Thứ tư 20/06/2018 16:35

Tương lai nào cho ngành dầu khí khi đầu tư suy giảm?

06:55 | 21/01/2018

|
Những nghi ngờ về tương lai của ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt toàn cầu có thể sẽ tăng lên trong năm nay, nếu cho vay và đầu tư vào ngành nhiên liệu hóa thạch này tiếp tục suy yếu. 

Biến đổi khí hậu, sự gia tăng các nguồn năng lượng tái tạo và triển vọng nhu cầu dầu mỏ đạt đỉnh đã được cảnh báo sẽ là những nguyên nhân khiến triển vọng đầu tư vào ngành dầu mỏ trong dài hạn là khá ảm đạm. Nhưng viễn cảnh không xa về việc các nhà cho vay đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), hay các quỹ đầu tư có chủ quyền cắt giảm hoặc chấm dứt tài trợ cho các dự án dầu khí mới đang nổi lên như là mối đe dọa mới đối với ngành công nghiệp này.

tuong lai nao cho nganh dau khi khi dau tu suy giam
Ngân hàng Thế giới sẽ ngừng đầu tư vào các dự án dầu khí thượng nguồn từ năm 2019

Hồi tháng 11-2017, Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy - Quỹ đầu tư quốc gia (SWF) lớn nhất thế giới với tổng tài sản lên tới 1.000 tỉ USD tuyên bố dự định tháo vốn khỏi ngành dầu khí để giảm thiểu rủi ro. Theo kế hoạch này, quỹ sẽ bán tháo đến 40 tỉ USD giá trị cổ phiếu trong các hãng dầu khí lớn như Exxon Mobil (Mỹ) và Shell (Anh - Hà Lan). Đề xuất này sẽ được Na Uy nghiên cứu và quyết định nên làm gì sớm nhất là vào mùa thu năm nay.

1 tháng sau, WB thông báo sẽ ngừng tài trợ cho các dự án thăm dò và khai thác dầu khí từ năm 2019, nhằm thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển sang dùng năng lượng sạch hơn và để giúp các nước trên thế giới đáp ứng cam kết về khí thải nhà kính mà họ đưa ra theo Hiệp định Paris năm 2015.

Đây là những tin tức không hề vui đối với ngành công nghiệp dầu khí.

Quay trở lại với việc Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy rút vốn khỏi cổ phiếu ngành dầu khí, trước hết phải nói thêm rằng, quỹ đầu tư này trong nhiều năm qua đã được coi là chuẩn mực toàn cầu về sự khôn khéo và minh bạch tài chính mà các SWF khác muốn học tập, sao chép. Do dó, động thái trên của họ khiến nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng, quỹ này đã nhìn thấy trước được sự kết thúc của ngành công nghiệp dầu khí?

Hầu hết các nhà quan sát thị trường không nghĩ như vậy.

Theo cây bút bình luận năng lượng Robert Perkins của Platts, là nhà khai thác dầu và khí đốt lớn nhất châu Âu, Na Uy chỉ đơn giản là muốn giảm sự hiện diện của mình trong ngành dầu khí với giá trị đáng kể, chứ không phải họ nhìn thấy trước “cái chết” của ngành công nghiệp này. Ông Perkins lưu ý, Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy đã được Quốc hội nước này chỉ đạo để giúp chống biến đổi khí hậu. Quyết định đầu tư của quỹ dựa trên nhiều quy tắc đạo đức. Năm ngoái, quỹ đã bán phần lớn cổ phiếu trong các công ty than - một động thái tiếp theo sau khi rút vốn khỏi các công ty gây ô nhiễm môi trường nặng và các công ty tham gia vào nạn phá rừng.

Nhưng chắc chắn, các quyết định của Quỹ đầu tư quốc gia Na Uy, WB... sẽ tạo áp lực thoái vốn khỏi nhiên liệu hóa thạch đối với các công ty bảo hiểm và các quỹ hưu trí toàn cầu.

Nếu càng có nhiều các ngân hàng phát triển đa phương giới hạn các khoản cho vay đối với nhiên liệu hóa thạch, thì các nước đang phát triển có thể sẽ bị buộc phải chấm dứt hoặc trì hoãn một số dự án thượng nguồn. Đặc biệt, các dự án xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) sẽ gặp khó khăn nhất, vì những dự án này có chi phí cao, thời gian đầu tư dài và thường dựa vào tài chính của dự án.

Còn các công ty dầu khí đa quốc gia lớn thì sao?

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính sẽ cần 640 tỉ USD đầu tư hằng năm, từ năm 2017-2040 vào ngành dầu khí để tránh tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu trên toàn cầu.

Thực tế cho thấy, hầu như tất cả các quyết định đầu tư cuối cùng để phát triển các dự án dầu khí thượng nguồn lớn trong những năm gần đây đều đến từ các công ty dầu khí lớn. Các công ty dầu khí đa quốc gia phần lớn đều tự trang trải tài chính cho các dự án của mình và chuyên nghiệp trong việc điều tiết chi tiêu vốn để phù hợp với chu kỳ tiền mặt của mình.

Thật vậy, đầu tư toàn cầu vào các dự án thượng nguồn mới đã giảm mạnh gần 50% kể từ năm 2014 do các “ông lớn” như ExxonMobil, Shell, BP… phải “thắt lưng buộc bụng” giữa lúc giá dầu giảm. Nhưng sau hơn 2 năm, các công ty này đã thích nghi tốt hơn và dòng tiền đã phục hồi đủ cho nhiều công ty trang trải các kế hoạch chi tiêu vốn và cổ tức mà không phải chịu nợ mới. Shell trong tháng 11-2017 đã trả tất cả cổ tức bằng tiền mặt - lần đầu tiên trong 2 năm qua và BP bắt đầu mua lại cổ phiếu của chính mình. Đó đều là những dấu hiệu cho thấy, các công ty lớn, đặc biệt là các công ty đa quốc gia có lẽ sẽ thích nghi và chống đỡ được khi đầu tư suy giảm, bằng cách này hay cách khác. Còn những người chịu rủi ro nhất khi các quỹ đầu tư có chủ quyền, các nhà cho vay đa phương rút vốn khỏi nhiên liệu hóa thạch là các quốc gia đang phát triển và các công ty nhỏ.

Hoàng Minh

Share on Google+