Thứ ba 21/11/2017 06:23

Phát triển “kinh tế biển xanh”: Cần vạch rõ con đường đi

11:38 | 16/04/2017

|
Hiện quy mô kinh tế biển của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 23% GDP. Dự kiến trong tương lai đóng góp của kinh tế biển trong nền kinh tế sẽ phải chiếm khoảng trên 50%. Tuy nhiên, để kinh tế biển phát triển bền vững và đạt được mục tiêu đó, theo nhiều chuyên gia thì phải kết hợp nó với nền “kinh tế xanh”.

Thách thức của “kinh tế biển xanh”

Trong hội thảo “Các giải pháp xanh hướng tới kinh tế biển xanh” được tổ chức vào tháng 7-2016 tại Nha Trang, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho rằng, việc phát triển kinh tế biển gắn với nền “kinh tế xanh” là một xu thế tất yếu không chỉ đối với Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng. Điểm đặc biệt mà PGS.TS Nguyễn Chu Hồi đã nhấn mạnh chính là tính lợi thế của Việt Nam trong việc phát triển “kinh tế biển xanh”.

“Với 28 tỉnh, thành có biển, nước ta là một trong 10 nước có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ (chưa kể đến một số đảo) trên thế giới. Bình quân cứ 100km2 đất liền có 1km bờ biển, cao gấp 6 lần chỉ số bình quân của thế giới; bờ biển lại mở ra cả ba hướng đông, nam, tây nam nên rất thuận lợi cho việc giao lưu thương mại quốc tế. Điều này là điều kiện tự nhiên cần và đủ cho Việt Nam phát triển kinh tế biển xanh” - PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nói.

Vẫn theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, lợi thế về việc chính sách phát triển “kinh tế biển xanh” còn được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa bằng luật và các định hướng chiến lược.

“Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Luật Biển Việt Nam (2012), Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, trong đó có lĩnh vực kinh tế biển”.

“Theo đó, 6 lĩnh vực kinh tế biển được Nhà nước tập trung phát triển theo Điều 43 Luật Biển Việt Nam gồm: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; Du lịch biển và kinh tế đảo; Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển… đều đang được thực hiện rốt ráo” - PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nói.

phat trien kinh te bien xanh can vach ro con duong di
Đẩy mạnh khai thác thủy hải sản bền vững để phát triển “kinh tế biển xanh”

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, thách thức đối với nền kinh tế biển nói chung và theo hướng “kinh tế biển xanh” nói riêng còn rất lớn.

Theo GS.TSKH Nguyễn Mại - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, mặc dù có nhiều tiềm năng lớn, nhưng “kinh tế biển xanh” nước ta vừa phải đối mặt với những thách thức không nhỏ, là một trong năm nước ở châu Á bị thiệt hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu nếu không có những giải pháp phòng tránh hữu hiệu.

Thế mạnh kinh tế biển tổng thể từ Móng Cái đến Cà Mau chưa được khai thác trong tính đa dạng của vùng và địa phương nên gây ra lãng phí nguồn lực tự nhiên và lao động sáng tạo.

GS Nguyễn Mại dẫn chứng: “Dọc bờ biển nước ta có trên 300 khu công nghiệp có cơ cấu sản xuất na ná như nhau, 15 khu kinh tế không có sự khác biệt nhiều. Ở mỗi tỉnh, thành, cơ cấu kinh tế từng địa phương như một “vương quốc” có đủ cảng biển, nhiều nơi đã có hoặc sắp có cảng hàng không, sản xuất từ sắt thép, quần áo, đến xi măng... nhưng lại chưa hình thành được kinh tế vùng lãnh thổ - yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân có năng lực cạnh tranh cao”.

Đồng tình quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi còn chỉ ra một loạt các thách thức khác cho nền “kinh tế biển xanh” bao gồm: Tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững; môi trường biển bị ô nhiễm và các hệ sinh thái biển bị suy thoái, chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển, cũng như trên các đảo có người sinh sống đổ vào biển ngày càng nhiều. Điều này dẫn đến đa dạng sinh học biển và nguồn lợi hải sản giảm sút, các hệ sinh thái biển quan trọng bị suy thoái, các nơi cư trú tự nhiên (habitat) ven biển quan trọng bị mất hoặc bị thu hẹp diện tích (khoảng 60%)…

Cần vạch rõ con đường đi

Trong một cuộc hội thảo gần đây về “kinh tế biển xanh”, bà Nguyễn Thị Phương Dung, Tổng cục Thủy sản Việt Nam cho rằng, để mô hình đồng quản lý trở thành một công cụ quản lý nghề cá hiệu quả, cần xây dựng một khung pháp lý và những chính sách cơ bản, tăng cường điều tra môi trường, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng quy hoạch, có cơ chế tài chính bền vững để hỗ trợ.

“Những bài học kinh nghiệm trong công tác bảo vệ môi trường biển và tài nguyên biển tại Việt Nam cũng được chia sẻ tại hội thảo như: Nuôi trồng thủy sản đa canh kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn ở Bến Tre, Trà Vinh; mô hình nuôi tôm sinh thái ở Cà Mau; giải pháp chống xói mòn vùng bờ ở Đồng bằng sông Cửu Long...” - bà Dung nói.

Trong khi đó, GS.TSKH Nguyễn Mại chỉ rõ “điểm cốt tử” của con đường phát triển “kinh tế biển xanh” của nước ta là cần xây dựng quy hoạch phát triển không gian biển toàn diện trên cơ sở khoa học tiên tiến với sự tham gia và phối hợp giữa các bên có liên quan ở tầm quốc gia cũng như khu vực.

“Không chỉ chú trọng khai thác tiềm năng hiện có mà cần coi trọng việc bảo tồn để khai thác tốt hơn tiềm năng trong tương lai” - GS Nguyễn Mại lưu ý.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển, để đạt được mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và tạo ra một “nền kinh tế xanh”, trong khi trình độ khai thác biển của nước ta vẫn lạc hậu so với khu vực, chúng ta phải nỗ lực xây dựng một nền công nghiệp hiện đại; phát triển kinh tế biển hiệu quả, bền vững, có khả năng hội nhập quốc tế, có phương thức quản lý tổng hợp biển theo không gian và đảm bảo an ninh chủ quyền vùng biển.

Ông Chu Phạm Ngọc Hiển còn cho rằng, phát triển “kinh tế biển xanh” ở nước ta đang phải đối mặt với các nguy cơ của biến đổi khí hậu, tình trạng axit hóa đại dương, phát triển nghề cá và nuôi trồng hải sản thiếu bền vững, ô nhiễm và chất thải, mất nơi cư trú, giảm đa dạng sinh học và các loài ngoại lai; tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển, các khu bảo tồn biển của các hoạt động sản xuất công nghiệp ven bờ, các hoạt động khai thác tài nguyên biển.

“Đây thực sự là những vấn đề quan trọng đòi hỏi các ngành, các cấp và cộng đồng phải chung tay vào cuộc một cách mạnh mẽ hơn và mang tính đột phá hơn” - ông Hiển cho hay.

Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng: Vấn đề quy hoạch hết sức quan trọng vì muốn phát triển thì cần rõ con đường đi.

Việt Nam đã có chiến lược phát triển biển nhưng chúng ta vẫn chưa có quy hoạch rõ ràng. Các quy hoạch chủ yếu mới chỉ có ở các nghiên cứu nhỏ lẻ và còn chồng chéo. Thực tế hiện nay cho thấy, mỗi tỉnh ven biển đều có một cảng, như vậy liệu có hợp lý không? Điều này cần có quy hoạch tổng thể rõ ràng.

Vẫn theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh thì chúng ta cần xem xét lại vấn đề quy hoạch, xem cái gì cần ưu tiên làm trước, cái nào làm sau. Thứ hai, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh khai thác thủy hải sản đây là thế mạnh của Việt Nam. Những ngành công nghiệp nào cần phải tập trung và cũng cần đẩy mạnh khai thác tài nguyên dưới đáy biển.

“Chúng ta cần phát triển hiệu quả các khu kinh tế ven biển. Cuối cùng rất quan trọng, đó là Việt Nam cần khai thác các dịch vụ biển, nhất là dịch vụ vận chuyển, logistic vì Việt Nam nằm trên ngã sáu của đường hàng hải quốc tế. Trong Luật Bảo vệ môi trường biển mới cũng đã nhấn mạnh điều này. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật Quy hoạch, với luật này, hy vọng sẽ khắc phục được những điểm yếu trong quy hoạch thời gian tới” - PGS.TS Nguyễn Thế Chinh.

Tú Trần