Chính phủ đề xuất kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42

12:12 | 24/05/2022

|
(PetroTimes) - Sáng 24/5, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Tờ trình về việc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017.
Chính phủ đề xuất kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42
Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng báo cáo trước Quốc hội sáng 24/5

Nghị quyết số 42 là chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, giúp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Do đó, việc duy trì cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 42 và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu là rất cần thiết.

Tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các khoản nợ xấu

Thống đốc NHNN cho biết, trải qua gần 5 năm triển khai trong thực tiễn, các mục tiêu, yêu cầu của Nghị quyết số 42 về cơ bản đã đạt được. Nghị quyết số 42 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã: Tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các khoản nợ xấu, góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý nợ xấu và duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới mức 2%; Từng bước đảm bảo quyền của chủ nợ trong xử lý nợ xấu, thể hiện tính đúng đắn về định hướng, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đối với công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD; Tác động tích cực đến quá trình cơ cấu lại, phát triển của hệ thống các TCTD. Nhờ đó, các TCTD có điều kiện hạ mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, đặc biệt trong giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42, bằng 47,9% số nợ xấu theo Nghị quyết số 42 tại thời điểm 15/8/2017 và số nợ xấu theo Nghị quyết số 42 phát sinh mới trong thời gian Nghị quyết số 42 có hiệu lực.

Trong tổng số 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã được xử lý có 148 nghìn tỷ đồng là do khách hàng tự trả nợ (chiếm 38,93%), cao hơn so với mức 22,8% trung bình năm từ 2012-2017 do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý. Đồng thời, kết quả xử lý, bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ của TCTD và VAMC đạt 77,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,3%.

Tính trung bình nợ xấu đã xử lý đạt khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn mức trung bình 3,25 nghìn tỷ đồng/tháng trong giai đoạn trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (từ năm 2012-2017).

Nhiều khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ

Bên cạnh kết quả đạt được, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện xuất phát từ: Công tác thực thi, phối hợp triển khai, hướng dẫn từ các bộ, ngành và địa phương; Quy định tại Nghị quyết số 42.

Cụ thể về công tác thực thi, các phương pháp hướng dẫn tại Hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam được áp dụng chung để thẩm định giá các loại tài sản mà chưa có quy định cụ thể về thẩm định giá các khoản nợ. Do vậy, khi thẩm định giá các khoản nợ xấu, các doanh nghiệp thẩm định giá vận dụng khác nhau, gây khó khăn cho các bên trong việc lựa chọn mức giá tham khảo làm cơ sở xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua bán nợ.

Về thực hiện quyền thu giữ tài sản đảm bảo, khi khách hàng không hợp tác bàn giao tài sản đảm bảo, chống đối khi tiến hành thu giữ nhưng sự phối hợp các cơ quan chức năng trong một số trường hợp chưa kịp thời…dẫn đến việc thu giữ thường không đạt được kết quả; Chưa có hướng dẫn cụ thể để xử lý đối với các trường hợp tài sản bị thu giữ có các tài sản khác nằm trên hoặc nằm trong mà bên bảo đảm hoặc bên thứ ba không tự nguyện dời đi, dẫn đến TCTD gặp nhiều khó khăn, phát sinh chi phí cho việc xử lý các tài sản này.

Về áp dụng thủ tục rút gọn trong xử lý tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ giao tài sản đảm bảo hoặc quyền xử lý tài sản đảm bảo. Thống đốc cho biết, trên thực tế, việc hoàn thiện các thủ tục theo yêu cầu của Tòa án để áp dụng thủ tục rút gọn gặp nhiều khó khăn do khi xảy ra nợ xấu, đa phần khách hàng trốn tránh, không hợp tác với TCTD để phối hợp xử lý, nên rất khó thực hiện…

Bên cạnh đó, theo quy định, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn nếu xuất hiện tình tiết mới mà các bên đương sự không thống nhất làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Như vậy, trường hợp khách hàng không hợp tác, chống đối, rất dễ dẫn đến trường hợp cố tình tạo ra các tình tiết mới làm cho vụ án không còn bảo đảm điều kiện để đưa vụ án về thủ tục tố tụng thông thường. Do đó, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào được Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn…

Bên cạnh đó là hàng loạt vướng mắc liên quan đến thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản đảm bảo; việc hoàn trả tài sản đảm bảo là vật chứng trong vụ án hình sự... Các vướng mắc từ chính quy định tại Nghị quyết số 42 về thỏa thuận về thu giữ trong hợp đồng bảo đảm; về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn trong xử lý tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ giao tài sản đảm bảo hoặc quyền xử lý tài sản đảm bảo...

