Giá xăng dầu hôm nay 31/7: Dầu thô trên đà tăng giá mạnh

08:00 | 31/07/2022

|
(PetroTimes) - Lo ngại thiếu hụt nguồn cung trong bối cảnh dự trữ năng lượng tại nhiều quốc gia đang giảm mạnh đã hỗ trợ giá dầu hôm nay khép tuần giao dịch với xu hướng tăng mạnh.
Giá xăng dầu hôm nay 30/7: Dầu thô tiếp đà tăng mạnh, Brent lên mức 110 USD/thùngGiá xăng dầu hôm nay 30/7: Dầu thô tiếp đà tăng mạnh, Brent lên mức 110 USD/thùng
Giá dầu tăng do nguồn cung thắt chặt, thị trường quan tâm cuộc họp sắp tới của OPEC+Giá dầu tăng do nguồn cung thắt chặt, thị trường quan tâm cuộc họp sắp tới của OPEC+
Giá dầu hôm nay 29/7 duy trì đà tăngGiá dầu hôm nay 29/7 duy trì đà tăng
Dự báo giá dầu: Dầu sẽ giảm nhiệt vào đầu tháng 8Dự báo giá dầu: Dầu sẽ giảm nhiệt vào đầu tháng 8
Giá xăng dầu hôm nay 31/7: Dầu thô trên đà tăng giá mạnh
Ảnh minh hoạ

Giá dầu thô bước vào tuần giao dịch từ ngày 25/7 với xu hướng tăng khi mà đồng USD yếu hơn và thị trường ghi nhận tín hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, đang có sự thay đổi về chính sách phòng chống dịch Covid-19.

Chính quyền nhiều thành phố, trung tâm thương mại, công nghiệp lớn của Trung Quốc cũng đã phát đi thông tin về việc sẽ triển khai các biện pháp nhằm hỗ trợ, kích thích tiêu dùng trong nước. Điều này cũng làm “nóng” lên nhu cầu tiêu thụ dầu, vốn đã giảm trong tháng 6/2022, sẽ phục hồi mạnh.

Ghi nhận vào đầu giờ sáng ngày 25/7/2022, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9/2022 đứng ở mức 95,16 USD/thùng, tăng 0,46 USD/thùng trong phiên. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 9/2022 đứng ở mức 104,00 USD/thùng, tăng 0,80 USD/thùng trong phiên.

Đà tăng của giá dầu chỉ bị tạm chặn lại khi thị trường dấy lên nhiều lo ngại về nhu cầu tiêu thụ dầu suy yếu trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ bị kéo chậm lại hơn nữa khi nhiều ngân hàng trung ương quyết định tăng mạnh lãi suất.

Các dữ liệu kinh tế được công bố thời gian gầy đây cũng cho thấy các đầu tàu kinh tế như Mỹ, Trung Quốc, EU… đang chậm lại, đối diện với nguy cơ suy thoái kinh tế.

“Giá dầu mỏ áp lực bởi tâm lý lo ngại ngày càng tăng về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất mạnh, điều này sẽ làm nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại và giảm nhu cầu nhiên liệu”, Giám đốc điều hành Tetsu Emori của tổ chức quản lý quỹ Emori Fund Management Inc với trụ sở tại Nhật Bản nhận định.

Giá dầu giảm mạnh còn do thị trường đặt kỳ vọng nguồn cung sẽ bớt khan hiếm hơn khi EU nới lỏng các biện pháp cấm vận đối với dầu thô của Nga, và Tập đoàn Dầu mỏ quốc gia Libya (NOC) cho biết sẽ khôi phục mức sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày trong thời gian tới.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tiếp tục hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 xuống còn 3,2% thay vì mức 3,6% như dự báo trước đó.

Tuy nhiên, lo ngại về nhu cầu tiêu thụ dầu yếu hơn đã nhanh chóng bị lấn át bởi áp lực về tình trạng thiếu hụt nguồn cung năng lượng toàn cầu, đặc biệt khi mùa đông được dự báo sẽ rất khắc nghiệt đang đến gần tại nhiều quốc gia châu Âu.

Gazprom PJSC, gã khổng lồ dầu khí của Nga, sẽ giảm lưu lượng khí đốt qua đường ống Nord Stream 1 sang châu Âu xuống chỉ còn 20%, tương đương 33 triệu m3 khí/ngày do phải đem tuabin đi bảo trì.

Nguy cơ về một cuộc khủng hoảng năng lượng ở châu Âu khi mà các hầm chứa khí tại nhiều quốc gia trong khu vực đang ở mức thấp kỷ lục và được dự báo khó lấp đầy bởi qua mùa hè khắc nghiệt, châu Âu sẽ lại bước vào mùa đông lạnh giá.

Trao đổi với báo chí, nhà phân tích thị trường cấp cao tại hãng tư vấn Asia Pacific Oanda, ông Jeffrey Halley, cho rằng động thái này của Nga đã làm gia tăng các lo ngại về tinh trạng thiếu hụt nguồn cung và nó đã đẩy giá dầu tăng cao.

Xa hơn, theo ông Tamas Varga - chuyên gia môi giới dầu khí tại hãng PVM, việc cắt giảm nguồn cung khí đốt từ Nga sẽ khiến các quốc gia châu Âu không đủ dự trữ năng lượng cho mùa đông tới.

Dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA), dữ trữ dầu thô của Mỹ đã giảm tới 4,5 triệu thùng, xuống còn 422,1 triệu thùng vào tuần trước.

Đáng chú ý, nhu cầu xăng của Mỹ cũng được ghi nhận phục hồi mạnh tới 8,5% trong tuần kết thúc ngày 22/7.

Đồng USD yếu hơn khi quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã không nằm ngoài kịch bản được đưa ra trước đó cũng là nhân tố thúc đẩy giá dầu đi lên.

Ngoài ra, việc OPEC+ sẽ khó quyết tăng sản lượng vào tháng 9/2022 tại cuộc họp dự kiến diễn ra ngày 3/8, bất chấp những nỗ lực vận động từ Mỹ, cũng là tác nhân thúc đẩy giá dầu đi lên.

Khép tuần giao dịch, giá dầu hôm nay ghi nhận giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 9/2022 trên sàn New York Mercantile Exchanghe đứng ở mức 98,30 USD/thùng, tăng 1,88 USD/thùng trong phiên; trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 9/2022 đứng ở mức 109,98 USD/thùng, tăng 2,84 USD/thùng trong phiên.

Tại thị trường trong nước, hiện giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu được niêm yết trên thị trường như sau: Giá xăng E5 RON 92 không cao hơn 25.073 đồng/lít; giá xăng RON 95 không cao hơn 26.070 đồng/lít; giá dầu diezen 0.05S không cao hơn 24.858 đồng/lít; giá dầu hỏa không cao hơn 25.246 đồng/lít; giá dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 16.548 đồng/kg.

Hà Lê

Nga tấn công dữ dội, còi báo động vang lên khắp lãnh thổ Ukraine
Ngoại trưởng Nga - Mỹ điện đàm lần đầu tiên từ khi xảy ra xung đột tại Ukraine
Hé lộ đầu mối điều phối luồng vũ khí chảy vào Ukraine
Nga "siết van" khí đốt đến châu Âu, vì sao châu Á lại lo?
Tổng thống Putin duyệt kế hoạch tái thiết Mariupol
"Nội công, ngoại kích": Chiến thuật độc của Ukraine tại Kherson

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 65,350 ▼300K 66,150 ▼200K
AVPL/SJC HCM 65,550 ▼150K 66,150 ▼150K
AVPL/SJC ĐN 65,400 ▼250K 66,150 ▼200K
Nguyên liêu 9999 - HN 49,850 ▼250K 50,050 ▼250K
Nguyên liêu 999 - HN 49,800 ▼250K 50,000 ▼250K
AVPL/SJC Cần Thơ 65,650 66,250
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 50.100 ▼200K 51.100 ▼200K
TPHCM - SJC 65.400 ▼200K 66.200 ▼200K
TPHCM - Hà Nội PNJ 50.100 ▼200K
Hà Nội - 65.400 66.150 ▼250K 27/09/2022 10:57:03 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 50.100 ▼200K
Đà Nẵng - 65.400 66.200 ▼200K 27/09/2022 10:53:35 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 50.100 ▼200K
Cần Thơ - 65.450 66.150 ▼250K 27/09/2022 10:58:24 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 50.100 ▼200K
Giá vàng nữ trang - 49.600 50.400 ▼200K 27/09/2022 10:53:35 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 36.550 ▼150K 37.950 ▼150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.230 ▼120K 29.630 ▼120K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 19.720 ▼80K 21.120 ▼80K
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,010 ▼20K 5,090 ▼20K
Vàng trang sức 99.99 4,925 ▼20K 5,075 ▼20K
Vàng trang sức 99.9 4,915 ▼20K 5,065 ▼20K
Vàng NL 99.99 4,925 ▼20K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,550 6,640 ▼10K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,550 ▼20K 6,640 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,540 ▼25K 6,620 ▼20K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,010 ▼20K 5,110 ▼20K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,020 ▼10K 5,120 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,010 ▼20K 5,090 ▼20K
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 65,350 ▼250K 66,150 ▼250K
SJC 5c 65,350 ▼250K 66,170 ▼250K
SJC 2c, 1C, 5 phân 65,350 ▼250K 66,180 ▼250K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 50,150 ▼150K 51,050 ▼150K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 50,150 ▼150K 51,150 ▼150K
Nữ Trang 99.99% 50,050 ▼150K 50,650 ▼150K
Nữ Trang 99% 48,849 ▼148K 50,149 ▼148K
Nữ Trang 68% 32,595 ▼102K 34,595 ▼102K
Nữ Trang 41.7% 19,273 ▼63K 21,273 ▼63K
Cập nhật: 27/09/2022 12:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 14,989.22 15,140.63 15,628.08
CAD 16,884.00 17,054.54 17,603.62
CHF 23,326.62 23,562.24 24,320.83
CNY 3,259.03 3,291.95 3,398.45
DKK - 3,016.51 3,132.37
EUR 22,265.34 22,490.24 23,511.65
GBP 24,894.17 25,145.63 25,955.20
HKD 2,946.21 2,975.97 3,071.79
INR - 289.95 301.57
JPY 159.88 161.50 169.26
KRW 14.35 15.95 17.49
KWD - 76,331.21 79,391.61
MYR - 5,098.88 5,210.66
NOK - 2,158.94 2,250.85
RUB - 358.56 485.93
SAR - 6,293.26 6,545.58
SEK - 2,056.80 2,144.36
SGD 16,116.81 16,279.61 16,803.73
THB 553.52 615.02 638.64
USD 23,560.00 23,590.00 23,870.00
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,137 15,237 15,787
CAD 17,081 17,181 17,731
CHF 23,487 23,592 24,392
CNY - 3,274 3,384
DKK - 3,027 3,157
EUR #22,475 22,500 23,610
GBP 25,198 25,248 26,208
HKD 2,949 2,964 3,099
JPY 161.01 161.01 169.56
KRW 14.83 15.63 18.43
LAK - 0.74 1.69
NOK - 2,166 2,246
NZD 13,263 13,346 13,633
SEK - 2,049 2,159
SGD 16,086 16,186 16,786
THB 572.47 616.81 640.47
USD #23,577 23,597 23,877
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,580 23,580 23,860
USD(1-2-5) 23,358 - -
USD(10-20) 23,533 - -
GBP 25,032 25,183 26,109
HKD 2,959 2,980 3,064
CHF 23,436 23,577 24,305
JPY 160.58 161.55 168.8
THB 592.72 598.71 653.42
AUD 15,052 15,143 15,643
CAD 16,958 17,061 17,594
SGD 16,184 16,282 16,760
SEK - 2,066 2,134
LAK - 1.13 1.45
DKK - 3,026 3,124
NOK - 2,171 2,242
CNY - 3,271 3,380
RUB - 360 478
NZD 13,252 13,332 13,649
KRW 14.89 16.45 17.43
EUR 22,431 22,492 23,470
TWD 674.19 - 765.58
MYR 4,818.31 - 5,288.21
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,560.00 23,580.00 23,860.00
EUR 22,452.00 22,462.00 23,369.00
GBP 25,091.00 25,242.00 25,878.00
HKD 2,963.00 2,954.00 3,066.00
CHF 23,520.00 23,614.00 24,239.00
JPY 161.78 161.93 168.43
AUD 15,049.00 15,109.00 15,681.00
SGD 16,274.00 16,339.00 16,705.00
THB 608.00 610.00 644.00
CAD 17,057.00 17,125.00 17,518.00
NZD 0.00 13,247.00 13,727.00
KRW 0.00 15.95 17.30
Cập nhật: 27/09/2022 12:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.592 23.612 23.987
AUD 15.081 15.181 15.836
CAD 16.924 17.124 17.783
CHF 23.643 23.743 24.400
EUR 22.475 22.575 23.390
GBP 25.235 25.285 26.000
JPY 161,86 162,86 169,42
SGD 16.232 16.332 16.945
Cập nhật: 27/09/2022 12:15