Thứ ba 25/04/2017 19:29

Phát hiện và xử lý tràn dầu ở Bắc Cực (Kỳ 2)

10:59 | 11/12/2012

|
(Petrotimes) - Trong khi khả năng phát hiện dầu loang trong vùng nước băng giá đang được cải thiện thì các công nghệ xử lý, làm sạch chúng vẫn còn nhiều hạn chế.

>> Phát hiện và xử lý tràn dầu ở Bắc Cực (Kỳ 1)

Kỳ 2: Phát hiện đã khó, xử lý còn khó hơn

Hạn chế biện pháp

Ở nhiều nước trên thế giới các biện pháp thường được áp dụng để khắc phục sự cố tràn dầu ở vùng nước mở đó là: cơ học, sinh học và hóa học. Đối với biện pháp cơ học, thực hiện quây gom, dồn dầu vào một vị trí nhất định để tránh dầu lan trên diện rộng. Sử dụng phao ngăn dầu để quây khu vực dầu tràn, hạn chế ô nhiễm lan rộng và để thu gom xử lý. Sau khi dầu được quây lại dùng máy hớt váng dầu hút dầu lên kho chứa hoặc đốt bỏ.

Ưu điểm của biện pháp này là ngăn chặn, khống chế và thu gom nhanh chóng lượng dầu tràn tại hiện trường. Ngoài ra, có thể áp dụng biện pháp hóa học khi có hoặc không có sự làm sạch cơ học và dầu tràn trong một thời gian dài. Cụ thể, sử dụng các chất phân tán; các chất phá nhũ tương dầu - nước; các chất keo tụ và hấp thụ dầu... để xử lý. Với biện pháp sinh học là dùng các vi sinh vật phân giải dầu như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men...

 Khác với ở các vùng nước mở, một khi xảy ra tràn dầu, các tảng băng ở Bắc Cực sẽ là những “chướng ngại vật” tự nhiên giúp ngăn chăn dầu tràn lan rộng ra trên diện tích lớn. Tuy nhiên, yếu tố thuận lợi khi xử lý tràn dầu ở Bắc Cực so với ở vùng nước mở không “thấm” vào đâu so với những khó khăn khi làm công việc này. Trong môi trường lạnh giá, tính nhớt và khuếch tán của dầu cũng sẽ giảm đi nhanh chóng và do đó, dấu vết độc hại sẽ lưu lại ở môi trường lâu hơn, gây ảnh hưởng lâu dài đến đa dạng sinh thái, động vật hoang dã ở khu vực này.

Shell phải hoãn kế hoạch khoan dầu ở Bắc Cực đến năm 2013 sau khi mái vòm ngăn chặn dầu tràn của hãng bị hư hỏng qua một thử nghiệm

Những ảnh hưởng lưu lại môi trường hơn 20 năm sau vụ tràn dầu do tàu chở dầu Exxon Valdez gây ra ở ngoài khơi Alaska (Mỹ) có thể coi là một bài học đắt giá. Mặt khác, nên nhớ trong sự cố tràn dầu Deepwater Horizon, dù “sóng yên biển lặng”, với hàng ngàn tàu tham gia ứng phó, cũng chỉ có khoảng 3% lượng dầu bị tràn ra được tách ra khỏi nước và 6% bị đốt cháy. Trong khi đó, theo các chuyên gia tràn dầu, đốt cháy không thực sự là một cách loại bỏ dầu khỏi môi trường và thậm chí còn gây thảm họa lớn hơn so với việc tràn dầu. Dầu bị đốt đi vào không khí dưới dạng những chất khí thải độc hại và những cặn bã tàn dư của nó có thể chìm xuống dưới đáy biển, tạo thành các lớp thảm dày.

Hơn nữa, đốt cháy dầu không phải là một lựa chọn thông minh với dầu bị kẹt dưới lớp băng đá ở Bắc Cực. Và ngoài ra, thời gian cho việc đốt tại chỗ dầu tràn trên bề mặt và sử dụng các chất phân tán trong vùng nước phủ trắng băng tuyết sẽ lâu hơn nhiều so với ở trong vùng nước mở, bởi sự hiện diện của nước lạnh và băng đá (băng làm hạn chế sự lây lan của dầu). Do đó chỉ còn lại giải pháp sử dụng các chất phân tán hoặc dùng các vi sinh vật phân giải dầu là khả quan hơn cả. Mà dùng các chất hóa học phân tán dầu tràn cũng không hẳn là một biện pháp được khuyến khích khi nó cũng có thể ít nhiều gây ô nhiễm cho môi trường.

Kenneth Lee, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và khí đốt ngoài khơi của Canada cho biết, các nghiên cứu hệ gen đã chỉ ra rằng, các vi khuẩn tự nhiên có thể phá vỡ dầu trong nước lạnh được nhiều hơn so với những hiểu biết trước đây. Nhóm nghiên cứu của ông đang tập trung nghiên cứu các chất phân tán nước lạnh đặc biệt để đẩy nhanh quá trình tự nhiên này. Tuy nhiên, hiện tại, công tác nghiên cứu vẫn chưa có tiến triển nào được công bố.