Kéo dài Nghị quyết 42 là rất cần thiết

Sau khi phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, kinh tế thế giới giai đoạn 2021-2025 được dự báo diễn biến khó lường, lạm phát gia tăng, xung đột Nga – Ukraine, đại dịch Covid-19 vẫn còn ảnh hưởng và tác động tới kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn, không trả được nợ ngân hàng, bởi vậy nợ xấu có xu hướng tăng trong thời gian tới.

Đến 31/12/2021, trường hợp đánh giá một cách thận trọng, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC và các khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu ở mức cao là 6,31%. Nợ xấu chưa xử lý theo Nghị quyết số 42 đến 31/12/2021 vẫn ở mức cao là 412,7 nghìn tỷ đồng. Xử lý nợ xấu theo hình thức khách hàng tự trả nợ giảm do dịch Covid-19 tác động đến tình hình tài chính của khách hàng.

Đến hết ngày 15/8/2022, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 sẽ không được áp dụng, việc xử lý nợ xấu của TCTD sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Việc này sẽ: kéo dài quá trình xử lý nợ xấu; không khuyến khích, huy động được các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia công tác xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD.

“Nghị quyết số 42 là chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, giúp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Do đó, việc duy trì cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 42 và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu là rất cần thiết”, Thống đốc trình bày.

Vì vậy, căn cứ chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Thông báo số 882/TB-TTKQH ngày 16/4/2022 về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 42 và Nghị quyết số 19/2022/UBTVQH ngày 18/4/2022 về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, Chính phủ đề xuất Quốc hội: (1) Thông qua việc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết số 42 đến ngày 31/12/2023; đưa nội dung này vào Nghị quyết chung của kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV; (2) Giao Chính phủ nghiên cứu, đề xuất nội dung cần luật hóa quy định về xử lý nợ xấu cùng với việc rà soát, hoàn thiện Luật Các TCTD và các luật có liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản đảm bảo, trình Quốc hội chậm nhất vào kỳ họp đầu năm 2023.

“Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo NHNN, các bộ, ngành, địa phương: Phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác thực thi, hướng dẫn Nghị quyết số 42; đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị trong việc triển khai Nghị quyết số 42; Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát đối với các TCTD. Ngoài ra, Chính phủ đề xuất Quốc hội chỉ đạo Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo Toà án nhân dân các cấp và phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Cơ quan thi hành án tiếp tục đồng hành, hỗ trợ ngành Ngân hàng trong công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng và cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu nói chung”, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh.

Đề nghị Chính phủ đánh giá kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42Đề nghị Chính phủ đánh giá kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42
Phê duyệt “Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030”Phê duyệt “Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030”
Cần sớm luật hóa Nghị quyết 42 để giải bài toán xử lý nợ xấu ngân hàngCần sớm luật hóa Nghị quyết 42 để giải bài toán xử lý nợ xấu ngân hàng
“Thúc” xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu“Thúc” xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu
Lo rủi ro lạm phát, nợ xấu tăng, đại biểu nói cách Lo rủi ro lạm phát, nợ xấu tăng, đại biểu nói cách "tiếp máu" cứu kinh tế

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 68,100 ▼50K 68,700 ▼150K
AVPL/SJC HCM 68,100 ▼50K 68,700 ▼150K
AVPL/SJC ĐN 68,100 ▼50K 68,700 ▼150K
Nguyên liêu 9999 - HN 52,900 ▼250K 53,100 ▼350K
Nguyên liêu 999 - HN 52,850 ▼250K 53,050 ▼350K
AVPL/SJC Cần Thơ 68,100 ▼50K 68,700 ▼150K
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 52.900 ▼500K 54.000 ▼500K
TPHCM - SJC 68.100 ▼200K 68.700 ▼200K
TPHCM - Hà Nội PNJ 52.900 ▼500K
Hà Nội - 68.100 68.700 ▼200K 01/07/2022 16:19:52 ▼29K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 52.900 ▼500K
Đà Nẵng - 68.100 68.700 ▼200K 01/07/2022 16:19:52 ▼29K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 52.900 ▼500K
Cần Thơ - 68.250 68.750 ▼150K 01/07/2022 16:47:54 ▼29K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 52.900 ▼500K
Giá vàng nữ trang - 52.500 53.300 ▼300K 01/07/2022 16:19:52 ▼29K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.730 ▼220K 40.130 ▼220K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.930 ▼180K 31.330 ▼180K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.920 ▼130K 22.320 ▼130K
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,305 ▼30K 5,385 ▼25K
Vàng trang sức 99.99 5,220 ▼30K 5,370 ▼25K
Vàng trang sức 99.9 5,210 ▼30K 5,360 ▼25K
Vàng NL 99.99 5,275 ▼30K 5,370 ▼25K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,800 ▼10K 6,880 ▼10K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,800 ▼15K 6,870 ▼20K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,815 ▼5K 6,870 ▼15K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,300 ▼60K 5,400 ▼60K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,310 ▼50K 5,420 ▼50K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,305 ▼30K 5,385 ▼25K
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 68,150 ▼150K 68,750 ▼150K
SJC 5c 68,150 ▼150K 68,770 ▼150K
SJC 2c, 1C, 5 phân 68,150 ▼150K 68,780 ▼150K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 53,250 ▼200K 54,200 ▼200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 53,250 ▼200K 54,300 ▼200K
Nữ Trang 99.99% 53,100 ▼200K 53,800 ▼200K
Nữ Trang 99% 51,967 ▼198K 53,267 ▼198K
Nữ Trang 68% 34,738 ▼136K 36,738 ▼136K
Nữ Trang 41.7% 20,587 ▼83K 22,587 ▼83K
Cập nhật: 01/07/2022 21:30

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,459.54 15,615.70 16,105.12
CAD 17,589.12 17,766.79 18,323.64
CHF 23,712.27 23,951.79 24,702.48
CNY 3,407.18 3,441.60 3,550.00
DKK - 3,215.58 3,336.32
EUR 23,737.79 23,977.57 25,045.79
GBP 27,507.86 27,785.72 28,656.57
HKD 2,895.02 2,924.26 3,015.91
INR - 294.08 305.62
JPY 167.24 168.93 176.91
KRW 15.54 17.27 18.92
KWD - 75,785.83 78,759.18
MYR - 5,231.26 5,341.53
NOK - 2,299.34 2,395.24
RUB - 380.32 515.00
SAR - 6,194.31 6,437.33
SEK - 2,218.03 2,310.55
SGD 16,298.15 16,462.77 16,978.74
THB 578.22 642.47 666.59
USD 23,130.00 23,160.00 23,440.00
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 15,524 16,224
CAD - 17,713 18,413
CHF - 23,738 24,688
CNY - 3,404 3,544
DKK - 3,168 3,338
EUR - 23,387 24,677
GBP - 27,439 28,609
HKD - 2,850 3,045
JPY - 168.04 177.59
KRW - 15.91 19.71
LAK - 0.86 1.81
NOK - 2,261 2,381
NZD - 14,140 14,550
SEK - 2,177 2,312
SGD - 16,136 16,936
THB - 640.17 668.17
USD - 23,085 23,525
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,160 23,160 23,440
USD(1-2-5) 22,942 - -
USD(10-20) 23,114 - -
GBP 27,607 27,774 28,803
HKD 2,907 2,928 3,011
CHF 23,819 23,962 24,740
JPY 167.98 168.99 176.6
THB 618.59 624.84 682.12
AUD 15,501 15,595 16,121
CAD 17,651 17,757 18,317
SGD 16,344 16,442 16,977
SEK - 2,227 2,300
LAK - 1.19 1.52
DKK - 3,223 3,328
NOK - 2,309 2,386
CNY - 3,422 3,534
RUB - 393 505
NZD 14,140 14,225 14,566
KRW 16.1 - 19.66
EUR 23,905 23,969 25,009
TWD 707.04 - 802.9
MYR 4,943.79 - 5,426.13
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,120.00 23,140.00 23,400.00
EUR 23,953.00 23,979.00 24,821.00
GBP 27,779.00 27,947.00 28,612.00
HKD 2,909.00 2,921.00 3,011.00
CHF 23,931.00 24,027.00 24,681.00
JPY 168.63 169.31 173.11
AUD 15,680.00 15,743.00 16,318.00
SGD 16,479.00 16,545.00 16,924.00
THB 637.00 640.00 677.00
CAD 17,785.00 17,856.00 18,282.00
NZD 0.00 14,254.00 14,742.00
KRW 0.00 17.25 18.85
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.155 23.211 23.512
AUD 15.556 15.656 16.267
CAD 17.637 17.837 18.452
CHF 24.027 24.127 24.747
EUR 23.960 24.060 24.830
GBP 27.878 27.928 28.602
JPY 169,48 170,48 177,12
SGD 16.518 16.618 16.926
Cập nhật: 01/07/2022 21:30
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas