Giá xăng dầu hôm nay 22/5 ghi nhận tuần tăng giá mạnh

08:29 | 22/05/2022

|
(PetroTimes) - Lo ngại về một cuộc khủng hoảng nguồn cung gia tăng khi cả Mỹ và Trung Quốc đều cho biết có kế hoạch mua bổ sung dầu thô và kho dự trữ đã giúp giá xăng dầu hôm nay ghi nhận tuần tăng giá mạnh.

Giá dầu thế giới bước vào tuần giao dịch từ ngày 16/5 với xu hướng tăng khi lo ngại về một cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu thô ngày một lớn do sự leo thang căng thẳng giữa Nga với các EU về việc cung cấp khí đốt và dầu thô.

Giá xăng dầu hôm nay 22/5 ghi nhận tuần tăng giá mạnh
Ảnh minh hoạ
Giá vàng hôm nay 22/5 ghi nhận tuần tăng giá mạnh, khởi động chu kỳ thăng hoa mớiGiá vàng hôm nay 22/5 ghi nhận tuần tăng giá mạnh, khởi động chu kỳ thăng hoa mới

Các quyết định ngừng cung cấp khí đốt của Nga với nhiều nước EU sẽ buộc những nước này phải tìm kiếm các nguồn cung thay thế, qua đó sẽ làm gia tăng áp lực nguồn cung, vốn đã bị thắt chặt trong suốt thời gian qua.

Mỹ cũng được cho là đang tìm cách bổ sung thêm 60 triệu thùng dầu vào kho dự trữ quốc gia.

Nguồn cung dầu toàn cầu cũng được nhận định khó có thể được cải thiện, thậm chí còn có chiều hướng suy giảm.

Các lệnh trừng phạt của Mỹ và EU áp đặt với Nga tiếp tục là rào cản, ngăn dầu thô Nga đi ra các thị trường nước ngoài.

Nhu cầu tiêu thụ dầu từ Trung Quốc được cải thiện mạnh khi dịch Covid-19 được kiểm soát cũng là nhân tố hỗ trợ giá dầu đi lên.

Ghi nhận vào đầu giờ sáng ngày 16/5/2022, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 7/2022 đứng ở mức 109,15 USD/thùng, tăng 0,52 USD/thùng trong phiên. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 7/2022 đứng ở mức 112,15 USD/thùng, tăng 0,60 USD/thùng trong phiên.

Đà tăng của giá dầu tiếp tục được củng cố khi đồng USD suy yếu khi kỳ vọng về một đợt tăng lãi suất mới của Fed hạ nhiệt.

Đà tăng của giá dầu thô chỉ bị chặn lại khi thông tin về việc Mỹ đang xem xét gỡ bỏ lệnh cấm vận đối với dầu thô Venezuela và các nước EU không đạt được sự thống nhất trong việc áp đặt lệnh cấm vận đối với dầu thô nga.

Giá dầu còn chịu áp lực bởi lo ngại về tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, qua đó ảnh hưởng tiêu cực đến các nhu cầu tiêu thụ năng lượng, trong đó có dầu thô.

Cụ thể, tại Mỹ, Chỉ Số Sản Xuất ở Philadelphia được Cục Dự Trữ Liên Bang Philadelphia đánh giá ở 2,6 trong tháng 5/2022, thấp hơn rất nhiều so với mức 17,6 của tháng trước. Dữ liệu này cho thấy nền kinh tế đang có chiều hướng xấu đi.

Trước đó, doanh số bán nhà của nền kinh tế Mỹ cũng được ghi nhận giảm 2,4%.

Trong một báo cáo được phát đi vào đầu tuần, các chiến lược gia của ngân hàng Morgan Stanley đã nâng dự báo suy thoái kinh tế Mỹ trong 12 tháng tới lên 27%, cao hơn nhiều mức dự báo 5% được đưa ra hồi tháng 3/2022.

Tăng trưởng kinh tế Mỹ trong quý I/2022 đã giảm 1,4%, là lần sụt giảm đầu tiên của nước này kể từ năm 2020.

Ở diễn biến mới nhất, Liên Hợp quốc ngày 18/5 đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2022 từ 4% xuống 3,1%. Dự báo này của Liên Hợp quốc đưa ra dự trên sự sụt giảm của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu.

Ghi nhận vào đầu giờ sáng ngày 19/5/2022, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 7/2022 đứng ở mức 105,81 USD/thùng, giảm 1,23 USD/thùng trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với cùng thời điểm ngày 18/5, giá dầu WTI giao tháng 7/2022 đã giảm tới 5,14 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 7/2022 đứng ở mức 108,49 USD/thùng, giảm 0,62 USD/thùng trong phiên và đã giảm tới 5,03 USD so với cùng thời điểm ngày 18/5.

