IMF: Kinh tế toàn cầu đối mặt với thử thách lớn nhất kể từ Thế chiến thứ 2

12:18 | 24/05/2022

|
Trong một bài đăng trước thềm Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra trong tuần này, IMF cho rằng kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với "thử thách lớn nhất kể từ Thế chiến thứ 2".

Cùng lúc đối mặt với nhiều tai họa tiềm ẩn

Theo Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva, với cuộc xung đột Nga - Ukraine cộng thêm những tác động kinh tế còn sót lại của cuộc khủng hoảng dịch Covid-19 đã kéo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đi xuống và đẩy lạm phát lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.

IMF: Kinh tế toàn cầu đối mặt với thử thách lớn nhất kể từ Thế chiến thứ 2 - 1
Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) - bà Kristalina Georgieva cho rằng nền kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với "thử thách lớn nhất kể từ Thế chiến thứ 2" (Ảnh: Reuters).

Giá thực phẩm và năng lượng tăng cao đang bóp nghẹt các hộ gia đình trên khắp thế giới, trong khi các ngân hàng trung ương đang thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát, càng gây thêm áp lực lên các quốc gia, công ty và những hộ gia đình đang mắc nợ.

Ngoài ra, với sự bất ổn ngày càng tăng trên thị trường tài chính và mối đe dọa dai dẳng từ biến đổi khí hậu, IMF cho rằng, thế giới đang phải đối mặt cùng lúc với nhiều tai họa tiềm ẩn.

"Tuy nhiên, khả năng ứng phó của chúng tôi đang bị hạn chế bởi hậu quả của cuộc chiến tại Ukraine - làm gia tăng nguy cơ phân mảnh địa kinh tế", Giám đốc điều hành IMF cho biết.

Theo bà, những căng thẳng gia tăng về thương mại, tiêu chuẩn công nghệ và an ninh trong nhiều năm đang làm suy yếu tăng trưởng và lòng tin vào hệ thống kinh tế toàn cầu hiện tại.

Bà cho biết, theo nghiên cứu của IMF, sự không chắc chắn của các chính sách thương mại đã khiến GDP toàn cầu giảm gần 1% trong năm 2019.

Nghiên cứu của IMF cũng chỉ ra rằng khoảng 30 quốc gia đã hạn chế giao dịch các mặt hàng thực phẩm, năng lượng và các loại hàng hóa chủ chốt khác.

Bà Georgieva cảnh báo rằng sự phân tán hơn nữa sẽ gây ra những tổn thất to lớn cho toàn cầu, làm tổn hại đến mọi người trên toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Theo bà, chỉ riêng sự phân tán về công nghệ cũng có thể làm giảm 5% GDP của nhiều quốc gia.

Giải pháp

Để giải quyết tình trạng phân tán này, trước hết, IMF đã kêu gọi các chính phủ hạ các rào cản thương mại để giảm bớt tình trạng thiếu hụt và giảm giá lương thực và các hàng hóa khác, đồng thời đa dạng hóa xuất khẩu để cải thiện sự phục hồi của nền kinh tế.

"Không chỉ các quốc gia mà các công ty cũng cần đa dạng hóa nhập khẩu để đảm bảo chuỗi cung ứng và duy trì những lợi ích to lớn trong kinh doanh của hội nhập toàn cầu", bà Georgieva nói.

Thứ 2, IMF cũng kêu gọi các nỗ lực hợp tác để giải quyết nợ, vì khoảng 60% các quốc gia thu nhập thấp đang có các khoản nợ dễ bị tổn thương và sẽ cần tái cơ cấu.

"Nếu không có sự hợp tác dứt khoát để giảm bớt gánh nặng cho họ và cho cả các chủ nợ của họ thì tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn. Nhưng đổi lại, sự ổn định của nợ sẽ thu hút đầu tư mới và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm", bà Georgieva nói và cho rằng: "Đó là lý do tại sao Khuôn khổ chung về xử lý nợ của G20 phải được cải thiện ngay lập tức".

Thứ 3, IMF kêu gọi hiện đại hóa các hệ thống thanh toán xuyên biên giới, đặc biệt là những hệ thống thanh toán kém hiệu quả đang tạo ra những rào cản đối với sự tăng trưởng kinh tế. Tổ chức này ước tính chi phí trung bình của một khoản thanh toán quốc tế là 6,3%, điều đó có nghĩa khoảng 45 tỷ USD mỗi năm được chuyển sang cho các trung gian.

"Các quốc gia có thể hợp tác cùng nhau để phát triển nền tảng kỹ thuật số chung toàn cầu - một phần của hạ tầng thanh toán mới với các quy tắc rõ ràng - để mọi người có thể gửi tiền với chi phí tối thiểu, tốc độ tối đa và an toàn. Nó có thể kết nối với các loại tiền khác nhau, bao gồm cả tiền số của các ngân hàng trung ương", CEO của IMF nhấn mạnh.

Cuối cùng, IMF kêu gọi thu hẹp khẩn cấp khoảng cách "giữa tham vọng và chính sách" trong vấn đề biến đổi khí hậu, thảo luận về cách tiếp cận toàn diện trong quá trình chuyển đổi xanh kết hợp với định giá carbon và đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng với việc đền bù cho những người bị ảnh hưởng bất lợi do biến đổi khí hậu.

Theo Dân trí

Giá dầu ổn định trong tuần khi rủi ro nguồn cung đi cùng với lo ngại tăng trưởng kinh tếGiá dầu ổn định trong tuần khi rủi ro nguồn cung đi cùng với lo ngại tăng trưởng kinh tế
Kinh tế Trung Quốc gây thất vọng vì dịch Covid-19Kinh tế Trung Quốc gây thất vọng vì dịch Covid-19
Lạm phát ở Việt Nam đã đáng lo?Lạm phát ở Việt Nam đã đáng lo?
USD tăng giá: Ai mừng? Ai lo?USD tăng giá: Ai mừng? Ai lo?
Thủ tướng: Tình hình kinh tế xã hội tháng 4 tiếp tục khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vựcThủ tướng: Tình hình kinh tế xã hội tháng 4 tiếp tục khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vực

  • bidv-65-nam
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 67,850 68,600
AVPL/SJC HCM 67,850 68,650
AVPL/SJC ĐN 67,850 68,650
Nguyên liêu 9999 - HN 53,600 53,850
Nguyên liêu 999 - HN 53,550 53,800
AVPL/SJC Cần Thơ 67,850 68,600
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 53.700 54.800
TPHCM - SJC 67.800 68.600
TPHCM - Hà Nội PNJ 53.700
Hà Nội - 67.960 68.600 27/06/2022 08:52:44
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 53.700
Đà Nẵng - 67.800 68.600 27/06/2022 08:41:55
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 53.700
Cần Thơ - 68.000 68.600 27/06/2022 15:48:31
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 53.700
Giá vàng nữ trang - 53.100 53.900 27/06/2022 08:41:55
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 39.180 40.580
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.280 31.680
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.170 22.570
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,375 5,445
Vàng trang sức 99.99 5,290 5,430
Vàng trang sức 99.9 5,280 5,420
Vàng NL 99.99 5,345 5,430
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,790 6,870
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,790 6,870
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,795 6,860
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,380 5,480
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,370 5,480
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,375 5,445
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 67,900 68,600
SJC 5c 67,900 68,620
SJC 2c, 1C, 5 phân 67,900 68,630
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 53,800 54,750
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 53,800 54,850
Nữ Trang 99.99% 53,650 54,350
Nữ Trang 99% 52,512 53,812
Nữ Trang 68% 35,112 37,112
Nữ Trang 41.7% 20,816 22,816
Cập nhật: 28/06/2022 07:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,700.61 15,859.20 16,370.36
CAD 17,557.41 17,734.75 18,306.37
CHF 23,673.42 23,912.55 24,683.28
CNY 3,404.71 3,439.10 3,550.48
DKK - 3,240.63 3,365.22
EUR 23,932.61 24,174.36 25,273.13
GBP 27,815.29 28,096.26 29,001.83
HKD 2,886.68 2,915.84 3,009.82
INR - 296.35 308.24
JPY 167.64 169.34 177.48
KRW 15.57 17.30 18.97
KWD - 75,763.51 78,803.89
MYR - 5,233.22 5,348.13
NOK - 2,311.36 2,409.84
RUB - 396.86 537.85
SAR - 6,177.85 6,425.77
SEK - 2,251.89 2,347.84
SGD 16,357.08 16,522.31 17,054.84
THB 579.66 644.07 668.83
USD 23,080.00 23,110.00 23,390.00
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 15,790 16,490
CAD - 17,765 18,465
CHF - 23,809 24,759
CNY - 3,404 3,544
DKK - 3,215 3,385
EUR - 23,742 25,032
GBP - 27,968 29,138
HKD - 2,843 3,038
JPY - 167.7 177.25
KRW - 16.08 19.88
LAK - 0.86 1.81
NOK - 2,293 2,413
NZD - 14,386 14,796
SEK - 2,229 2,364
SGD - 16,229 17,029
THB - 644.06 672.06
USD - 23,030 23,470
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,110 23,110 23,390
USD(1-2-5) 22,893 - -
USD(10-20) 23,064 - -
GBP 27,928 28,096 29,135
HKD 2,901 2,921 3,004
CHF 23,767 23,911 24,695
JPY 168.21 169.23 176.88
THB 620.91 627.18 684.7
AUD 15,754 15,849 16,377
CAD 17,659 17,766 18,326
SGD 16,405 16,504 17,049
SEK - 2,260 2,335
LAK - 1.32 1.63
DKK - 3,248 3,354
NOK - 2,322 2,398
CNY - 3,422 3,534
RUB - 392 504
NZD 14,413 14,500 14,840
KRW 16.19 - 19.77
EUR 24,097 24,162 25,211
TWD 709.52 - 806.27
MYR 4,937.6 - 5,419.47
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,090.00 23,100.00 23,380.00
EUR 24,141.00 24,168.00 25,011.00
GBP 28,043.00 28,212.00 28,879.00
HKD 2,904.00 2,916.00 3,006.00
CHF 23,863.00 23,959.00 24,612.00
JPY 170.12 170.80 174.66
AUD 15,740.00 15,803.00 16,378.00
SGD 16,515.00 16,581.00 16,962.00
THB 634.00 637.00 674.00
CAD 17,732.00 178,032.00 18,228.00
NZD 0.00 14,423.00 14,912.00
KRW 0.00 17.27 18.87
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.105 23.125 23.625
AUD 15.768 15.868 16.474
CAD 17.533 17.733 18.342
CHF 23.957 24.057 24.672
EUR 24.108 24.208 24.968
GBP 28.241 28.291 28.951
JPY 169,67 170,67 177,22
SGD 16.542 16.642 16.957
Cập nhật: 28/06/2022 07:30
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas