“Nên xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid-19”

11:07 | 28/07/2020

|
Đó là một trong những kiến nghị được Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) nêu lên trong Báo cáo Kinh tế vĩ mô Việt Nam quý 2 và 6 tháng đầu năm 2020 vừa được công bố mới đây. 

Những nỗ lực đáng ghi nhận của Chính phủ

Tính từ đầu năm tới tháng 7/2020, kể từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát tại nước ta và chưa có dấu hiệu dừng tại nhiều nước trên thế giới, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã cho ta thấy những điểm sáng. Thị trường tài chính dễ thở hơn với việc hai lần hạ lãi suất điều hành xuống mức 3-4,5% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Về chính sách tài khóa, các gói hỗ trợ tín dụng 250.000 tỉ đồng đang được các ngân hàng thương mại (NHTM) triển khai và gói hỗ trợ trị giá 61.580 tỉ đồng được Thủ tướng Chính phủ ký thông qua với mục đích hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp khó khăn vì dịch Covid-19 đang được thực hiện.

nen xay dung dem tai khoa de phong chong nhung cu soc kieu covid 19
Lao động trong khu vực phi chính thức cần được quan tâm hơn trong việc hỗ trợ tác động của dịch Covid-19

Ngoài ra, các biện pháp hỗ trợ khác như Chỉ thị số 11/CT- TTg ngày 4/3/2020, theo đó Chính phủ ủy quyền cho NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng cung cấp nguồn vốn đầy đủ và kịp thời cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, tăng cường cải cách hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn, tăng khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; áp dụng các biện pháp hỗ trợ như gia hạn nợ, giảm lãi vay, không phân loại lại nhóm nợ, giảm phí.

Tổng cục Thuế ban hành Công văn số 897/TCT-QLN ngày 3/3/2020 về gia hạn thời hạn nộp thuế và miễn lãi chậm trả. Chính phủ ban hành Nghị định 41/2020/NĐ-CP kéo dài thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất.

Đánh giá cao những nỗ lực từ phía Chính phủ, tuy nhiên VEPR cũng cẩn trọng cho rằng, do nguồn lực tài khóa hạn hẹp sau nhiều năm thâm hụt ngân sách, cùng với việc chính sách tiền tệ bị ràng buộc với các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi các chính sách vĩ mô theo cách tương tự như các nước khác trên thế giới. Nếu thực hiện nới lỏng tiền tệ với quy mô lớn như nhiều nền kinh tế hiện nay thì có thể dẫn đến mất giá nội tệ, môi trường đầu tư trở nên rủi ro hơn, làm trì hoãn các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Thêm vào đó, việc phòng chống dịch Covid-19 và trợ cấp an sinh xã hội do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng đang tạo áp lực lớn lên cán cân ngân sách. Tuy Chính phủ đang sử dụng các quỹ dự phòng để hỗ trợ an sinh xã hội, nhưng các quỹ này có thể là không đủ do số đối tượng thuộc diện được nhận hỗ trợ rất lớn, trong khi các ảnh hưởng của dịch bệnh còn có thể kéo dài.

Cần phải biến nguy thành cơ

Trước tình hình trên, VEPR cho rằng, ưu tiên hàng đầu lúc này là đảm bảo an sinh xã hội, giữ ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và hỗ trợ các doanh nghiệp còn hoạt động.

“Theo chúng tôi, trong trường hợp của Việt Nam, việc chủ động cắt giảm các chi phí bắt buộc như phí và hoãn/giảm thuế đối với doanh nghiệp có giá trị kích thích và hỗ trợ kinh tế hiệu quả hơn so với cứu trợ hoặc tài trợ trực tiếp. Các chính sách an sinh xã hội như chi trả bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người bị tạm thời ngưng việc, trợ cấp cho người nghèo, người bị mất kế sinh nhai do tác động của giãn cách xã hội nên được ưu tiên hàng đầu và cần phải được tiếp tục triển khai nhanh chóng, đúng đối tượng, trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có. Đặc biệt, lao động trong khu vực phi chính thức cần được quan tâm hơn khi chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác nặng nề nhất, và có thể nằm ngoài phạm vi được thụ hưởng của các chính sách hiện tại” - báo cáo của VEPR nêu rõ.

Đồng thời, báo cáo cũng cho rằng, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần có sự phân loại và tập trung hơn. Việc khoanh/ngưng hoặc miễn giảm các chi phí tài chính như lãi vay và tiền thuê đất nên được áp dụng đối với nhóm doanh nghiệp phải dừng hoạt động; các chính sách hoãn đóng BHXH, giảm tiền thuê đất, giảm lãi vay và khoanh nợ, giãn thu thuế VAT nên được thực hiện với các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực nhưng còn hoạt động, nhưng phải có các tiêu chí rõ ràng về các mức độ hỗ trợ để tránh dàn trải.

Còn lại, đối với nhóm các doanh nghiệp ít hoặc không bị ảnh hưởng, hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, thì nên khuyến khích tín dụng, hết sức tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành bởi họ là nhóm gánh đỡ cho nền kinh tế trong thời điểm này.

Về gói hỗ trợ tài khóa của Bộ Tài chính, cũng như gói hỗ trợ tín dụng của các NHTM, đối tượng của các chính sách này nên là những ngành sản xuất, những doanh nghiệp còn có thể hoạt động và hoạt động tốt, vì đây là các đối tượng có thể tạo ra dòng tiền.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất hiện nay là khả năng giải ngân các gói cứu trợ xã hội có thể chậm hoặc gần như bất khả thi, do mạng lưới thực thi kém hiệu quả và không tạo được niềm tin của người dân. Nói cách khác, “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” là một vấn đề ngăn cản việc thực thi các ý tưởng hỗ trợ xã hội quy mô lớn hiện nay. Trong khi quá trình giải ngân bị trì hoãn, người dân khó khăn vẫn phải tự mình chịu đựng tất cả những khó khăn gây ra so dịch bệnh và suy giảm hoạt động kinh tế.

Trên phương diện sản xuất, cả khi bệnh dịch trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất hướng ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài một khi bệnh dịch còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới. Do vậy, thúc đẩy đầu tư công trong nửa cuối năm, theo VEPR là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

“Tuy nhiên, thúc đẩy đầu tư công không nên là việc tăng chi tiêu công một cách dàn trải, vội vàng, thiếu kiểm soát. Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và đã được bố trí sẵn vốn thực hiện. Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để nhiều doanh nghiệp và nhiều địa phương có thể tiếp cận, tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc như một giải pháp đặc biệt” - VEPR kiến nghị.

Một giải pháp khác để phát triển nền kinh tế cũng được VEPR đưa ra là trong ngắn hạn, việc xây dựng các khu công nghiệp có tác dụng kích thích tổng cầu. Trong dài hạn, các khu công nghiệp đi và hoạt động sẽ củng cố tổng cung.

Song hành với những chính sách mang tính ngắn hạn hiện tại trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của Covid-19, VEPR cũng nhấn mạnh đến việc Chính phủ không nên bỏ lỡ cuộc khủng khoảng, biến nguy thành cơ, bằng cách tranh thủ sự đồng thuận của người dân và các ngành - địa phương thúc đẩy các chính sách có tầm nhìn dài hạn nhằm cải thiện nền tảng vĩ mô, môi trường kinh doanh, cơ sở cho niềm tin xã hội để chuẩn bị cho những bất trắc lớn hơn trong tương lai.

Trong mọi tình huống, lạm phát, lãi suất và tỷ giá cần được duy trì ổn định để chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi sau bệnh dịch. Đa dạng hóa thị trường xuất/nhập khẩu cũng cần được chú trọng hơn nữa nhằm tránh phụ thuộc nặng nề vào một số đối tác kinh tế lớn.

“Trong khó khăn, nhiều bất cập trong việc điều hành chính sách kinh tế cũng đã bộc lộ nên các nỗ lực cải thiện môi trường thể chế kinh doanh cần tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, dù có chậm trễ, Việt Nam nên từng bước xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid-19, hoặc những diễn biến bất ngờ của chính bệnh dịch này, trong những năm tới” - báo cáo nêu rõ.

Minh Lê

nen xay dung dem tai khoa de phong chong nhung cu soc kieu covid 19Tái cấu trúc mô hình cạnh tranh và kinh doanh trước thách thức khủng hoảng Covid
nen xay dung dem tai khoa de phong chong nhung cu soc kieu covid 19Việt Nam thuộc số ít các quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế dương
nen xay dung dem tai khoa de phong chong nhung cu soc kieu covid 19Tăng trưởng kinh tế năm 2020 sẽ dưới 4%

  • truyen-thong-so-bidv
  • evn
  • sunshinegroup
  • mipec-rubik360
  • pvp-ctcp