Cổ phiếu dầu khí "thăng hoa" cùng thị trường chứng khoán

07:00 | 30/01/2022

|
(PetroTimes) - Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam ghi nhận một năm 2021 thăng hoa dù dịch bệnh bùng phát, dự báo sẽ chinh phục những đỉnh mới trong năm 2022. Cổ phiếu dầu khí đang được đánh giá tích cực, có thể trở thành những ngôi sao sáng trên TTCK.
Cổ phiếu dầu khí
Mỏ dầu khí Bạch Hổ

2021 - Thị trường thăng hoa

Kinh tế Việt Nam chịu tác động lớn từ làn sóng dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4. Tính chung cả năm 2021, GDP Việt Nam chỉ tăng 2,58%, thấp hơn mức 2,91% của năm 2020, cũng là mức tăng thấp nhất trong 10 năm gần đây. Giãn cách xã hội kéo dài tại nhiều địa phương khiến khu vực dịch vụ tăng trưởng âm; hoạt động bán buôn, bán lẻ giảm 0,21% so với năm trước; vận tải, kho bãi giảm hơn 5%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 20,81%...

Trong bối cảnh đó, TTCK là một trong những kênh thu hút sự quan tâm lớn từ nhà đầu tư. Lũy kế 11 tháng năm 2021, nhà đầu tư trong nước mở mới hơn 1,3 triệu tài khoản chứng khoán, lớn hơn tổng số tài khoản mở mới trong 4 năm 2017, 2018, 2019 và 2020 cộng lại (1,04 triệu tài khoản). Chỉ số VN-Index liên tiếp chinh phục những đỉnh mới. Đến ngày 30-12-2021, VN-Index tăng 394,41 điểm, tương ứng tăng 35,73% so với đầu năm. Vốn hóa TTCK đạt 7,77 triệu tỉ đồng, tương ứng 123% GDP. Hòa cùng đà thăng hoa của TTCK và sự hồi phục của thị trường dầu thô, giá các cổ phiếu dầu khí như: GAS, PVD, PVT, POW, BSR, OIL... tăng khá tốt, trung bình tăng khoảng 60,6%.

Giai đoạn đầu năm 2021 giá dầu thô vẫn chưa phục hồi hoàn toàn và neo quanh mức 40 USD/thùng. Cổ phiếu dầu khí niêm yết tiếp tục đối mặt với thách thức. BSR, OIL là các mã cổ phiếu chịu ảnh hưởng nặng nề do tác động của dịch bệnh khiến nhu cầu đi lại giảm, xăng dầu tiêu thụ thấp. DPM, DCM được đánh giá là những cổ phiếu thu hút được dòng tiền lớn, có sự tăng trưởng ngoạn mục trong bối cảnh giá dầu thấp. Trong quý II/2021, cổ phiếu DPM tăng 38,6%, DCM tăng 66,6% so với đáy thấp nhất ghi nhận hồi tháng 3. Nhóm cổ phiếu PVD, PVS, PVT, GAS, POW, PET, PVI giao dịch tương đối ổn định so với các cổ phiếu khác trên TTCK.

Qua 6 tháng đầu năm, TTCK bước vào một giai đoạn mới với nhiều kỳ vọng vào những điểm sáng, những câu chuyện tiềm năng của cổ phiếu.

Cổ phiếu dầu khí
Các cổ phiếu ngành Dầu khí có nhiều dư địa tăng trưởng trong giai đoạn hậu Covid-19

Hoạt động của các doanh nghiệp dầu khí cũng chịu ảnh hưởng nặng nề trước tác động của làn sóng Covid-19 bùng phát lần thứ 4. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp niêm yết ngành Dầu khí đã thực hiện nhiều giải pháp phù hợp, tích cực nhằm giảm thiểu tác động của dịch bệnh, ghi nhận những con số kết quả kinh doanh tương đối khả quan. Cụ thể, kết quả sản xuất kinh doanh năm 2021 của một số doanh nghiệp dầu khí như GAS, PVT, PVS, DPM, PVI... đều vượt kế hoạch.

GAS thông báo ước doanh thu 2021 đạt 80.000 tỉ đồng; lợi nhuận trước thuế 10.500 tỉ đồng, vượt 19% kế hoạch năm 2021.

PVT thông báo doanh thu năm 2021 đạt trên 7.500 tỉ đồng, vượt 25% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế 950 tỉ đồng, tương đương 190% kế hoạch năm.

POW thông báo doanh thu năm 2021 đạt 25.175 tỉ đồng, tương ứng 88,6% kế hoạch cả năm; lợi nhuận trước thuế 2.184 tỉ đồng, vượt 14% kế hoạch năm.

DPM thông báo doanh thu cả năm đạt 12.826 tỉ đồng và lợi nhuận trước thuế ước 3.600 tỉ đồng, vượt xa kế hoạch năm...

Trong quý II/2021, cổ phiếu DPM tăng 38,6%, DCM tăng 66,6% so với đáy thấp nhất ghi nhận hồi tháng 3. Nhóm cổ phiếu PVD, PVS, PVT, GAS, POW, PET, PVI giao dịch tương đối ổn định so với các cổ phiếu khác trên TTCK.

2022 - Nhiều dư địa tăng trưởng

Giá dầu hiện đang được đánh giá sẽ tiếp tục giữ ở mức cao trong năm 2022. Dự báo cho năm 2022, các nhà chiến lược của JP Morgan cho rằng: “Mặc dù chúng tôi nhìn thấy tiềm năng rõ ràng cho một chu kỳ kinh tế sôi động hơn, nhưng môi trường cũng đầy rẫy những dòng chảy chéo. Chúng tôi tin tưởng rằng, sự mở rộng kinh tế sẽ tiếp tục đến năm 2022, nhưng sức mạnh của nó có thể sẽ được quyết định bởi phản ứng của tiền tệ đối với lạm phát”. Nền kinh tế sôi động đồng nghĩa với nhu cầu dầu gia tăng mạnh mẽ và JP Morgan thậm chí còn dự báo giá dầu thô có thể tăng lên 125 USD/thùng vào năm 2022 do khả năng thúc đẩy khai thác của OPEC còn hạn chế.

Trung tâm phân tích Công ty CP Chứng khoán Dầu khí (PSI) vẫn theo sát và cập nhật báo cáo phân tích các cổ phiếu ngành Dầu khí. Theo PSI, cổ phiếu dầu khí đang có triển vọng rất lớn trong năm 2022 nhờ các lý do: Định giá của cổ phiếu dầu khí vẫn hấp dẫn hơn so với nhiều cổ phiếu khác; đà tăng của giá dầu giúp gia tăng nguồn công việc và giá dịch vụ cho các doanh nghiệp dầu khí; nhiều dự án dầu khí mới bắt đầu được triển khai hoặc đi vào khai thác...

Tổng công ty Khí Việt Nam - CTCP (Mã CK: GAS) đang nắm giữ lợi thế chiếm lĩnh 100% thị trường khí và đứng đầu trên thị trường bán buôn LPG. Triển vọng trung và dài hạn của GAS rất tích cực nhờ xu hướng nhu cầu tiêu thụ khí thiên nhiên ngày càng gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi sang năng lượng sạch. Kho LNG Thị Vải giai đoạn 1 với công suất 1 triệu tấn/năm đang được hoàn thiện, dự kiến sẽ vận hành trong năm 2022, đáp ứng nhu cầu khí cho khu vực kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, là tiền đề để PV GAS tiếp tục phát triển các dự án kho LNG tiếp theo.

Cổ phiếu dầu khí
Cổ phiếu dầu khí "thăng hoa" cùng thị trường chứng khoán

Nhóm các doanh nghiệp dầu khí cung cấp dịch vụ, sản phẩm như: Tổng công ty CP Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (Mã CK: PVS), Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (Mã CK: PVD), Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (Mã CK: PVT), Tổng công ty Hóa chất và Dịch vụ Dầu khí (Mã CK: PVC) sẽ có nhiều điểm sáng khi thị trường thăm dò, khai thác dầu khí trong thời gian tới sẽ sôi động trở lại, giá dầu đang giữ ở mức cao trên điểm hòa vốn khai thác. PVS tiếp tục cung cấp dịch vụ FSO/FPSO. Hiệu suất giàn khoan của PVD dự kiến cải thiện mạnh khi bắt đầu cho thuê giàn khoan PV DRILLING V tại Brunei. Hoạt động vận chuyển dầu thô, dầu sản phẩm của PVT sẽ được duy trì tốt thông qua việc đầu tư thêm các tàu mới trong thời gian qua.

Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón như Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (Mã CK: DPM), Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (Mã CK: DCM) dự kiến vẫn có thể duy trì hiệu quả kinh doanh tích cực như năm 2020 nhờ dự báo tình hình nông nghiệp khả quan hơn và giá phân bón giữ ở mức cao đến nửa đầu năm 2022 trong bối cảnh các quốc gia xuất khẩu phân bón lớn trên thế giới đồng loạt hạn chế xuất khẩu. Hiện nay, Nga và Trung Quốc, hai nước xuất khẩu phân bón hàng đầu thế giới, đều đưa ra các biện pháp hạn chế xuất khẩu. Tiếp theo đó, Thổ Nhĩ Kỳ, một trong những quốc gia sản xuất phân bón chủ lực ở châu Âu, hiện đã ngừng xuất khẩu nhiều lô hàng.

Các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xăng, dầu như Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (Mã CK: BSR), Tổng công ty Dầu Việt Nam (Mã CK: OIL) đều có dư địa hồi phục và phát triển mạnh nhờ nền kinh tế đang quay trở lại trạng thái bình thường mới, giúp gia tăng nhu cầu đi lại không chỉ trong nước mà cả quốc tế.

Tổng công ty Điện lực Dầu khí - CTCP (Mã CK: POW) sẽ bắt đầu triển khai xây dựng Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3&4 sử dụng nhiên liệu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), tiếp tục khẳng định vị thế là nhà phát triển điện khí hàng đầu tại Việt Nam.

Công ty CP PVI (Mã CK: PVI) cũng có nhiều dư địa tăng trưởng trong 2022 nhờ triển vọng kinh tế vĩ mô tăng trưởng mạnh giúp thúc đẩy nhu cầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Ngoài ra, TTCK tăng trưởng mạnh cũng giúp danh mục đầu tư tài chính của PVI đạt hiệu quả cao...

Như vậy, các cổ phiếu ngành dầu khí xứng đáng nhận được sự quan tâm của nhà đầu tư nhờ có nhiều dư địa tăng trưởng bởi nhiều dự án năng lượng được đẩy mạnh đầu tư cùng với triển vọng nền kinh tế phục hồi hậu Covid-19, kéo theo nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu, khí đốt gia tăng.

Theo PSI, cổ phiếu dầu khí có triển vọng rất lớn trong năm 2022 nhờ các lý do: Định giá của cổ phiếu dầu khí đang hấp dẫn hơn so với nhiều cổ phiếu khác; đà tăng của giá dầu giúp gia tăng nguồn công việc và giá dịch vụ cho các doanh nghiệp dầu khí; nhiều dự án dầu khí mới bắt đầu được triển khai hoặc đi vào khai thác...

Minh Châu

Tỷ phú Buffett bỏ túi 9,8 tỷ USD trong một ngày nhờ cổ phiếu AppleTỷ phú Buffett bỏ túi 9,8 tỷ USD trong một ngày nhờ cổ phiếu Apple
Các Các "ông lớn" ngân hàng Mỹ ồ ạt tăng thưởng cho nhân viên
Ông Trần Đình Long và 2 đại gia Đông Âu Ông Trần Đình Long và 2 đại gia Đông Âu "đòi lại" hàng nghìn tỷ đồng
Bị Trung Quốc điều tra, nữ tỷ phú Hồng Kông Bị Trung Quốc điều tra, nữ tỷ phú Hồng Kông "bay" mất nửa tài sản
VN-Index bị VN-Index bị "thổi bay" hơn 43 điểm đầu tuần: Chết đứng vì full margin

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 65,400 66,400
AVPL/SJC HCM 65,300 66,300
AVPL/SJC ĐN 65,400 66,400
Nguyên liêu 9999 - HN 50,750 51,650
Nguyên liêu 999 - HN 50,700 51,600
AVPL/SJC Cần Thơ 65,200 66,100
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 51.650 52.650
TPHCM - SJC 65.100 66.100
TPHCM - Hà Nội PNJ 51.650
Hà Nội - 65.400 66.400 01/10/2022 11:38:38
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 51.650
Đà Nẵng - 65.100 66.100 01/10/2022 09:59:24
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 51.650
Cần Thơ - 65.600 66.400 01/10/2022 12:47:36
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 51.650
Giá vàng nữ trang - 51.150 51.950 01/10/2022 09:59:24
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.710 39.110
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.140 30.540
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.360 21.760
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,160 5,240
Vàng trang sức 99.99 5,075 5,225
Vàng trang sức 99.9 5,065 5,215
Vàng NL 99.99 5,075
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,540 6,640
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,540 6,640
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,540 6,640
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,150 5,250
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,160 5,260
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,160 5,240
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 65,400 66,400
SJC 5c 65,400 66,420
SJC 2c, 1C, 5 phân 65,400 66,430
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,650 52,650
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,650 52,750
Nữ Trang 99.99% 51,550 52,250
Nữ Trang 99% 50,433 51,733
Nữ Trang 68% 33,684 35,684
Nữ Trang 41.7% 19,940 21,940
Cập nhật: 02/10/2022 10:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,070.75 15,222.98 15,712.93
CAD 16,976.25 17,147.73 17,699.63
CHF 23,800.45 24,040.86 24,814.62
CNY 3,294.49 3,327.77 3,435.39
DKK - 3,088.89 3,207.50
EUR 22,796.83 23,027.10 24,072.65
GBP 25,901.69 26,163.32 27,005.39
HKD 2,963.53 2,993.47 3,089.81
INR - 291.70 303.39
JPY 160.65 162.27 170.07
KRW 14.41 16.01 17.55
KWD - 76,831.49 79,911.16
MYR - 5,094.68 5,206.32
NOK - 2,185.33 2,278.34
RUB - 363.53 492.65
SAR - 6,333.79 6,587.67
SEK - 2,093.67 2,182.78
SGD 16,244.81 16,408.89 16,937.02
THB 557.52 619.47 643.25
USD 23,700.00 23,730.00 24,010.00
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 14,980 15,680
CAD - 16,955 17,655
CHF - 23,674 24,624
CNY - 3,283 3,423
DKK - 3,056 3,226
EUR - 22,535 23,825
GBP - 26,083 27,253
HKD - 2,920 3,115
JPY - 160.77 170.32
KRW - 14.57 18.37
LAK - 0.75 1.7
NOK - 2,110 2,230
NZD - 13,102 13,512
SEK - 2,079 2,214
SGD - 16,074 16,874
THB - 617.72 645.72
USD - 23,640 24,080
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,730 23,730 24,010
USD(1-2-5) 23,507 - -
USD(10-20) 23,683 - -
GBP 25,929 26,086 27,035
HKD 2,978 2,999 3,083
CHF 23,918 24,062 24,803
JPY 161.39 162.36 169.65
THB 596.33 602.36 657.35
AUD 15,143 15,234 15,737
CAD 17,044 17,147 17,682
SGD 16,310 16,409 16,890
SEK - 2,099 2,167
LAK - 1.11 1.42
DKK - 3,097 3,198
NOK - 2,194 2,266
CNY - 3,313 3,420
RUB - 377 485
NZD 13,404 13,485 13,804
KRW 14.93 - 17.47
EUR 22,963 23,025 24,025
TWD 679.84 - 772.26
MYR 4,816.56 - 5,285.87
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,650.00 23,670.00 23,960.00
EUR 22,989.00 23,001.00 23,933.00
GBP 26,111.00 26,269.00 26,939.00
HKD 2,976.00 2,988.00 3,082.00
CHF 24,024.00 24,120.00 24,784.00
JPY 162.26 162.41 169.05
AUD 15,131.00 15,192.00 15,779.00
SGD 16,369.00 16,435.00 16,816.00
THB 608.00 610.00 644.00
CAD 17,130.00 17,199.00 17,607.00
NZD 0.00 13,393.00 13,887.00
KRW 0.00 15.96 18.31
Cập nhật: 02/10/2022 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.720 23.824 24.015
AUD 15.195 15.261 15.953
CAD 17.026 17.460 17.886
CHF 24.092 24.020 24.859
EUR 22.968 23.156 23.883
GBP 26.271 26.423 27.031
JPY 162,72 164,55 170,29
SGD 16.347 16.512 17.054
Cập nhật: 02/10/2022 10:30