Trung Quốc thanh kiểm tra hàng loạt cơ quan tài chính

10:14 | 14/10/2021

95 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Không chỉ dừng ở việc tăng cường việc quản lý với các doanh nghiệp tài chính, chính quyền Bắc Kinh đang tiến hành đợt thanh kiểm tra diện rộng với hệ thống tài chính, bao gồm cả PBoC.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC)
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) cũng nằm trong danh sách thanh kiểm tra.

Theo The Sydney Morning Herald, cơ quan giám sát tham nhũng của Trung Quốc sẽ mở một cuộc điều tra đối với 25 tổ chức tài chính lớn nhất nước này và các cơ quan quản lý tài chính, điều này có thể làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng đang xảy ra.

Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc đã bắt đầu kiểm toán trong thời gian hai tháng đối với một số ngân hàng quốc doanh lớn, các công ty bảo hiểm, các nhà quản lý nợ xấu của Trung Quốc, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC), Ủy ban Điều tiết Ngân hàng và Bảo hiểm Trung Quốc, khối tài sản có chủ quyền của Trung Quốc các cơ quan quản lý và trao đổi quỹ và chứng khoán.

Mặc dù được thông báo như một cuộc điều tra chống tham nhũng và nhắm vào các đảng viên Đảng Cộng sản trong ban lãnh đạo của các tổ chức, các cuộc thanh tra sẽ "tìm kiếm kỹ lưỡng mọi sai lệch về chính trị", nhưng có vẻ như nó hướng vào việc xem xét các mối quan hệ giữa các tổ chức và các cơ quan quản lý và các công ty tư nhân mà họ giao dịch hoặc quản lý.

Bối cảnh của đợt kiểm tra đúng vào thời điểm làn sóng vỡ nợ liên tục xảy ra trong lĩnh vực bất động sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Trung Quốc. Đây là lĩnh vực chiếm khoảng 30% GDP của Trung Quốc và cho đến nay vẫn là lĩnh vực có tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng của nước này. Gần 30% các khoản cho vay của các ngân hàng và theo một số ước tính, hơn 40% trong tổng số các khoản nợ của họ là dành cho lĩnh vực bất động sản.

Liệu rằng có hành vi sai trái trong hoạt động cấp phép vay tại các tổ chức bị thanh kiểm tra đợt này?
Liệu rằng có hành vi sai trái trong hoạt động cấp phép vay tại các tổ chức bị thanh kiểm tra đợt này?

Trong khi Evergrande, công ty bất động sản mắc nợ nhiều nhất thế giới với khoản nợ hơn 300 tỷ USD cho đến nay vẫn là công ty nổi bật nhất trong số các nhà phát triển bất động sản Trung Quốc đang gặp khó khăn và không thể trả lãi cho các khoản nợ của họ, danh sách các công ty trong tình trạng tương tự đang kéo dài gần như hàng ngày.

Huarong, một trong bốn tổ chức quản lý nợ xấu của đất nước, được thành lập để quản lý hàng núi nợ khó đòi trong hệ thống ngân hàng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1990, đã được cứu trợ và tái cơ cấu; còn Giám đốc Điều hành của Huarong, Lai Xiaomin đã bị xử tử hình vì tham nhũng. Hu Huaibang, cựu Chủ tịch ngân hàng chính sách lớn nhất Trung Quốc, bị phạt tù chung thân... Sau nhiều năm thực hiện chiến lược chống tham nhũng, tổng cộng Trung Quốc đã trừng phạt hơn 1,5 triệu quan chức.

Tuy nhiên, trong trường hợp của Evergrande và các mối quan hệ thân thiết với các tổ chức tài chính, công ty đã nắm giữ 1,5 tỷ USD cổ phần tại một trong những ngân hàng cho vay của mình, cho đến khi cuộc khủng hoảng xuất hiện buộc họ phải rút cổ phần ra, và ngân hàng khẳng định số tiền thu được sẽ được sử dụng để hoàn trả các khoản vay; thì điều đó dường như đã thúc đẩy cuộc điều tra.

Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương là cơ quan cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu trách nhiệm thực thi các quy định của Đảng và truy quét tham nhũng trong Đảng đã nói rõ rằng, ngăn ngừa các rủi ro hệ thống là động lực chính cho cuộc điều tra của cơ quan này.

Cuộc “trấn áp” đối với các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý là một cuộc đánh giá rộng hơn, gay gắt hơn và chính thức hơn về một lĩnh vực đã được giám sát chặt chẽ hơn trong năm nay.

Một số giám đốc điều hành cấp cao của các ngân hàng quốc doanh lớn đã bị trừng phạt trong năm nay vì lạm dụng chức vụ, đầu tư bất hợp pháp và cho vay không đúng quy định.

Đó cũng là một phần của sự thay đổi rộng rãi và cơ bản hơn trong mô hình kinh tế của Trung Quốc đã tạo ra những cú sốc liên tiếp qua một số lĩnh vực khi chiến lược kinh tế của quốc gia này đột ngột chuyển từ mô hình tăng trưởng “để một số người làm giàu trước tiên” của ông Đặng Tiểu Bình sang mục tiêu bình đẳng của ông Tập Cận Bình về "sự thịnh vượng chung".

Các cuộc đàn áp đối với các công ty công nghệ lớn, fintech và các công ty gọi xe dưới các biểu ngữ chống độc quyền, bảo mật dữ liệu và bảo mật và ổn định hệ thống; việc cấm giáo dục tư thục, hạn chế quyền tiếp cận công nghệ của trẻ em và việc chấn chỉnh hành vi người nổi tiếng và văn hóa hâm mộ đã gây ra những tác động nhất định.

