Thiếu điện ở Trung Quốc - mối hiểm họa mới của chuỗi cung ứng toàn cầu

13:35 | 28/09/2021

|
Thiếu điện ở Trung Quốc đang hình thành một cú sốc mới nhất đối với chuỗi cung ứng toàn cầu khi hàng loạt nhà máy tại nước xuất khẩu lớn nhất thế giới buộc phải hạn chế sản xuất để tiết kiệm điện.

Sự gián đoạn sản xuất này diễn ra trong bối cảnh các nhà sản xuất và các chủ hàng đang chạy đua để đáp ứng nhu cầu mọi thứ, từ quần áo đến đồ chơi, cho mùa mua sắm cuối năm.

Thiếu điện ở Trung Quốc - mối hiểm họa mới của chuỗi cung ứng toàn cầu - 1
Trung Quốc thiếu điện là mối đe dọa mới đối với chuỗi cung ứng toàn cầu (Ảnh: Bloomberg).

Các nhà sản xuất Trung Quốc cảnh báo rằng các biện pháp cắt giảm sử dụng điện ngặt nghèo này sẽ làm giảm sản lượng ở các trung tâm kinh tế như Giang Tô, Chiết Giang và Quảng Đông - nơi chiếm 1/3 tổng GDP của Trung Quốc. Điều này có thể khiến giá cả hàng hóa leo thang.

Các chính quyền địa phương ở Trung Quốc đang ráo riết thực hiện những biện pháp cắt giảm tiêu thụ điện khi không đạt được các mục tiêu tiết kiệm điện và giảm lượng khí thải. Trong khi đó, một số nơi vẫn đang phải đối mặt với tình trạng thiếu điện thực tế.

Ông Clark Feng - chủ công ty Vita Leisure chuyên nhập các sản phẩm nội thất từ các nhà sản xuất Trung Quốc để bán ở nước ngoài - nói với Bloomberg rằng việc hạn chế tiêu thụ điện ở Chiết Giang, nơi công ty ông đặt trụ sở, đã giáng một đòn mới lên các doanh nghiệp.

Theo ông, các nhà sản xuất vải bị đình trệ sản xuất ở tỉnh này đã bắt đầu tăng giá bán và ngừng nhận các đơn đặt hàng mới từ nước ngoài.

"Chúng tôi đã phải vật lộn với việc vận chuyển hàng hóa ra nước ngoài rồi, giờ đây với việc hạn chế sản xuất, tình hình này chắc chắn sẽ rất hỗn loạn", ông Feng nói và cho rằng việc giao các đơn hàng, đặc biệt vào mùa lễ hội, sẽ còn khó khăn hơn nữa.

Yiwu Huading Nylon - một nhà sản xuất nylon từ vải tổng hợp ở Chiết Giang - đã ngừng một nửa công suất sản xuất kể từ 25/9 theo lệnh cắt điện từ chính quyền địa phương. Công ty này dự kiến sản lượng sẽ phục hồi trở lại từ ngày 1/10 và cho biết đang tìm cách giảm thiểu tác động của việc hạn chế sản xuất này.

Cuộc khủng hoảng điện diễn ra sau khi những gián đoạn gần đây tại các cảng ở Trung Quốc đã tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Tháng trước, cảng Ning Ba - một trong những cảng nhộn nhịp nhất thế giới - đã phải đóng cửa một phần trong nhiều tuần do dịch Covid-19 bùng phát. Trước đó, cảng Yantian ở Thâm Quyến cũng đã tạm ngừng hoạt động trong tháng 5.

Theo Bloomberg, thiếu điện sẽ đè nặng lên nền kinh tế Trung Quốc trong bối cảnh nền kinh tế nước này đang giảm tốc do các biện pháp kiểm soát virus nghiêm ngặt cũng như động thái kiểm soát chặt thị trường bất động sản của Bắc Kinh.

Cả Nomura Holding, China International Capital và Morgan Stanley đều hạ dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong thời gian còn lại của năm và cảnh báo thiếu điện có thể khiến tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới thấp hơn.

"Các thị trường trên toàn cầu sẽ cảm nhận được sự thiếu hụt nguồn cung từ vải vóc, đồ chơi đến các linh kiện máy móc. Chủ đề nóng nhất về Trung Quốc sẽ sớm chuyển từ Evergrande sang thiếu điện", Lu Ting - nhà kinh tế trưởng tại Nomura Holding ở Hồng Kông nói.

Theo Dân trí

Vai trò của Trung Quốc, Mỹ, Nga trên thị trường dầu khí châu Á-Thái Bình Dương (Kỳ II)Vai trò của Trung Quốc, Mỹ, Nga trên thị trường dầu khí châu Á-Thái Bình Dương (Kỳ II)
Mỹ tăng tốc Mỹ tăng tốc "cấm cửa" thiết bị viễn thông của Trung Quốc
Cú sốc mới của Trung Quốc: Hàng loạt nhà máy phải đóng cửa vì thiếu điệnCú sốc mới của Trung Quốc: Hàng loạt nhà máy phải đóng cửa vì thiếu điện
Vai trò của Trung Quốc, Mỹ, Nga trên thị trường dầu khí châu Á-Thái Bình Dương (Kỳ I)Vai trò của Trung Quốc, Mỹ, Nga trên thị trường dầu khí châu Á-Thái Bình Dương (Kỳ I)
Giới phân tích Trung Quốc: Evergrande không phải là Giới phân tích Trung Quốc: Evergrande không phải là "quá lớn để sụp đổ"

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,200 57,900
AVPL / DOJI HN buôn 57,200 57,900
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,350 57,950
AVPL / DOJI HCM buôn 57,350 57,950
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,200 58,000
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,200 58,000
Nguyên liêu 9999 - HN 50,750 50,950
Nguyên liêu 999 - HN 50,700 50,900
AVPL / DOJI CT lẻ 57,350 57,950
AVPL / DOJI CT buôn 57,350 57,950
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 50.900 52.000
TPHCM - SJC 57.350 58.000
Hà Nội - PNJ 50.900 52.000
Hà Nội - SJC 57.400 58.000
Đà Nẵng - PNJ 50.900 52.000
Đà Nẵng - SJC 57.350 58.000
Cần Thơ - PNJ 50.900 52.000
Cần Thơ - SJC 57.350 58.000
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 50.800 51.600
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.400 51.200
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.150 38.550
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.700 30.100
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.050 21.450
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,005 5,145
Vàng trang sức 999 4,995 5,135
Vàng NT, TT, 3A Hà Nội 5,085 5,155
Vàng NT, TT Thái Bình 5,080 5,180
Vàng NT, TT Nghệ An 5,065 5,165
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,085 5,155
Vàng NL 9999 5,055 5,140
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,730 5,800
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,735 5,805
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,745 5,800
Vàng NT, TT Thái Bình 5,080 5,180
Vàng NT, TT Nghệ An 5,075 5,175
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,300 58,000
SJC 5c 57,300 58,020
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,300 58,030
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 50,900 51,600
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 50,900 51,700
Nữ Trang 99.99% 50,500 51,300
Nữ Trang 99% 49,592 50,792
Nữ Trang 68% 33,037 35,037
Nữ Trang 41.7% 19,544 21,544
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,104 5,169
NHẪN TRÒN TRƠN 5,104 5,169
VÀNG MIẾNG SJC 5,736 5,794
VÀNG TRANG SỨC 5,045 5,155
99.9 (24k) 5,145
VÀNG HTBT 5,035
VÀNG NGUYÊN LIỆU 4,985
Cập nhật: 20/10/2021 02:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,465.46 16,631.77 17,153.39
CAD 17,941.18 18,122.41 18,690.78
CHF 24,030.38 24,273.11 25,034.39
CNY 3,468.58 3,503.62 3,614.04
DKK - 3,490.36 3,621.50
EUR 25,774.14 26,034.49 27,194.90
GBP 30,486.16 30,794.10 31,759.89
HKD 2,853.13 2,881.95 2,972.34
INR - 301.76 313.61
JPY 193.23 195.19 204.37
KRW 16.63 18.48 20.25
KWD - 75,330.43 78,287.51
MYR - 5,402.27 5,516.25
NOK - 2,652.26 2,762.94
RUB - 319.29 355.79
SAR - 6,053.43 6,291.05
SEK - 2,577.00 2,684.54
SGD 16,457.51 16,623.74 17,145.11
THB 602.18 669.09 694.23
USD 22,630.00 22,660.00 22,860.00
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,716 17,416
CAD - 18,116 18,816
CHF - 24,309 24,959
CNY - 3,495 3,635
DKK - 3,468 3,638
EUR - 25,624 26,914
GBP - 30,846 32,016
HKD - 2,806 3,001
JPY - 192.93 203.73
KRW - 17.36 21.16
LAK - 1.55 2.5
NOK - 2,646 2,766
NZD - 16,045 16,455
SEK - 2,589 2,664
SGD - 16,369 17,169
THB - 668.9 696.9
USD - 22,575 22,855
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,469
USD, (5,10,20) 22,469
USD,50-100 22,643 22,663 22,853
JPY 196.29 196.08 205.10
AUD 16,513 16,741 17,343
CAD 17,995 18,216 18,818
GBP 30,722 30,970 31,872
CHF 24,224 24,476 25,079
SGD 16,590 16,681 17,282
EUR 26,018 26,222 27,222
CNY - 3,495 3,626
HKD - 2,796 2,996
THB 657 664 714
MYR - 5,388 5,539
KRW - 22.00
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,655 22,655 22,855
USD(1-2-5) 22,469 - -
USD(10-20) 22,610 - -
GBP 30,685 30,870 31,933
HKD 2,869 2,889 2,962
CHF 24,211 24,357 25,117
JPY 195.77 196.95 204.71
THB 647.23 653.77 711.23
AUD 16,645 16,746 17,253
CAD 18,052 18,161 18,742
SGD 16,573 16,673 17,161
SEK - 2,606 2,683
LAK - 1.9 2.33
DKK - 3,514 3,617
NOK - 2,684 2,763
CNY - 3,502 3,605
RUB - 290 371
NZD 15,999 16,096 16,427
KRW 17.31 - 21.07
EUR 26,086 26,157 27,170
TWD 738.41 - 835.83
MYR 5,112.35 - 5,593.34
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,655.00 22,675.00 22,855.00
EUR 26,085.00 26,190.00 26,740.00
GBP 30,825.00 31,011.00 31,600.00
HKD 2,875.00 2,887.00 2,967.00
CHF 24,277.00 24,374.00 24,970.00
JPY 196.56 197.35 201.55
AUD 16,573.00 16,640.00 17,161.00
SGD 16,654.00 16,721.00 17,055.00
THB 660.00 663.00 702.00
CAD 18,148.00 18,221.00 18,605.00
NZD 0.00 15,929.00 16,376.00
KRW 0.00 18.38 20.16
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.655 22.665 22.867
AUD 16.800 16.900 17.404
CAD 18.270 18.370 18.773
CHF 24.566 24.666 25.071
EUR 26.346 26.446 26.905
GBP 31.225 31.325 31.737
JPY 196,84 198,34 203,2
SGD 16.735 16.835 17.145
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,722,000 5,722,000 5,779,000
USD(50,100) 22,657 22,677 23,130
USD(5, 10, 20) 22,637 22,677 23,130
USD(1,2) 22,637 22,677 23,130
EUR 26,201 26,301 26,806
GBP 30,923 31,023 31,729
JPY 196.38 197.38 202.46
CAD 18,028 18,078 19,715
AUD 16,647 16,747 18,217
SGD 16,606 16,706 17,214
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 20/10/2021 02:45
  • pvgas-inside
  • pvgas