Thứ năm 21/02/2019 04:20
Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014):

Đại tướng Nguyễn Quyết và khởi nghĩa Tháng Tám Hà Nội

07:00 | 14/12/2014

|
Đại tướng Nguyễn Quyết vẫn thường nhắc lại một điều tâm huyết rằng: “Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng Việt Nam và cuộc đời tôi”.

Chín giờ sáng ngày 20-8-2014, tôi có mặt trước con ngõ có tấm biển “Khu tập thể Quân đội – Quân khu Thủ đô” gần vườn hoa Pasteur. Con ngõ hẹp, ô tô không vào được. Cái cổng từ thời bao cấp, mái là tấm bê tông, hai cánh cổng sắt cũ kỹ. Qua cổng là cái sân chừng vài chục mét vuông lát gạch đỏ, góc sân trồng cây cau có dây trầu quấn quanh. Tư dinh của Đại tướng là căn nhà ba tầng một tum lợp mái tôn, tường vôi đã cũ, ba bậc tam cấp dẫn lên hiên nhà. Cơ ngơi của Đại tướng chẳng hơn gì cơ ngơi của một gia đình bậc trung, thậm chí còn thua mấy căn nhà khác trong cùng khu tập thể. Chỉ có mấy lẵng hoa của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan chúc mừng sinh nhật tuổi 93 của Đại tướng thì chắc không nhà nào có được.

ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT VÀ KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM Ở HÀ NỘI

Đại tướng Nguyễn Quyết xuất hiện. Ông mặc lễ phục mùa hè, ngực áo không đeo huân chương, chỉ có tấm biển tên cài trên nắp túi. Tôi ngồi ngắm ông lão 93 tuổi, không khỏi thầm kính phục con người đã mang gần một thế kỷ tuổi đời, hơn bảy thập kỷ tuổi hoạt động cách mạng, cuộc đời riêng chung trải qua bao thăng trầm buồn vui sướng khổ.

69 năm trước, trong những ngày Cách mạng Tháng Tám sôi nổi, ông Thái Hy chồng bà Thái Tiên là một trong những người lãnh đạo Đoàn Thanh niên Tuyên truyền Xung phong Thành Hoàng Diệu, đã góp phần biến cuộc mít tinh của địch ngày 17-8-1945 thành cuộc biểu tình, tuần hành thị uy, biểu dương lực lượng cách mạng, đồng thời cùng Ban lãnh đạo Đoàn Thanh niên Tuyên truyền Xung phong Thành Hoàng Diệu giúp Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Quyết chỉ huy chiếm Trại Bảo an binh thắng lợi, góp phần to lớn vào thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thủ đô. Đại tướng nhận xét: Anh em đoàn viên Thanh niên Tuyên truyền Xung phong là những anh hùng, đã dũng cảm, dám giải quyết vấn đề cho cách mạng ở thời điểm quan trọng.

Khi tôi hỏi chuyện lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội, ông sôi nổi hẳn lên. Rõ ràng gánh nặng tuổi tác, thời gian đã không hề ảnh hưởng đến trí tuệ còn rất minh mẫn của Đại tướng. Theo ông, nói đến Cách mạng Tháng Tám là phải nói đến ba vấn đề. Một là, đến năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đứng lên tự giải phóng. Cuộc cách mạng Tháng Tám của nhân dân Việt Nam có tính thời đại, có tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử mang tầm thế giới. Nó báo hiệu sự sụp đổ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo bước nhảy vọt cho cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Hai là, Cách mạng Tháng Tám khẳng định vai trò chủ động, sáng tạo, có tính quyết định của tổ chức Đảng địa phương. Trong Cách mạng Tháng Tám, nhiều nơi đã không làm được vì tổ chức Đảng chưa đủ mạnh, thậm chí có sai lầm, tả khuynh, hữu khuynh. Ba là, Đảng bộ Hà Nội có vai trò quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đã nhạy bén nắm thời cơ, quyết định phát động nhân dân Hà Nội đứng lên Tổng khởi nghĩa, mở đường cho thắng lợi của cách mạng cả nước. Thắng lợi của Hà Nội là kết quả công tác xây dựng Đảng bộ, biết dựa vào quần chúng, chống tả khuynh, hữu khuynh trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó.

Tối 17-8-1945, Thành ủy Hà Nội đã họp mở rộng, triệu tập cuộc họp Ủy ban Quân sự cách mạng (cũng là Ủy ban Khởi nghĩa) tại nhà bà Hai Nhã ở thôn Dịch Vọng Tiền, nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, dưới sự chủ trì của Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết, bàn kế hoạch khởi nghĩa. Hội nghị đã quyết định phương thức khởi nghĩa là huy động lực lượng quần chúng tại chỗ uy hiếp thị uy, lực lượng tự vệ chiến đấu làm nòng cốt, phân công cán bộ chỉ huy lực lượng cách mạng đánh chiếm các cơ quan trọng yếu của chính quyền bù nhìn  và quyết định ngày 19 - 8 - 1945 là ngày tổng khởi nghĩa. Đại tướng phân tích, ngày 17 - 8 - 1945 là một ngày quan trọng, có ý nghĩa góp phần quyết định để cho ngày 19 - 8 là ngày quyết định thắng lợi của Cách mạng. Ngày 19 - 8, nếu ta không giải tỏa được quân Nhật thì cách mạng không thể thành công.

Trong câu chuyện của Đại tướng Nguyễn Quyết, tôi đặc biệt chú ý đến một luận điểm của ông. Khi tôi bày tỏ với ông rằng, từ trước đến nay chúng ta thường nói đến một trong những nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trong mối tương quan lực lượng ta - địch, cụ thể lúc đó là do khí thế cách mạng của quần chúng lên cao khiến kẻ địch khiếp sợ, đầu hàng, Đại tướng đã có cách trả lời thật sâu sắc.

Ông nói: Bác Hồ dạy, cách mạng cải tạo con người. Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội là một cuộc cách mạng mang tính nhân văn sâu sắc, đầy sáng tạo. Tại sao các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả “tầng lớp trên” ở Hà Nội ủng hộ cách mạng, hăng say tham gia hoạt động cách mạng? Tại sao một vạn quân Nhật ở Hà Nội đầu hàng? Tại sao cả bộ máy ngụy quân, ngụy quyền tay sai Nhật đầu hàng? Đó là do ta biết cải tạo, giác ngộ quần chúng, biết biến lực lượng địch thành lực lượng ta. Họ theo Pháp thì thua Nhật, theo Nhật thì thua Đồng minh, chỉ theo ta thì mới có đường sống, giải tỏa được bế tắc.

Một vạn quân Nhật ở Hà Nội “án binh bất động” không can thiệp vào “công việc nội bộ” của nhân dân Việt Nam là nhờ ta khôn khéo, sáng tạo, thuyết phục họ nhận rõ tình thế Nhật hoàng đã đầu hàng Đồng minh, muốn yên ổn chờ ngày về nước thì không được chống lại cách mạng, chống lại nhân dân Việt Nam đang làm cách mạng. Một quan Khâm sai Đại thần triều Nguyễn sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ Cụ Hồ. Nhiều người là lính khố xanh, khố đỏ, lính bảo an  của địch sau này trở thành tướng lĩnh quân đội ta. Đó là cách làm sáng tạo của Hà Nội, không phải nổ súng, không đổ máu mà cách mạng thành công.