Khu vực tài chính, đặc biệt là khu vực ngân hàng lớn thuộc sở hữu nhà nước và khu vực bất động sản và các mối liên hệ giữa hai lĩnh vực này là trọng tâm hơn nhiều đối với nền kinh tế Trung Quốc so với những mục tiêu trước đó.

Do đóng góp của chính sách “ba lằn ranh đỏ” của Trung Quốc (các giới hạn về đòn bẩy và khả năng tiếp cận nợ đối với các công ty bất động sản có đòn bẩy quá mức đã được đưa ra vào năm ngoái) vào cuộc khủng hoảng hiện tại trong lĩnh vực bất động sản của nước này, có nguy cơ dẫn đến những hậu quả không lường trước được.

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Động lực chính cho cải cách thể chế tài chínhĐộng lực chính cho cải cách thể chế tài chính
Giá xăng dầu tăng Giá xăng dầu tăng "sốc", có lo lạm phát?
Evergrande đối mặt với khoản thanh toán 148 triệu USD đến hạn vào đêm nayEvergrande đối mặt với khoản thanh toán 148 triệu USD đến hạn vào đêm nay

  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 81,650 83,650
AVPL/SJC HCM 81,700 83,700
AVPL/SJC ĐN 81,700 83,700
Nguyên liệu 9999 - HN 75,000 76,100
Nguyên liệu 999 - HN 74,900 76,000
AVPL/SJC Cần Thơ 81,650 83,650
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 74.800 76.800
TPHCM - SJC 81.800 83.800
Hà Nội - PNJ 74.800 76.800
Hà Nội - SJC 81.800 83.800
Đà Nẵng - PNJ 74.800 76.800
Đà Nẵng - SJC 81.800 83.800
Miền Tây - PNJ 74.800 76.800
Miền Tây - SJC 82.000 83.800
Giá vàng nữ trang - PNJ 74.800 76.800
Giá vàng nữ trang - SJC 81.800 83.800
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 74.800
Giá vàng nữ trang - SJC 81.800 83.800
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 74.800
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 74.700 75.500
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 55.380 56.780
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.920 44.320
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.160 31.560
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,465 7,670
Trang sức 99.9 7,455 7,660
NL 99.99 7,460
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,530 7,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,530 7,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,530 7,700
Miếng SJC Thái Bình 8,190 8,370
Miếng SJC Nghệ An 8,190 8,370
Miếng SJC Hà Nội 8,190 8,370
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 81,800 83,800
SJC 5c 81,800 83,820
SJC 2c, 1C, 5 phân 81,800 83,830
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 74,800 76,700
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 74,800 76,800
Nữ Trang 99.99% 74,700 76,000
Nữ Trang 99% 73,248 75,248
Nữ Trang 68% 49,335 51,835
Nữ Trang 41.7% 29,345 31,845
Cập nhật: 20/04/2024 04:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,781.47 15,940.87 16,452.24
CAD 17,962.12 18,143.56 18,725.59
CHF 27,431.25 27,708.34 28,597.19
CNY 3,438.94 3,473.67 3,585.64
DKK - 3,552.42 3,688.45
EUR 26,307.40 26,573.13 27,749.81
GBP 30,708.07 31,018.25 32,013.29
HKD 3,165.97 3,197.95 3,300.53
INR - 302.93 315.05
JPY 160.50 162.12 169.87
KRW 15.82 17.58 19.18
KWD - 82,281.90 85,571.24
MYR - 5,255.57 5,370.18
NOK - 2,249.33 2,344.82
RUB - 257.39 284.93
SAR - 6,760.49 7,030.75
SEK - 2,259.94 2,355.88
SGD 18,152.89 18,336.25 18,924.46
THB 609.62 677.36 703.30
USD 25,133.00 25,163.00 25,473.00
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,004 16,024 16,624
CAD 18,185 18,195 18,895
CHF 27,420 27,440 28,390
CNY - 3,442 3,582
DKK - 3,541 3,711
EUR #26,237 26,447 27,737
GBP 30,899 30,909 32,079
HKD 3,117 3,127 3,322
JPY 160.24 160.39 169.94
KRW 16.28 16.48 20.28
LAK - 0.7 1.4
NOK - 2,228 2,348
NZD 14,714 14,724 15,304
SEK - 2,252 2,387
SGD 18,115 18,125 18,925
THB 637.19 677.19 705.19
USD #25,150 25,150 25,473
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,170.00 25,172.00 25,472.00
EUR 26,456.00 26,562.00 27,742.00
GBP 30,871.00 31,057.00 32,013.00
HKD 3,176.00 3,189.00 3,292.00
CHF 27,361.00 27,471.00 28,313.00
JPY 160.49 161.13 168.45
AUD 15,933.00 15,997.00 16,486.00
SGD 18,272.00 18,345.00 18,880.00
THB 671.00 674.00 701.00
CAD 18,092.00 18,165.00 18,691.00
NZD 14,693.00 15,186.00
KRW 17.52 19.13
Cập nhật: 20/04/2024 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25245 25295 25470
AUD 16131 16181 16583
CAD 18297 18347 18753
CHF 27805 27855 28267
CNY 0 3479 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3540 0
EUR 26851 26901 27412
GBP 31459 31509 31976
HKD 0 3140 0
JPY 162.71 163.21 167.75
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.3 0
LAK 0 1.0396 0
MYR 0 5440 0
NOK 0 2260 0
NZD 0 14795 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18528 18528 18889
THB 0 649.9 0
TWD 0 779 0
XAU 8200000 8200000 8370000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 20/04/2024 04:00