Tuy nhiên, vượt qua các áp lực, lo ngại về tình trạng thiếu hút nguồn cung khi cả Mỹ và Trung Quốc đều cho biết có kế hoạch mua một lượng lớn dầu thô để bổ sung vào kho dự trữ, trong đó Mỹ sẽ mua bổ sung 60 triệu thùng, đã hỗ trợ giá dầu thô khép tuần với xu hướng tăng mạnh.

Khép tuần giao dịch, giá dầu hôm nay ghi nhận giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 7/2022 trên sàn New York Mercantile Exchanghe đứng ở mức 110,35 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent giao tháng 7/2022 đứng ở mức 112,69 USD/thùng.

Mặc dù khép tuần giao dịch tăng mạnh nhưng giá dầu ngày 22/5 cũng ghi nhận nhiều chỉ báo tiêu cực về triểu vọng tiêu thụ dầu toàn cầu, đặc biệt là tại Trung Quốc.

Cụ thể, sau 5 ngày không ghi nhận ca nhiễm mới nào, ngày 19/5, thành phố Thượng Hải đã ghi nhận một số ca mắc mới ngoài khu cách ly. Điều này làm dấy lên lo ngại thành phố sẽ kéo dài thêm các biện pháp cách lý và áp đặt thêm các biện pháp nghiêm ngặt hơn để phòng chống dịch.

Cũng trong ngày 19/5, Bắc Kinh cũng ghi nhận tới 62 ca nhiễm mới, tăng 55 ca so với một ngày trước đó.

Ngày 20/5, giới chức thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc cho biết thành phố này sẽ duy trì các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 nghiêm ngặt trong bối cảnh lực lượng chức năng vẫn phát hiện các ca lây nhiễm trong cộng đồng thông qua các cuộc xét nghiệm sàng lọc.

Ở diễn biến mới nhất, Quyền giám đốc Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh châu Phi (CDC châu Phi) Ahmed Ogwell đã phát đi cảnh báo về một biến thể mới của Covid-19 có thể xuất hiện ở châu Phi.

Trong diễn biến khác, nhiều quốc gia châu Âu cho biết đã mở tài khoản thanh toán bằng đồng Rúp tại các ngân hàng do Nga chỉ định để thực hiện các hợp đồng mua khí đốt của Nga. Điều này đã hạ nhiệt đáng kể áp lực về nguồn cung dầu thô trên thị trường và sẽ tác động tiêu cực đến triển vọng giá dầu tuần tới.

Tại thị trường trong nước, hiện giá bán các mặt hàng xăng dầu phổ biến trên thị trường như sau: giá xăng E5 RON 92 có giá bán tối đa là 28.950 đồng/lít; giá xăng RON 95 là 29.980 đồng/lít; giá dầu diesel 26.650 đồng/lít, dầu hỏa là 25.160 đồng/kg, dầu mazut là 21.560 đồng/kg.

Hà Lê

Nga cấm Tổng thống Joe Biden và loạt quan chức Mỹ nhập cảnhNga cấm Tổng thống Joe Biden và loạt quan chức Mỹ nhập cảnh
Trung Quốc tăng mua dầu giá rẻ của Nga khiến dầu Iran ế ẩmTrung Quốc tăng mua dầu giá rẻ của Nga khiến dầu Iran ế ẩm
Nga gấp rút thanh toán nợ sớm để tránh viễn cảnh vỡ nợNga gấp rút thanh toán nợ sớm để tránh viễn cảnh vỡ nợ
Nga cắt khí đốt cấp cho Phần LanNga cắt khí đốt cấp cho Phần Lan
Nga cảnh báo EU sẽ phải trả nhiều hơn nếu áp lệnh cấm vận dầuNga cảnh báo EU sẽ phải trả nhiều hơn nếu áp lệnh cấm vận dầu
Hợp tác quân sự với Nga: “Cú đâm sau lưng” các nước phương Tây của CameroonHợp tác quân sự với Nga: “Cú đâm sau lưng” các nước phương Tây của Cameroon
Nga nêu điều kiện đàm phán hòa bình với UkraineNga nêu điều kiện đàm phán hòa bình với Ukraine
Các Các "ông lớn" năng lượng châu Âu được "bật đèn xanh" mua khí đốt Nga

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 67,950 ▲100K 68,650 ▲50K
AVPL/SJC HCM 67,950 ▲100K 68,650
AVPL/SJC ĐN 67,950 ▲100K 68,650
Nguyên liêu 9999 - HN 53,350 ▼250K 53,650 ▼200K
Nguyên liêu 999 - HN 53,300 ▼250K 53,600 ▼200K
AVPL/SJC Cần Thơ 67,950 ▲100K 68,650 ▲50K
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 53.500 ▼200K 54.600 ▼200K
TPHCM - SJC 67.800 68.700 ▲100K
TPHCM - Hà Nội PNJ 53.500 ▼200K
Hà Nội - 67.900 68.700 ▲100K 28/06/2022 16:25:20 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 53.500 ▼200K
Đà Nẵng - 67.800 68.700 ▲100K 28/06/2022 16:18:46 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 53.500 ▼200K
Cần Thơ - 68.100 68.750 ▲150K 28/06/2022 16:22:00 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 53.500 ▼200K
Giá vàng nữ trang - 52.900 53.700 ▼200K 28/06/2022 16:18:46 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 39.030 ▼150K 40.430 ▼150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.170 ▼110K 31.570 ▼110K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.090 ▼80K 22.490 ▼80K
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,365 ▼10K 5,435 ▼10K
Vàng trang sức 99.99 5,280 ▼10K 5,420 ▼10K
Vàng trang sức 99.9 5,270 ▼10K 5,410 ▼10K
Vàng NL 99.99 5,335 ▼10K 5,420 ▼10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,780 ▼10K 6,870
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,780 ▼10K 6,860 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,800 ▲5K 6,865 ▲5K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,370 ▼10K 5,470 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,370 5,480
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,365 ▼10K 5,435 ▼10K
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 68,050 ▲150K 68,750 ▲150K
SJC 5c 68,050 ▲150K 68,770 ▲150K
SJC 2c, 1C, 5 phân 68,050 ▲150K 68,780 ▲150K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 53,700 ▼100K 54,650 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 53,700 ▼100K 54,750 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 53,550 ▼100K 54,250 ▼100K
Nữ Trang 99% 52,413 ▼99K 53,713 ▼99K
Nữ Trang 68% 35,044 ▼68K 37,044 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 20,775 ▼41K 22,775 ▼41K
Cập nhật: 28/06/2022 21:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,684.75 15,843.19 16,353.83
CAD 17,614.73 17,792.66 18,366.14
CHF 23,700.66 23,940.06 24,711.68
CNY 3,403.64 3,438.02 3,549.37
DKK - 3,243.91 3,368.62
EUR 23,955.27 24,197.24 25,297.05
GBP 27,794.91 28,075.66 28,980.57
HKD 2,887.78 2,916.95 3,010.97
INR - 295.63 307.50
JPY 166.79 168.47 176.58
KRW 15.64 17.38 19.06
KWD - 75,639.91 78,675.33
MYR - 5,228.46 5,343.27
NOK - 2,329.37 2,428.62
RUB - 380.41 515.56
SAR - 6,177.03 6,424.91
SEK - 2,258.41 2,354.64
SGD 16,353.54 16,518.73 17,051.15
THB 580.81 645.34 670.15
USD 23,080.00 23,110.00 23,390.00
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 15,834 16,534
CAD - 17,800 18,500
CHF - 23,802 24,752
CNY - 3,397 3,537
DKK - 3,202 3,372
EUR - 23,640 24,930
GBP - 27,864 29,034
HKD - 2,843 3,038
JPY - 166.72 176.27
KRW - 16.03 19.83
LAK - 0.86 1.81
NOK - 2,291 2,411
NZD - 14,343 14,753
SEK - 2,225 2,360
SGD - 16,213 17,013
THB - 648.22 676.22
USD - 23,035 23,475
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,115 23,115 23,395
USD(1-2-5) 22,898 - -
USD(10-20) 23,069 - -
GBP 27,959 28,128 29,175
HKD 2,902 2,922 3,006
CHF 23,835 23,978 24,765
JPY 167.74 168.75 176.38
THB 626.89 633.22 691.29
AUD 15,821 15,917 16,446
CAD 17,728 17,835 18,394
SGD 16,423 16,522 17,057
SEK - 2,276 2,351
LAK - 1.31 1.63
DKK - 3,259 3,365
NOK - 2,347 2,424
CNY - 3,425 3,537
RUB - 384 499
NZD 14,418 14,505 14,853
KRW 16.23 - 19.82
EUR 24,178 24,243 25,295
TWD 708.98 - 805.11
MYR 4,948.77 - 5,431.73
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,090.00 23,100.00 23,380.00
EUR 24,177.00 24,204.00 25,047.00
GBP 28,025.00 28,194.00 28,862.00
HKD 2,906.00 2,918.00 3,007.00
CHF 23,891.00 23,987.00 24,640.00
JPY 168.96 169.64 173.46
AUD 15,760.00 15,823.00 16,399.00
SGD 16,519.00 16,585.00 16,967.00
THB 636.00 639.00 677.00
CAD 17,784.00 17,855.00 18,282.00
NZD 0.00 14,410.00 14,900.00
KRW 0.00 17.32 18.93
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.105 23.125 23.625
AUD 15.768 15.868 16.474
CAD 17.533 17.733 18.342
CHF 23.957 24.057 24.672
EUR 24.108 24.208 24.968
GBP 28.241 28.291 28.951
JPY 169,67 170,67 177,22
SGD 16.542 16.642 16.957
Cập nhật: 28/06/2022 21:30
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas