Thứ hai 25/09/2017 07:51

Thợ lặn biển cổ đại: Những điều chưa kể

17:15 | 25/05/2017

|
Theo ghi chép của các tài liệu cổ xưa thì người Lưỡng Hà bắt đầu lặn biển tìm ngọc trai từ khoảng 4.500 năm trước. Người Hy Lạp cũng có hoạt động buôn bán, trao đổi ngọc trai và hải miên trong cùng khoảng thời gian này, Trung Quốc cổ đại cũng vậy. Nhưng tới nay, vẫn chưa có sử gia nào lên tiếng khẳng định: Ai được gọi là thợ lặn biển đầu tiên trên thế giới?  

“Bùa hộ mệnh” của người lặn biển

Có thể nói, lặn tìm hải miên được xem như một cách thức lặn biển tự do cổ xưa nhất. Bởi ở thời đó, cách duy nhất để thám hiểm đại dương là nín thở, ngâm mình trong nước lạnh mà không có sự trợ giúp của bất kỳ thiết bị cơ khí nào.

Đáng nói, đây là loại hình lặn biển mang tính thương mại đầu tiên, bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, cụ thể là đảo Kalymmnos - vốn là một trung tâm giao thương sầm uất thời bấy giờ.

Nói thêm về hải miên, còn gọi là “bọt biển”. Cơ thể loài này có hình cốc, gồm các tế bào động vật đa bào sớm nhất, phát triển từ các tập đoàn tế bào. Đây là loài động vật đơn giản và nguyên thủy nhất, có những mô khác nhau nhưng không có cơ, hệ thần kinh, cơ quan bên trong và cũng không có khả năng vận động.

Tờ National Geographic dẫn giả thuyết của các nhà hải dương học cho rằng, hải miên rất có thể là loài động vật đầu tiên trên thế giới. Cụ thể, Sogin một nhà sinh học tiến hóa tại Phòng Sinh vật biển ở Woods Hole, Massachusetts (Mỹ) kết luận rằng, hải miên là nhánh thấp nhất và cổ nhất trong cây phả hệ động vật. Những nhánh cao hơn đã tiến hóa nhiều hơn, tạo nên sự đa dạng sinh học ngày nay. Có lẽ tổ tiên chung của động vật có bề ngoài gần với hải miên hơn nhiều so với tất cả những sinh vật khác hiện còn sống.

Có tài liệu chép rằng, các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại như Plato và Homer (năm 1.000 TCN) sử dụng hải miên như một công cụ để tắm rửa. Vậy các thợ lặn biển thời đó làm sao để có được hải miên?

tho lan bien co dai nhung dieu chua ke
Một ngày ra khơi của những nữ thợ lặn Nhật Bản

Nghiên cứu cho rằng, các thợ lặn biển sơ khai, thường để mình trần, không có bất kỳ máy móc hay dụng cụ hỗ trợ nào, họ nắm lấy các tảng đá hay vật nặng được gọi là skandalopetra - có trọng lượng lên đến 15kg - để lặn xuống nước một cách nhanh chóng. Skandalopetra sẽ được gắn chặt vào một con thuyền bằng sợi dây dài. Các thợ lặn sau đó phải lần mò ở độ sâu khoảng 30m trong 5 phút đồng hồ để mò tìm hải miên.

Tiến sĩ Alex Brylske viết trong cuốn “Lịch sử ngắn của nghề lặn biển” rằng, các thợ lặn sẽ cố gắng “giảm bớt áp lực lên đôi tai bằng cách đổ dầu vào ống tai và ngậm một miệng đầy dầu trước khi lặn xuống dưới nước. Khi lặn xuống tới nơi, họ sẽ phun dầu ra khỏi miệng và cố gắng cắt được càng nhiều hải miên càng tốt theo khả năng nín thở của mình, sau đó họ sẽ được kéo ngược trở lại mặt đất bằng dây thừng. Đây chắc hẳn là một cách kiếm sống thật vất vả và khó khăn”.

Sang tới phương Đông cổ xưa, minh chứng cho thấy nghề lặn biển có lịch sử lâu đời, cụ thể là các ama ở Nhật Bản đã hoạt động nghề này từ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm trước. Ngay cả Columbus cũng từng hình thành một ngành lặn mò ngọc phát triển rực rỡ và thịnh vượng bên bờ biển mà ngày nay thuộc về Venezuela.

Tương tự với cách mò tìm hải miên, song săn ngọc trai khó khăn hơn, bởi giữa hàng tấn trai người ta mới có thể tìm được một vài viên ngọc trai hoàn hảo. Thợ lặn ngọc trai cổ đại sẽ phải trầm mình xuống độ sâu 12-40m của biển cả, nhưng họ không mang theo một vật nặng để “chìm nhanh” như người Hy Lạp, họ chỉ đơn giản bôi mỡ để giữ nhiệt và bịt tai bằng miếng vải cotton - cũng tẩm mỡ.

…Đến những thiết bị hỗ trợ lặn đầu tiên

Vào khoảng năm 500 TCN, lịch sử của ngành lặn biển bắt đầu có những bước tiến, dù không đáng kể. Nhà điêu khắc người Hy Lạp Scyllis được biết đến đã sử dụng một loại cỏ sậy thay cho ống thở thô sơ để có thể kéo dài thời gian lẩn trốn dưới nước, khi ông cắt dây neo thuyền của quân Ba Tư.

Gần chúng ta hơn nữa, một phiến đá cổ đại từ Nimrud (miền Bắc Iraq) hiện được lưu trữ tại Bảo tàng Anh và có niên đại trong khoảng từ năm 883-859 TCN mô tả lại cảnh tượng: Một nhóm người đã tìm cách trốn khỏi sự đuổi bắt của các cung thủ người Assyria bằng cách lặn dọc theo một con sông. Đám người này sử dụng các tấm da động vật được bơm phồng có tác dụng để nổi khi bơi. Giới nghiên cứu còn đặt giả thiết, đám người này sử dụng túi bơm khí như túi thở nhằm kéo dài thời gian lặn bơi dưới nước và giúp họ tránh được tầm mắt của các cung thủ.

Với sự trợ giúp của túi khí, con người có thể lặn sâu ở dưới thêm khoảng vài chục phút, thì với một chiếc chuông lặn (được cho là xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 4 TCN bởi triết gia người Hy Lạp Aristotle), các thợ lặn có thể ở dưới nước hàng giờ đồng hồ nhờ khả năng duy trì áp suất ổn định cũng như cung cấp không khí liên tục cho người thợ lặn. Alexander Đại đế, một trong những học trò của Aristotle, được cho là đã sử dụng một cái chuông lặn khổng lồ làm từ kính để lặn xuống độ sâu 25m.

Ngoài ra, Leonardo da Vinci cũng đã đề xuất việc dùng vây cá, ống thông hơi và các thiết bị thở dưới nước để khám phá các bí ẩn dưới biển sâu vào thế kỷ XVI. Thiết bị ngầm của ông được gắn các gai nhọn, lớn nhằm bảo vệ trước các quái vật biển.

Những “mỹ nhân ngư” Nhật Bản

Ở một quốc gia có nhiều làng chài ven biển như Nhật Bản, lặn biển trở thành một nghề truyền thống và các “ama” được ví như những mỹ nhân ngư ở đây, có thể lặn sâu tới 20m, bơi xa bờ hàng cây số mà không hề có ống thở, chân vịt… Cách thức hoạt động của họ có nhiều điểm tương đồng với thợ lặn biển cổ xưa. Còn các du khách tới Nhật Bản thì âu yếm gọi họ là những “nàng tiên cá” thời hiện đại, góp phần quảng bá hình ảnh đẹp về các làng chài trên “đất nước Mặt trời mọc”.

Thống kê cho thấy hiện có khoảng 2.000 phụ nữ làm nghề lặn biển trên khắp Nhật Bản, gọi là các “ama”. Họ chủ yếu sống tại tỉnh Mie. Bất kể tuổi tác, cho dù là thiếu nữ hay đã là cụ bà ở tuổi 60, 70 các ama phải nín thở ít nhất 50 giây và lặn sâu 20m để bắt hải sản.

Trở lại năm 1937, có khoảng 70.000 ama trên khắp nước Nhật, song cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, số lượng các ama giảm dần. Song với tình yêu biển cả suốt hàng ngàn năm qua, các ama Nhật Bản vẫn xem biển sâu giống như… nhà của mình. Họ tiến hành những nghi lễ truyền thống ngàn đời với biển, mặc trên mình những bộ đồ bằng vải trắng truyền thống rồi trầm mình xuống lòng biển sâu. Họ dùng tay trần để bắt cá và đôi khi, họ bơi cách bờ tới 1km.

Được biết, mỗi ama phải có một bí quyết lặn biển cho riêng mình, mà trong đó, chìa khóa chính là việc làm sao có thể nhanh chóng tìm bắt được thật nhiều hải sản, chứ không phải chuyện nín thở và bơi bao xa. Có ama già nhất hiện đã ngoài 80 tuổi và ở thời kỳ “đỉnh cao” như mùa ngọc trai chẳng hạn, một ama có thể kiếm tới 27 triệu yên, tương đương 5,8 tỉ đồng.

Trần Quân