Chủ nhật 15/09/2019 23:46

Ước mơ siêu cường của Trung Quốc trên Biển Đông

04:00 | 18/08/2012

|
(Petrotimes) - Trong ấn bản Winter 2010 của chuyên san Orbis thuộc Viện Nghiên cứu chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, James Kraska - nguyên cố vấn chính sách của Giám đốc Cục Hoạch định chính sách chiến lược thuộc Bộ Tổng tham mưu Lục quân Hoa Kỳ - đã khiến nước Mỹ sởn gai ốc khi hình dung rằng, vào năm 2015, chiếc Hàng không mẫu hạm (HKMH) trị giá 9 tỉ USD USS George Washington có thể bị Trung Quốc (TQ) đánh một phát chìm nghỉm! Loại vũ khí nào của TQ mà James Kraska cho rằng có thể hạ gục HKMH Mỹ?

Bài 2: Con ngáo ộp ASBM!

Trân châu cảng “phiên bản 2.0”?

Sự kiện (giả định) trên đã không chỉ cho thấy bức tranh thay đổi cán cân về sức mạnh hải quân tại châu Á mà còn “đưa đến một giai đoạn mới về trật tự quốc tế mới trong đó Bắc Kinh bắt đầu nổi lên thay thế Mỹ”. Và loại vũ khí kinh khủng đủ khả năng diệt được HKMH Mỹ đang được đề cập là thứ mà đã được nhắc với mật độ dày đặc nhiều năm qua: phản hạm đạo đạn (antiship ballistic missile-ASBM, tên lửa đạn đạo diệt HKMH). Với ASBM, cái thế “mất đối xứng” của TQ đối với Mỹ tại bàn cờ chiến lược quân sự Đông Nam Á không còn tồn tại. Với ASBM, TQ đã có thể thành công trong chiến thuật “dĩ lục chế hải” (dùng đất liền chế ngự hải dương).

Cách đây hai năm, trong cuộc phỏng vấn tờ Asahi Shimbun (dẫn lại từ Washington Times 26/12/2010), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ Robert F. Willard nói rằng, ASBM TQ đã bắt đầu đi vào “IOC” (khả năng hoạt động ở giai đoạn đầu). “Tình hình là đáng lo chứ không phải không, mà bởi (ASBM TQ) là mối họa đối với Đông Nam Á nên cũng là mối họa đối với nước Mỹ” - tướng Willard nói. Trong báo cáo đệ trình Quốc hội (đề ngày 23/3/2012), chuyên gia Hải quân Ronald O’Rourke cho biết thêm, sát thủ ASBM đã được triển khai cho quân đội TQ vào đầu năm 2011…

Mô hình một vụ tấn công bằng ASBM

Bắn từ dàn phóng di động, với hỗ trợ của radar cùng hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng vệ tinh và máy bay do thám không người lái, ASBM của TQ, như được miêu tả, là hệ thống gồm tên lửa hai tầng (tầng một để phóng lên không trung và tầng hai là đầu đạn bay đâm ngược xuống để triệt hạ mục tiêu). Một ASBM đơn giản sẽ gồm loại tên lửa được lắp một đầu đạn nhưng nó có thể được nâng cấp để lắp nhiều đầu đạn để tăng mức hiệu quả sát hại. Thập niên 1970, Liên Xô đã phát triển tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 để diệt các mục tiêu di động của NATO. SS-20 thật sự là vũ khí đáng sợ (NATO chỉ có 4-6 phút cảnh báo sau khi SS-20 rời dàn phóng). Để chống trả, Tổng thống Ronald Reagan cho phát triển hệ thống bắn chặn Pershing II. Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh, với Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân tầm trung (INF) ký giữa Washington và Moskva tháng 12/1987, SS-20 và Pershing II đều được cho vào viện bảo tàng (theo nghĩa bóng lẫn đen).

Chú Sam “thúc thủ vô sách”?

Theo Marshall Hoyler (cựu Giáo sư Đại học Hải quân Hoa Kỳ) viết trên chuyên san Naval War College Review (Vol. 63, No. 4, Autumn 2010), 4 năm qua, TQ đã sản xuất từ 9-15 tên lửa DF-21D mỗi năm. Về phía Mỹ, Hoyler cho biết, hải quân họ có 18 tàu trang bị hệ thống Aegis chuyên bắn chặn được triển khai khắp thế giới, với hai loại tên lửa SM-2 Block IV và SM-3; trong đó SM-3 được thiết kế để “đón khách” ngoài tầng khí quyển, trong khi SM-2 Block IV có nhiệm vụ “bồi tiếp” nếu “khách” lọt qua hàng rào khí quyển và phăm phăm phóng đến mục tiêu (tức đầu đạn của đối phương sau khi tách ra khỏi tên lửa ngoài tầng khí quyển).

Tính đến cuối năm 2008 (nđd), Mỹ có 40 tên lửa SM-2 Block IV và 38 tên lửa SM-3. Theo “viễn kiến” của (cựu) Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates vào tháng 4/2009, Mỹ cần phải có 220 SM-3 vào cuối năm 2015. Theo tính toán của Hoyler, Mỹ cần phải có 13 chiếc tàu trang bị hệ thống Aegis để đối phó Iran, ba chiếc đối phó với Bắc Triều Tiên và chín chiếc đối phó với TQ; và trong 220 tên lửa SM-3 được sản xuất đến trước năm 2015 như mong muốn của Robert Gates, phải có 148 cái dành riêng để tiếp “thượng khách” TQ... Vấn đề ở chỗ, như nhận xét của Hoyler, bằng vào việc có nhiều tên lửa bắn chặn hơn, vẫn chưa chắc rằng Mỹ có thể thủ thắng trong cuộc đọ sức với ASBM TQ. Tại sao?

Thứ nhất (nghe hệt như Hoyler đang “vẽ đường cho hươu chạy”!), là TQ có thể bắn DF-21 (loại tên lửa đạn đạo bình thường) để dụ đối phương bắn trả, rồi chờ đến khi Mỹ “hết đạn”, TQ mới xịt lên DF-21D ASBM thứ thiệt! Thứ hai, TQ có thể bắn “chim mồi”, bằng cách tung lên những quả bóng Mylar phủ aluminum. Đầu đạn thật sự sẽ được lắp trong một hoặc vài quả bóng như vậy; trong khi các quả bóng còn lại chứa pin lithium để làm tản nhiệt, khiến vệ tinh cảm ứng Mỹ chẳng biết đâu là quả bóng thật sự chứa đầu đạn hạt nhân. Thứ ba, TQ có thể “bọc áo” cho đầu đạn (phủ lớp làm nguội), khiến nó hoàn toàn không thể bị thiết bị cảm ứng hồng ngoại của Mỹ dò ra. Để tăng hiệu quả tấn công, TQ chỉ cần “sử” một trong ba cách trên hoặc cùng lúc dùng cả ba cách! Hoyler thậm chí còn “vạch áo cho người xem lưng”, khi cho biết, hầu hết tất cả thử nghiệm SM-3 của Mỹ đều thành công nhưng Mỹ chưa từng công bố thử nghiệm khả năng phân biệt “chim mồi” cũng như những giải pháp ứng chiến khác, để cho thấy Mỹ thật sự có đủ khả năng triệt khử ASBM. Đành phải “cam bái hạ phong” thôi!

Một con “ngáo ộp”!

Phải nói rằng ASBM, nếu thật sự được chế tạo thành công, là một “tuyệt tác” của vũ khí từ cổ chí kim. Nó xứng đáng được xem là biểu tượng đánh dấu một cuộc cách mạng “bài sơn đảo hải” trong quân sử thế giới. Nó sẽ làm thay đổi sâu sắc diện mạo chiến tranh, theo cách như bom nguyên tử cách đây hơn nửa thế kỷ. Nó không chỉ tái lập sự cân bằng quyền lực quân sự mà còn giúp “giành thiên hạ” về tay mình với ai sở hữu nó. Gút lại, ASBM là “tinh túy” của mọi thế hệ vũ khí... Bởi vì, ASBM không phải là vũ khí mà là một hệ thống vũ khí. Nó là hệ thống của những hệ thống mà theo ngôn ngữ quân sự Mỹ thì đó là C4ISR (command, control, communications, computers, intelligence, surveillance, reconnaissance - chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát, do thám). Nó phải được vận hành và điều khiển với sự phối hợp đồng bộ, với mức chính xác phải ở chuẩn tuyệt đối, trong đó, bất kỳ sai lệch nào trong kỹ thuật học, toán học, vật lý đạn đạo học, vi tính học… cũng không thể được chấp nhận. Do vậy, cần phải phân biệt rõ rằng, việc chế tạo được loại tên lửa đạn đạo tầm xa như DF-21D là một chuyện nhưng việc đưa nó vào thành một hệ thống tinh vi phức tạp như ASBM hoàn toàn là chuyện khác. DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống mà thôi.

Một cách chính xác hơn, phải nói rằng tên lửa DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống

Cho đến nay, dù giới lãnh đạo quân đội TQ nhiều lần nhắc đến việc chế tạo thành công DF-21D nhưng giới nghiên cứu quân sự thế giới chưa từng nghe nói đến bất kỳ cuộc thử nghiệm ASBM nào của TQ. Bằng vào cách ứng xử phô trương quen thuộc của TQ, một vụ thử nghiệm ASBM - nếu có - hẳn đã được làm rùm beng lên rồi. Bằng vào hệ thống viễn thám mà Mỹ ngày đêm theo dõi TQ, một cuộc thử nghiệm ASBM - cho dù là “bí mật quân sự tuyệt đối” - hẳn đã bị phát hiện rồi. Mà nếu chưa được mang ra thử nghiệm thì hệ thống ASBM, cho đến thời điểm này, vẫn là một con ngáo ộp! Với trình độ hiện tại của TQ, một hệ thống vũ khí “siêu hoàn hảo” theo chuẩn C4ISR, với khả năng đồng bộ hóa tất cả theo thời gian thật, là điều viễn tưởng của viễn tưởng!

Theo phân tích của Marshall Hoyler (nđd), dữ liệu từ vệ tinh truyền xuống mặt đất thường mất hơn năm phút và bộ chỉ huy phải mất thêm một ít thời gian để xử lý dữ liệu nhằm xác định vị trí chính xác của HKMH. Ngoài ra, còn phải tính thêm 10-15 phút để trạm phóng (TEL) chuẩn bị công đoạn “bật quẹt châm lửa” cho DF-21D. Khi rời TEL, ASBM lại cần thêm 12-15 phút để bay đến mục tiêu. Tổng cộng, ASBM TQ phải mất tối thiểu 32-35 phút. Trong khi đó, với vận tốc 35 knot, HKMH Mỹ có thể đã di chuyển xa khỏi điểm rơi được lập trình của đầu đạn ASBM.

Cụ thể, cứ mỗi phút mà ASBM phải mất, HKMH đã đi được hơn 1km. Mất 32 phút mới đến được vị trí định sẵn thì mục tiêu đã rời xa tối thiểu 32km rồi!... Và cũng cần để ý chi tiết quan trọng nữa: tất cả tính toán thời gian nói ở trên, được thí nghiệm trên mô hình máy tính, đều giả định rằng, hàng “hậu vệ” dày đặc nổi tiếng giỏi tài “đốn giò” của hệ thống bắn chặn Mỹ đã bất lực trước ASBM; và giả định rằng giới lãnh đạo Bắc Kinh sẽ ra lệnh bắn ASBM khi ngay vệ tinh truyền đủ dữ liệu liên quan vị trí HKMH. Trong thực tế, sẽ còn mất thêm thời gian (không xác định được) để Bắc Kinh cân nhắc động thủ. Thời gian càng kéo dài, AOU của mục tiêu (“area of uncertainty”, thuật từ quân sự chỉ phạm vi tấn công có biên độ rộng khiến xác suất thành công thấp) sẽ càng giãn ra, và vệ tinh TQ lại phải mò mẫm lại từ đầu để tìm xem cái HKMH chết tiệt bây giờ đang ở “xứ mô” nào rồi…

Mạnh Kim