Trong khi đó, có địa phương chỉ một trung đội địch chống trả quyết liệt mà gây tổn thất hàng trăm người cho ta, là vì họ bị đẩy vào đường cùng. Đến khi Hà Nội thành công, địa phương bạn xin hỗ trợ lực lượng tiêu diệt địch, Hà Nội chỉ hỗ trợ cách làm, cử cán bộ vào thuyết phục, uy hiếp, địch đầu hàng ngay. Cách làm của Hà Nội được Tổng Bí thư Trường Chinh đề nghị vận dụng, giải phóng thị xã Thái Nguyên do một đại đội lính Nhật chiếm đóng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí Trường Chinh đã nhận xét: Thắng lợi của Hà Nội mở đường cho thắng lợi của cả nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy chính nghĩa cách mạng cảm hóa kẻ địch sau này còn thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nguyên Tổng thống Pháp F. Mitterand từng phát biểu đại ý, nước Pháp phải cám ơn Việt Nam đã giúp mình từ bỏ chủ nghĩa thực dân cũ để bước sang một thời kỳ phát triển mới. Viên thiếu tá phi công Hải quân Mỹ John McCain lái máy bay F-4 “con ma” bị quân dân Hà Nội bắn rơi, nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch năm 1967 nay là Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ có cảm tình với Việt Nam.

 Cuối câu chuyện, Đại tướng rút ra kết luận: Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cuộc đời tôi. Cách mạng Việt Nam phải dựa vào quần chúng, sức mạnh của cách mạng là ở nhân dân. Không có quần chúng kém, chỉ có lãnh đạo tồi. Người lãnh đạo, nhất là ở cấp chiến lược càng phải biết dựa vào quần chúng, phải biết sửa sai, chống tả khuynh, chống hữu khuynh để giành thắng lợi.

Đại tướng Nguyễn Quyết tên thật là Nguyễn Tiến Văn, sinh ngày  20 - 8 - 1922, quê tại thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Ông là con út trong một gia đình 10 anh em.

Học hết tiểu học, năm 15 tuổi, Nguyễn Quyết lên Hà Nội làm việc và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm1939, ông được Đảng Cộng sản Đông Dương cử về xây dựng phong trào phản đế ở Hưng Yên. Đầu năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng. Cuối năm 1941, ông tham gia lãnh đạo phong trào phản đế ở phía Nam Hưng Yên, năm 1943 là Tỉnh ủy viên tỉnh Hưng Yên.

Năm 1944, ông tham gia Ban Cán sự xây dựng phong trào phản đế ở Hà Nội, Thành ủy viên thành phố Hà Nội. Năm 1945, ông là Bí thư Thành ủy Hà Nội, ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội.

Từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1951, ông là Chính ủy Trung đoàn 108, rồi Trung đoàn 803.

Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952, ông được cử về học ở Tổng cục Chính trị. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông trở về khu 5, giữ chức Quân khu ủy viên, Trưởng phòng Chính trị Quân khu 5, Liên khu ủy viên dự khuyết Liên khu 5.

Sau khi tập kết ra Bắc, từ tháng 12 năm 1954 đến tháng 10 năm 1955, ông là Chính ủy Sư đoàn 305.

Từ tháng 11 năm 1955 đến năm 1963, ông là quyền Chính ủy, rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu ủy.

Từ năm 1964 đến năm 1967, ông liên tục giữ các chức vụ Phó chính ủy, Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3.

Từ năm 1968, ông là Chính ủy B8, Bí thư Đảng ủy B8, Phó chính ủy Quân khu Trị Thiên, Ủy viên thường vụ Khu ủy Trị Thiên.

Từ năm 1969 đến năm 1976, ông một lần nữa giữ chức Chính ủy Quân khu Tả ngạn, Bí thư Quân khu ủy, rồi về Học viện Quân sự giữ chức Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy.

Từ năm 1977 đến năm 1986, ông trở lại Quân khu 3 giữ chức Tư lệnh Quân khu kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy.

Từ tháng 4 năm 1986 đến tháng 11 năm 1987, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Từ năm 1987 đến năm 1991, là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Từ năm 1977 đến năm 1991, là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Từ năm 1987 dến năm 1991, ông liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI; Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI.

Ông cũng là đại biểu Quốc hội khoá IV, V, VI. Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khoá VI.

Đại tướng Nguyễn Quyết được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta

Ông nghỉ hưu từ năm 1992.

Việt Dương

Share on Google+
Loading...
  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps