Hiện tượng “nghịch” trên thị trường bất động sản

15:00 | 05/08/2022

|
(PetroTimes) - Hiện giá bất động sản (BĐS) tại hầu hết các thị trường đều không giảm mà còn tăng, liên tục thiết lập mặt bằng giá mới, trong khi thanh khoản trên thị trường không tăng tương ứng. Các chuyên gia cho rằng, cần phải kiểm soát hiện tượng “nghịch” này.
Hiện tượng “nghịch” trên thị trường bất động sản
Giá bất động sản tăng cao so với thu nhập của phần lớn người dân

Từ đầu năm đến nay, thị trường BĐS chưa phục hồi hoàn toàn sau dịch Covid-19, đồng thời đang đối mặt với những khó khăn do chính sách kiểm soát chặt chẽ dòng vốn, khiến cho nguồn cung giảm sâu, giá tăng cao so với thu nhập của phần lớn người dân.

Báo cáo tình hình thị trường của Bộ Xây dựng cho thấy, năm 2021, cả nước có 172 dự án nhà ở thương mại hoàn thành, với quy mô 24.027 căn, bằng khoảng 42% số lượng so với năm 2020. Trong 6 tháng đầu năm 2022, giá căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ, đất nền vẫn tăng so với thời điểm cuối năm 2021, mức độ tăng giá các phân khúc BĐS tập trung trong cuối quý I/2022, chậm dần và có dấu hiệu chững lại trong quý II/2022.

Đáng chú ý, mặc dù nguồn cung ít nhưng số lượng giao dịch trên thị trường không nhiều. Trong tổng số trên 22.700 căn hộ được đưa ra thị trường, số lượng giao dịch chỉ gần 11.600 căn, tỷ lệ hấp thụ đạt 50,9%. Như vậy có thể thấy mức thanh khoản trên thị trường khá thấp, giá nhà tăng nhanh chủ yếu do chi phí phát sinh, không phải do sức mua trên thị trường tăng.

Theo thống kê của kênh thông tin dịch vụ BĐS số 1 Việt Nam batdongsan.com.vn, thị trường BĐS tại nhiều tỉnh, thành phố vẫn sôi động, nhưng mức độ quan tâm đất nền giảm khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2021, các tỉnh phía Bắc, phía Nam giảm lần lượt 11% và 12%, nhưng giá rao bán vẫn ở ngưỡng cao, còn tiếp tục tăng thêm. Đơn cử, tại Hà Nội, mức độ quan tâm đất nền các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Thạch Thất, Quốc Oai đều giảm hơn 10%, song giá rao bán lại tăng lần lượt 20%, 21%, 11%, 26%. Một số địa phương như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng ghi nhận lượng quan tâm sụt giảm lần lượt 32%, 22%, 7%, nhưng giá rao bán tăng tương ứng 16%, 35%, 29%. Tương tự, tại thị trường phía Nam, mức độ quan tâm đất nền ở Bình Dương, Đồng Nai đều giảm 13%, giá rao bán vẫn tăng lần lượt 27% và 7%.

Hiện tượng “nghịch” trên thị trường bất động sản
Dự báo trong những tháng cuối năm 2022 đất nền tiếp tục chững hoặc giảm nhẹ để tìm điểm cân bằng sau giai đoạn sốt giá

Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó tổng giám đốc batdongsan.com.vn - nhận định, sau 2 năm chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, giá BĐS tại hầu hết các thị trường đều không giảm mà còn tăng, liên tục thiết lập mặt bằng giá mới, trong khi thanh khoản trên thị trường không tăng tương ứng.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Đính - Chủ tịch Hội Môi giới BĐS Việt Nam (VARS) - cho rằng, nguồn cung trên thị trường giảm mạnh do việc thắt chặt pháp lý, cùng với những chi phí đầu vào tăng cao là nguyên nhân chính đẩy giá nhà đất tăng. Bên cạnh đó, tâm lý đầu cơ hình thành trong bối cảnh lạm phát do khủng hoảng kinh tế sau dịch cũng khiến giá nhà đất tăng mạnh. Song, giá nhà tăng, thanh khoản thấp là tín hiệu cho thấy đã xuất hiện bong bóng cục bộ...

Vì vậy, các chuyên gia BĐS cho rằng, cần phải nhanh chóng mở rộng thêm nguồn cung, nhất là nguồn cung ngắn hạn. Các địa phương đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp, tăng tiến độ phê duyệt thủ tục đầu tư dự án, không để tồn đọng và kéo dài nhiều hồ sơ, thủ tục; công bố thông tin dữ liệu về những dự án được chấp thuận đầu tư, kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai, dự án được phép giao dịch trên thị trường, biến động giá BĐS...

Theo ông Nguyễn Văn Đính, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục rà soát các quy định chồng chéo của các luật liên quan đến thị trường BĐS, sớm tháo gỡ các rào cản thủ tục phê duyệt đầu tư các dự án BĐS; thành lập cơ quan chuyên biệt có năng lực và khả năng tiếp nhận, xử lý vướng mắc thuộc thẩm quyền Chính phủ để hỗ trợ cho các địa phương tháo gỡ vướng mắc thủ tục phê duyệt đầu tư.

Các chuyên gia cũng nhận định, thị trường BĐS đã lập đỉnh và bước vào một giai đoạn mới. Giá BĐS hiện nay tăng đột biến ở địa phương nào có thể là hiện tượng “thổi giá”. Thời điểm này không còn diễn ra những cảnh nhà đầu tư xếp hàng dài để xem, mua đất, thay vào đó là tâm lý thăm dò, người mua ít, người bán nhiều. Từ nay đến cuối năm 2022, dự báo thị trường đất nền tiếp tục chững hoặc giảm nhẹ để tìm điểm cân bằng sau giai đoạn sốt giá.

Ông Nguyễn Quốc Anh cho hay, mặc dù sự quan tâm đến BĐS có dấu hiệu hạ nhiệt tại nhiều địa phương trong quý II/2022 so với cùng kỳ năm 2021, nhưng trong ngắn hạn, sẽ khó có khả năng giá BĐS giảm. Vì ngoài mục đích để ở với nhu cầu luôn hiện hữu, mục đích đầu tư sẽ hướng tới dài hạn và tâm lý đầu tư BĐS không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố ngắn hạn.

TS Cấn Văn Lực phân tích: Giá BĐS đã tăng nóng trong 2 năm qua, không riêng tại Việt Nam mà trên toàn thế giới. Giá BĐS toàn cầu tăng trung bình 6-7% trong giai đoạn 2020-2021, bởi dòng tiền rẻ, lãi suất thấp, cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh ít... nên dòng tiền đổ vào BĐS. Tuy nhiên, những yếu tố cơ bản đẩy giá BĐS như 2 năm qua đã không còn nữa, trừ khi các quy định pháp lý liên quan đến kinh doanh BĐS được điều chỉnh, thông tin quy hoạch được công bố, cơ sở hạ tầng được đầu tư...

Ngoài ra, Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương đang có động thái điều tiết, đưa thị trường trở về giá trị thật. Về lâu dài, Việt Nam cần đánh thuế BĐS thứ hai, thứ ba... để xây dựng thị trường BĐS lành mạnh, theo thông lệ quốc tế, không thể “một mình một chợ”. Đây cũng là cách để hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường BĐS.

Do những cơn sốt đất hồi cuối năm 2021, đầu năm 2022, tại các các khu vực sôi động như Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên..., có những lô đất nền đã tăng tới 30-50% giá trị. Tuy nhiên, từ quý II/2022, hiện tượng này không còn, vì với mức giá cao đó, các giao dịch khó thành công bởi tâm lý thận trọng của nhà đầu tư.

Thanh Hằng

Tiện ích xứng tầm tại bất động sản hạng sang ngay đất “vàng” Sài GònTiện ích xứng tầm tại bất động sản hạng sang ngay đất “vàng” Sài Gòn
Thị trường bất động sản hồi phục khả quanThị trường bất động sản hồi phục khả quan
Gần 33 nghìn cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sảnGần 33 nghìn cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản
Phát triển hệ sinh thái bất động sản an toàn, lành mạnh, bền vữngPhát triển hệ sinh thái bất động sản an toàn, lành mạnh, bền vững