Sốt ruột nhưng thận trọng

Mặc dù được cảnh báo về một thảm họa tràn dầu của nếu xảy ra ở Bắc Cực sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường cho đa dạng sinh học và môi trường không chỉ ở khu vực này mà còn cả thế giới, nhưng cơn khát năng lượng và lợi nhuận vẫn là động lực to lớn thúc đẩy các quốc gia nói chung và các công ty dầu khí nói riêng lao vào cuộc đua khai thác tài nguyên ở vùng đất băng giá này. Không chỉ Nga, Mỹ và các nước gần Bắc Cực khác như Na Uy, Canada, Đan Mạch “ganh đua” nhau ở Bắc Cực, nước Pháp cũng như NATO cùng nhòm ngó tới khu vực này, khi tuyên bố Bắc Cực là “khu vực mang lợi ích chiến lược lâu dài” đối với NATO và nằm trong kế hoạch an ninh của các nước liên minh.

Ngay như Trung Quốc, dù ở một nơi rất xa Bắc Cực, vẫn để mắt đến tài nguyên của vùng này. Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược toàn cầu Trung Quốc, ông Zhang Xia, phát biểu với giới báo chí rằng: “Là một trong những nhà tiêu dùng năng lượng và thương mại hàng đầu thế giới, Trung Quốc sẽ cải thiện sự hiện diện của mình tại Bắc Cực, gia tăng các hoạt động nghiên cứu khoa học và tích cực tìm kiếm cơ hội hợp tác với các nước trong khu vực”. Trung Quốc đã lên tiếng với cộng đồng quốc tế, thể hiện khả năng và cách giải quyết các vấn đề quyền lợi của mình về tài nguyên và hàng hải tại Bắc Cực.

Tuy vậy, có thể khẳng định rằng, ngoại trừ các công ty dầu khí là nôn nóng muốn “nhảy” vào “miếng bánh” này ngay, chính phủ các nước tuy sốt ruột nhưng cũng có những phản ứng khá thận trọng. Một ví dụ là Shell, sau hơn 6 năm chật vật nộp đơn xin khoan dầu ở Bắc Cực và tiêu tốn hàng tỉ USD cho công tác chuẩn bị, đến năm 2012, “đại gia” dầu khí Anh – Hà Lan mới được chính quyền Obama “bật đèn xanh” cho phép khoan ở vùng biển Chukchi trên bờ biển phía bắc Alaska với điều kiện hãng này phải chứng minh có các thiết bị và biện pháp đối phó với một thảm hoạ tràn dầu kiểu như những gì đã xảy ra ở vịnh Mexico năm 2010.

Nhưng đến nay, những nỗ lực chứng minh khả năng khoan dầu an toàn của Shell đã trở thành chuyện cười và hãng phải “ngậm ngùi” tuyên bố hoãn kế hoạch khoan dầu ở Bắc Cực thêm 1 năm nữa, tức là đến năm 2013, sau khi mái vòm ngăn chặn dầu tràn của hãng bị hư hỏng qua một thử nghiệm. Hay như chính sách mở cửa Bắc Cực cho các công ty dầu khí nước ngoài cùng tham gia khai thác của Nga cũng chỉ nhắm tới những công ty dầu khí lớn, có công nghệ khai thác tiên tiến nhất thế giới và kinh nghiệm đối phó với sự cố tràn dầu như BP, ExxonMobil…

Gần đây nhất, hôm 7/12, hai “gã khổng lồ” dầu khí ExxonMobil (Mỹ) và Rosneft (Nga) đã ký Tuyên bố về Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học cho thăm dò và phát triển dầu khí trên thềm lục địa Bắc Cực của Nga. Nội dung tuyên bố đề cập các biện pháp giúp bảo vệ hệ sinh thái Bắc Cực trong quá trình tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí cũng như phát triển các hoạt động của Rosneft và các đối tác. Các bên đã đồng ý thành lập một nhóm làm việc chung để xem xét việc thành lập một trung tâm điều phối mà có thể có sự tham gia của đại diện Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ các tình trạng khẩn cấp của Nga.

Trung tâm điều phối này sẽ phối hợp hoạt động để bảo vệ đa dạng sinh học dựa trên các quy tắc và khuyến nghị của Công ước về Đa dạng sinh học và các tiêu chuẩn do IPIECA, Hiệp hội Công nghiệp dầu mỏ và khí đốt toàn cầu về các vấn đề môi trường và xã hội thiết lập. Đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy sự quan tâm ngày một tăng lên của các nước đang tham gia tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên ở Bắc Cực về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học nơi đây.

Linh Phương