này giúp cho than có thể được tận dụng trở thành lựa chọn thay thế cho dầu vì không có lưu huỳnh, mật độ hạt thấp và ít ô-xít ni-tơ. Chất đốt dạng lỏng chiết xuất từ than có thể sử dụng trong vận tải, nấu nướng, cung cấp điện văn phòng và trong công nghiệp hóa chất.

Về mặt lý thuyết, xe ôtô điện có thể tồn tại vững và loại bỏ đa số các dòng xe dùng dầu, nhưng điều này đòi hỏi sự cải thiện lớn về công nghệ pin và sự mở rộng của cơ sở hạ tầng sạc pin ở mức toàn cầu. Hãng công nghệ Tesla đã có những bước tiến đáng kinh ngạc để biến điều này thành hiện thực, nhưng chi phí của nó còn quá cao đối với các nước đang phát triển.

Phát triển năng lượng bền vững ở châu Á

Năng lượng bền vững trở thành mối quan tâm chính khi ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lượng.

nganh dau khi the gioi hien tai va tuong lai
Năng lượng địa nhiệt không chỉ sạch mà còn cung cấp năng lượng điện liên tục

Báo cáo “Triển vọng năng lượng quốc tế 2016” của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cho thấy, trong vòng 3 thập niên tới, nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới, nhất là các quốc gia châu Á, sẽ tăng lên đáng kể. Ấn Độ và Trung Quốc sẽ là 2 quốc gia có mức độ tiêu thụ năng lượng lớn nhất.

Việc phát triển năng lượng bền vững ở các quốc gia châu Á đồng thời hướng tới 3 mục tiêu: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cải thiện an ninh năng lượng. Điều này đòi hỏi các nước sớm tiến tới sử dụng các công nghệ năng lượng bền vững. Nếu không hành động nhanh chóng, các quốc gia châu Á sẽ rơi vào tình trạng phụ thuộc vào năng lượng truyền thống như cảnh báo của WB: “Cánh cửa cơ hội đang khép lại rất nhanh”.

Khi các nguồn năng lượng không thể tái sinh dần cạn kiệt, việc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế bền vững chính là để khai thông con đường phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với việc tiêu thụ nguồn năng lượng khổng lồ, do đó, ở các quốc gia phát triển nóng, nhu cầu năng lượng gia tăng đột biến. Khi các quốc gia phát triển và đời sống được nâng lên, nhu cầu tiêu thụ năng lượng cũng tăng theo nhanh chóng.

Để giải quyết bài toán năng lượng cho phát triển, các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang dịch chuyển từ các ngành công nghiệp tiêu hao nhiều năng lượng sang các ngành công nghiệp dịch vụ. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển ở châu Á phụ thuộc nhiều vào năng lượng truyền thống để duy trì hoạt động sản xuất.

Theo phân tích của Ngân hàng Thế giới (WB) trong nghiên cứu “Tương lai năng lượng bền vững của Đông Á”, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ dẫn đến 2 thách thức trong khu vực: Bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng.

Trong 20 năm trở lại đây, lượng phát thải khí CO2 do tiêu thụ năng lượng trong khu vực đã tăng hơn 3 lần, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến biến đổi khí hậu. Hơn nữa, nhiều quốc gia trong khu vực chưa đủ khả năng sản xuất đủ năng lượng, phụ thuộc chủ yếu vào việc nhập khẩu xăng và gas. Trong bối cảnh đó, năng lượng bền vững được cho là giải pháp thân thiện với hệ sinh thái, nền kinh tế và xã hội. Với hiệu suất cao và sự thân thiện với môi trường, năng lượng bền vững đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai. Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh học, năng lượng địa nhiệt, năng lượng thủy triều... đang là những nguồn năng lượng mới đầy tiềm năng.

nganh dau khi the gioi hien tai va tuong lai
Năng lượng mặt trời đang là những nguồn năng lượng mới đầy tiềm năng

Để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của tương lai, các quốc gia cần chuyển từ các nguồn năng lượng hóa thạch sang các nguồn năng lượng xanh, sạch. Phát triển năng lượng bền vững, năng lượng sạch hay năng lượng xanh đang trở thành xu hướng ở nhiều quốc gia tại châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Việt Nam, Indonesia, Malaysia... Các nguồn năng lượng tái sinh như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt được khai thác dựa trên lợi thế tự nhiên của mỗi quốc gia. Tốc độ và quy mô triển khai của mỗi nước phụ thuộc vào các chính sách phát triển, năng lực đầu tư tài chính của chính phủ và sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân. Nếu không nhanh chóng hành động, cơ hội phát triển năng lượng bền vững sẽ trở thành thách thức với các quốc gia này.

Nhận thức được nhu cầu tất yếu về năng lượng bền vững, các quốc gia châu Á đang nỗ lực thúc đẩy việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ năng lượng mới. Các chính phủ một mặt ban hành chính sách, chiến lược, đồng thời tăng cường đầu tư tài chính cho phát triển năng lượng bền vững. Theo thống kê trong “Báo cáo tài chính năng lượng mới” của Bloomberg, năm 2010, các quốc gia trên thế giới đầu tư gần 243 tỉ USD để phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời, xe ôtô điện, tăng 30% so với năm 2009. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia chi cho phát triển năng lượng bền vững nhiều nhất với 51,1 tỉ USD.

Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu thế giới về sản xuất điện từ các nguồn năng lượng tái sinh. Năm 2013, Trung Quốc sản xuất được 378GW điện từ các nguồn năng lượng tái sinh như năng lượng thủy điện và năng lượng gió. Theo số liệu của Giáo sư John A. Mathews và Cao Tấn hiện giảng dạy tại Australia, từ năm 2005 đến năm 2014, hoạt động sản xuất pin mặt trời ở Trung Quốc đã mở rộng 100 lần. Hai ông cho rằng, khi quy mô sản xuất tăng lên, giá các thiết bị năng lượng tái sinh giảm xuống. Quy mô của thị trường và quy mô sản xuất là ưu thế của Trung Quốc trong việc giảm chi phí phát triển năng lượng bền vững. Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc ban hành, thực hiện nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy đầu tư cho năng lượng bền vững. Luật Năng lượng tái sinh ban hành năm 2005 quy định rõ, phát triển và sử dụng năng lượng tái sinh là lĩnh vực được ưu tiên. Chính phủ cũng triển khai các chương trình hỗ trợ tài chính, công nghệ và thị trường để khuyến khích các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng xanh, sạch. Những nỗ lực này của Trung Quốc được cho là nhằm thực hiện kế hoạch hành động quốc gia chống biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ còn chặng đường rất dài trước mắt khi lượng phát thải khí từ các nguồn năng lượng truyền thống còn rất lớn.

Cũng là quốc gia có hoạt động sản xuất và tiêu thụ năng lượng khổng lồ, Ấn Độ dành những khoản đầu tư lớn cho phát triển năng lượng bền vững. Năm 2009, Ấn Độ xếp thứ 10 trong nhóm G20 về đầu tư năng lượng sạch của khu vực tư nhân và dự báo vươn lên vị trí thứ 3 trong năm 2019. Đầu tư cho năng lượng sạch ở Ấn Độ dự báo tăng 369% từ năm 2010 đến năm 2020. Đến năm 2027, Chính phủ Ấn Độ kỳ vọng sản xuất được 275GW điện từ các nguồn năng lượng tái sinh.

nganh dau khi the gioi hien tai va tuong lai
Năng lượng địa nhiệt là một nguồn năng lượng tái tạo tạo ra điện với lượng khí thải carbon tối thiểu

Vivien Foster - nhà kinh tế năng lượng của WB - cho rằng: “Ấn Độ là quốc gia điển hình về năng lượng sạch cho thấy đây không phải là gánh nặng mà là cơ hội”. Bộ trưởng Bộ Năng lượng của Ấn Độ Piyush Goyal cho rằng, thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu buộc Ấn Độ triển khai các biện pháp triệt để hơn để chuyển hóa ngành năng lượng. Việc phát triển năng lượng bền vững không chỉ giải quyết bài toán phát triển của quốc gia mà còn góp phần tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và bảo vệ môi trường. Việc phát triển năng lượng bền vững sẽ giúp gần 300 triệu người dân trong tổng dân số 1,3 tỉ người của Ấn Độ chưa được tiếp cận điện có cuộc sống tốt hơn.

Từ năm 2016, Ấn Độ bắt đầu cho thay thế 770 triệu đèn đường, đèn gia đình bằng các bóng đèn LED tiết kiệm năng lượng và có tuổi thọ cao, đồng thời đưa điện lưới đến hàng ngàn hộ gia đình ở các vùng nông thôn. Ấn Độ được Tạp chí Địa lý quốc gia (Mỹ) đánh giá là đang phát triển năng lượng tái sinh và năng lượng mặt trời với “tốc độ ánh sáng”. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường và công nghệ năng lượng Mặt trời đã giúp giá điện giảm mạnh từ 12 cent/kW còn 4 cen/kW, rẻ hơn nhiều so với sản xuất điện từ than.

Phan Lương - Thanh Vân - Thanh Nam

Share on Google+
  • vietdragon-land