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 66,150 ▲200K 67,150 ▲200K
AVPL/SJC HCM 66,400 ▲200K 67,100 ▲200K
AVPL/SJC ĐN 66,200 ▲150K 67,150 ▲200K
Nguyên liêu 9999 - HN 52,050 ▼100K 52,250 ▼100K
Nguyên liêu 999 - HN 52,000 ▼100K 52,200 ▼100K
AVPL/SJC Cần Thơ 66,150 ▼100K 67,050 ▼100K
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 52.150 ▼150K 53.250 ▼150K
TPHCM - SJC 66.300 ▲300K 67.050 ▲150K
TPHCM - Hà Nội PNJ 52.150 ▼150K
Hà Nội - 66.200 67.100 ▲100K 17/08/2022 15:01:42 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 52.150 ▼150K
Đà Nẵng - 66.300 67.050 ▲150K 17/08/2022 14:28:18 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 52.150 ▼150K
Cần Thơ - 66.400 67.200 ▲200K 17/08/2022 16:02:33 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 52.150 ▼150K
Giá vàng nữ trang - 51.800 52.600 ▼100K 17/08/2022 14:28:18 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.200 ▼80K 39.600 ▼80K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.520 ▼60K 30.920 ▼60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.630 ▼40K 22.030 ▼40K
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,230 ▼10K 5,310 ▼10K
Vàng trang sức 99.99 5,145 ▼10K 5,295 ▼10K
Vàng trang sức 99.9 5,135 ▼10K 5,285 ▼10K
Vàng NL 99.99 5,200 ▼10K 5,295 ▼10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,610 ▲10K 6,710 ▲10K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,620 ▲30K 6,715 ▲25K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,620 ▲15K 6,715 ▲20K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,230 ▼10K 5,330 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,230 ▼10K 5,330 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,230 ▼10K 5,310 ▼10K
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 66,200 ▲200K 67,200 ▲200K
SJC 5c 66,200 ▲200K 67,220 ▲200K
SJC 2c, 1C, 5 phân 66,200 ▲200K 67,230 ▲200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 52,250 ▼50K 53,150 ▼50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 52,250 ▼50K 53,250 ▼50K
Nữ Trang 99.99% 52,150 ▼50K 52,750 ▼50K
Nữ Trang 99% 50,928 ▼49K 52,228 ▼49K
Nữ Trang 68% 34,024 ▼34K 36,024 ▼34K
Nữ Trang 41.7% 20,149 ▼21K 22,149 ▼21K
Cập nhật: 17/08/2022 17:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,992.36 16,153.90 16,674.37
CAD 17,755.73 17,935.08 18,512.94
CHF 24,027.19 24,269.89 25,051.85
CNY 3,377.08 3,411.19 3,521.63
DKK - 3,141.27 3,262.00
EUR 23,186.99 23,421.20 24,485.46
GBP 27,597.26 27,876.02 28,774.17
HKD 2,909.28 2,938.66 3,033.34
INR - 294.81 306.64
JPY 169.51 171.23 179.46
KRW 15.45 17.17 18.83
KWD - 76,070.15 79,121.94
MYR - 5,187.87 5,301.73
NOK - 2,372.58 2,473.64
RUB - 336.11 455.52
SAR - 6,216.92 6,466.33
SEK - 2,219.21 2,313.74
SGD 16,548.66 16,715.82 17,254.39
THB 584.68 649.65 674.61
USD 23,235.00 23,265.00 23,545.00
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,063 16,163 16,713
CAD 17,934 18,034 18,584
CHF 24,160 24,265 25,065
CNY - 3,412 3,522
DKK - 3,154 3,284
EUR #23,423 23,448 24,558
GBP 27,953 28,003 28,963
HKD 2,910 2,925 3,060
JPY 170.29 170.29 178.84
KRW 16.01 16.81 19.61
LAK - 0.84 1.79
NOK - 2,376 2,456
NZD 14,578 14,661 14,948
SEK - 2,207 2,317
SGD 16,490 16,590 17,190
THB 607.85 652.19 675.85
USD #23,244 23,264 23,544
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,265 23,265 23,545
USD(1-2-5) 23,046 - -
USD(10-20) 23,218 - -
GBP 27,746 27,914 28,944
HKD 2,924 2,944 3,028
CHF 24,088 24,233 25,018
JPY 170.01 171.03 178.75
THB 625.08 631.39 689.04
AUD 16,027 16,124 16,657
CAD 17,829 17,936 18,500
SGD 16,589 16,689 17,231
SEK - 2,227 2,300
LAK - 1.18 1.51
DKK - 3,149 3,252
NOK - 2,381 2,459
CNY - 3,400 3,510
RUB - 347 446
NZD 14,590 14,678 15,021
KRW 16 - 19.53
EUR 23,351 23,415 24,436
TWD 705.94 - 801.6
MYR 4,903.96 - 5,383.26
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,240.00 23,260.00 23,545.00
EUR 23,389.00 23,383.00 24,319.00
GBP 27,820.00 27,988.00 28,653.00
HKD 2,927.00 2,939.00 3,029.00
CHF 24,218.00 24,315.00 24,979.00
JPY 171.77 172.46 176.34
AUD 16,059.00 16,123.00 16,703.00
SGD 16,712.00 16,779.00 17,165.00
THB 640.00 643.00 680.00
CAD 17,918.00 17,990.00 18,419.00
NZD 0.00 14,586.00 15,079.00
KRW 0.00 17.10 18.66
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.230 23.250 23.764
AUD 16.088 16.188 16.849
CAD 17.806 18.006 18.667
CHF 24.352 24.452 25.114
EUR 23.397 23.497 24.309
GBP 27.973 28.023 28.745
JPY 171,97 172,97 179,5
SGD 16.673 16.773 17.378
Cập nhật: 17/08/2022 17:30
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2022
  • pvgas