Chủ nhật 19/01/2020 12:58

Đảo nhân tạo ở Trường Sa dưới góc nhìn luật pháp quốc tế

07:00 | 21/05/2015

|
Thế giới đã nhiều lần báo động về mưu đồ lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở Biển Đông, khống chế toàn bộ khu vực cả ở trên không và trên biển, thay đổi cục diện địa chính trị… của Trung Quốc qua việc cải tạo, bồi đắp phi pháp ở quần đảo Trường Sa với tốc độ rất nhanh. Tuy nhiên, những thực thể vốn là bãi đá, rạn san hô, bãi ngầm… được Bắc Kinh phù phép, biến thành đảo, thậm chí đảo lớn, có thể được luật pháp quốc tế công nhận hay không? Các chuyên gia quốc tế nói gì về vấn đề này?

Năng lượng Mới số 423

Đảo nhân tạo trong luật pháp quốc tế

Đảo, theo Điều 121 về Chế độ các đảo của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) - văn kiện được coi là Hiến chương của thế giới về đại dương, là một vùng đất hình thành tự nhiên, có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước.

Các bãi đá, đảo đá không thể duy trì sự sống con người hay đời sống kinh tế thì không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa

Đảo nhân tạo ở Trường Sa  dưới góc nhìn luật pháp quốc tế

Trung Quốc đang tiến hành cải tạo, bồi đắp đảo nhân tạo trái phép ở khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Như vậy, một hòn đảo phải hình thành tự nhiên và vẫn nổi trên mặt nước khi thủy triều dâng, có thể duy trì sự sống con người với đời sống kinh tế riêng thì mới đem lại nhiều ý nghĩa cho bên tuyên bố chủ quyền. 

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có văn bản luật quốc tế nào định nghĩa về đảo nhân tạo, kể cả UNCLOS 1982 hay Công ước Thềm lục địa 1958. Định nghĩa phổ biến nhất và được giới học giả ngành luật pháp quốc tế chấp nhận rộng rãi nhất cho đến này là định nghĩa trong Bách khoa toàn thư Công pháp quốc tế: Đảo nhân tạo là một nền tảng cố định vĩnh viễn hoặc tạm thời do con người tạo nên bằng cách đặt, đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá, bao quanh là nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên.

Việc xây dựng đảo nhân tạo trên thế giới thường là để tránh lấy đất nông nghiệp thiết yếu cho các mục đích khác nhau, bao gồm phát triển đô thị, thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, giao thông vận tải và thông tin liên lạc, nghiên cứu khoa học, dự báo thời tiết, giải trí và căn cứ quân sự.

Mặc dù không định nghĩa về đảo nhân tạo, nhưng UNCLOS 1982 lại quy định: Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, áp dụng quyền tài phán đặc biệt, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh và nhập cư.

Tuy nhiên, theo Điểm 8, Điều 60 UNCLOS 1982: “Các đảo nhân tạo không được hưởng quy chế của các đảo. Chúng không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có tác động gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”.

Như vậy, quốc gia ven biển không thể “nhờ” đảo nhân tạo mà “nới” thêm chủ quyền được. Họ chỉ có thể ấn định chiều rộng của những khu vực an toàn có tính đến các quy phạm quốc tế. Các khu vực an toàn này được xác định sao cho đáp ứng một cách hợp lý với tính chất và chức năng của các đảo nhân tạo và không thể mở rộng ra một khoảng cách quá 500m xung quanh các đảo nhân tạo, tính từ mỗi điểm của mép ngoài cùng của các đảo nhân tạo, trừ ngoại lệ do các vi phạm của quốc tế đã được thừa nhận chung cho phép hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền kiến nghị. Phạm vi của khu vực an toàn được thông báo theo đúng thủ tục khu vực.

Quay trở lại với việc Trung Quốc bồi đắp xây đảo nhân tạo ở Trường Sa. Thực tế, đây là một trường hợp độc đáo, bởi đó là các đảo nhân tạo được xây dựng trên các loại đá tự nhiên và các rạn san hô vĩnh cửu mà Trung Quốc đã chiếm đóng bằng vũ lực và thủ đoạn ở khu vực quần đảo Trường Sa từ tay Việt Nam, Philippines, bắt đầu từ năm 1988. Sau đó, vì mục đích đóng căn cứ quân sự hoặc các mục đích khác, Trung Quốc đã xây dựng (trái phép) các cấu trúc nhân tạo trên các bãi đá: Gạc Ma, Subi, Gaven,  Châu Viên, Tư Nghĩa, Vành Khăn… Một số trong số này sau đó đã được mở rộng để trở thành giống như các đảo nhân tạo, chẳng hạn như ở bãi đá Chữ Thập.

Về mặt này, theo Giáo sư Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lanfirhire, Vương quốc Anh, phải thừa nhận rằng, đối với trường hợp này, do có các thiết lập nhân tạo, nên “rất khó để phân biệt cái nào là điểm tự nhiên và cái nào là do con người tạo ra” theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và ngay cả theo luật pháp quốc tế nói chung.

Nếu định nghĩa đây là một điểm tự nhiên, thì nó lại xen lẫn với các thiết lập và cấu trúc nhân tạo; Nếu định nghĩa đây là một đảo nhân tạo thì nó lại không được con người gắn kết cố định với đáy biển mà lại được hỗ trợ bởi một nền tự nhiên như một rạn san hô dù ở trên mặt nước hay không khi thủy triều lên.

Rõ ràng là không có điều khoản nào trong luật pháp quốc tế điều chỉnh hình thức kết hợp giữa tự nhiên và nhân tạo như thế!

Luật pháp quốc tế có công nhận?

Về phần Trung Quốc, Bắc Kinh luôn biện hộ cho hành động gây tranh cãi của mình bằng thứ luận điệu “cùn”: Trung Quốc làm gì ở khu vực thuộc chủ quyền của mình là việc và quyền của Trung Quốc, nước ngoài không cần quan tâm và không có quyền phản đối, can thiệp.

Vấn đề là chỉ có Bắc Kinh tự cho là có chủ quyền đối với khu vực quần đảo Trường Sa nói riêng và với hơn 80% diện tích Biển Đông nói chung, còn quốc tế không ai công nhận. Ngay cả một đề nghị “làm rõ” yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông mà cộng đồng quốc tế đưa ra bấy lâu, Trung Quốc cũng không đáp ứng được, mà cứ diễn bài “mập mờ”, lúc thì 9 đoạn, lúc thì 10 đoạn... Đến bản đồ quốc gia của Trung Quốc cũng không thống nhất, lúc thì hình dạng như con gà trống, lúc lại ra hình con đại bàng!

Bên cạnh đó, trên thực tế, Trung Quốc đã dùng vũ lực quân sự để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào các năm 1956, 1974, 1988, 1995…   Những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế này sẽ không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc ở Biển Đông.

Tóm lại, nếu yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc không thể chứng minh được, thì những bãi đá, rạn san hô… đã bị Bắc Kinh chiếm quyền kiểm soát, làm biến đổi vĩnh viễn vị trí, tính chất của chúng, vì mục đích gây sự đã rồi, khống chế toàn bộ khu vực, hay nhiễu loạn hiện trạng, đe dọa vị trí pháp lý của các bên tranh chấp… cũng không đem lại cho nước này chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán được luật pháp quốc tế công nhận.

Ngân Chi