Thứ hai 18/12/2017 08:23

Người Tà Mun mong muốn được công nhận tộc danh

15:20 | 16/11/2017

|
Đến nay, không ai còn nhớ chính xác là vào thời điểm nào mà chỉ biết từ rất lâu, những mái nhà của người Tà Mun đã có mặt trên đất nước ta rồi. Họ sinh sống tập trung ở tỉnh Bình Phước và tỉnh Tây Ninh. Người dân địa phương vẫn xem Tà Mun là một tộc người riêng biệt không lẫn vào các dân tộc khác, mặc dù trong bảng danh mục dân tộc thiểu số Việt Nam không có tộc danh Tà Mun.

Mai một các tập tục cổ truyền

Sinh ra và lớn lên ở tỉnh Bình Phước, nên tôi không khó để tìm đường đến bản của người Tà Mun ở ấp Sóc 5, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Cách nơi sinh sống của người Tà Mun hàng chục cây số hầu hết người dân đều biết đến tộc người này. Theo lời của người dân huyện Hớn Quản thì người Tà Mun đã sống ở đây từ hàng trăm năm nay, thỉnh thoảng họ vẫn chạy xe đạp chở mật ong rừng và đọt mây đi bán dạo cho người Kinh.

nguoi ta mun mong muon duoc cong nhan toc danh
Già làng Tà Mun ấp Sóc 5 Lâm Tăng giới thiệu về miếu thờ cũ của người Tà Mun

Ấp Sóc 5 nằm lẩn khuất sau những nông trường cao su bạt ngàn. Để vào ấp, chúng tôi phải chạy qua một đoạn đường gần chục cây số men theo những cánh rừng cao su ngút tầm mắt, rợp bóng mát rượi. Chẳng thấy có ngôi nhà nào xuất hiện hai bên đường, thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp được một vài người giữ vườn cao su để hỏi đường. Dừng chân tại một quán tạp hóa bên đường, chúng tôi hỏi thăm nhà của người Tà Mun, chị chủ quán vui vẻ chỉ cho chúng tôi biết xung quanh đây đa phần là người Tà Mun. Chị chỉ cho chúng tôi đường đến nhà Trưởng ấp Sóc 5 cũng là người Tà Mun ở gần đó và nhà già làng.

Hiện nay, bà con Tà Mun không còn ở nhà sàn trong rừng như trước nữa mà họ sống xen kẽ với xóm làng người Kinh, người S’tiêng. Nhà của họ đơn sơ, mộc mạc, đa số được làm bằng gỗ và do chính tay bàn tay người đàn ông Tà Mun xây dựng. Theo lời chỉ dẫn chúng tôi đến nhà anh Lâm Tẹo, sinh năm 1982, người dân tộc Tà Mun đã tốt nghiệp trung học phổ thông được người dân tín nhiệm bầu làm trưởng ấp, anh cho biết: Ấp Sóc 5 có hơn 200 hộ gia đình người Tà Mun sinh sống với hơn 900 nhân khẩu. Người Tà Mun đã ở đây từ xa xưa, khoảng 100 năm trước và trải qua khoảng 4 đời. Trước đây họ sống du canh, du cư qua rất nhiều nơi và cuối cùng định cư lại vùng đất này. Người Tà Mun không có chữ viết riêng, truyền thống văn hóa, lịch sử được truyền miệng từ đời này sang đời khác, do đó nhiều phong tục, tập quán và nguồn gốc lịch sử đã bị lãng quên.

Tộc người Tà Mun thờ đa thần, thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ trời, thần rừng, thần rẫy, thần đất… Hiện nay, dù đã mai một nhiều nét văn hóa, phong tục tập quán và cũng không còn làm rẫy nhưng bà con Tà Mun vẫn còn giữ lại các ngày lễ, tết của dân tộc mình như là món quà tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của họ.

nguoi ta mun mong muon duoc cong nhan toc danh
Lâm Sơn Tự, đền thờ truyền thống của người Tà Mun ở ấp Sóc 5

Tết cổ truyền của người Tà Mun còn được gọi là ngày tết Saunco -Khamun (Sa uônul - Côka muônul), bắt đầu từ ngày 30-8 âm lịch đến hết ngày 3-9 âm lịch. Theo lời kể của già làng Lâm Tăng - Chủ tịch Hội đồng già làng ấp Sóc 5: Khi chưa có quán xá, đường nhựa như bây giờ thì người Tà Mun tổ chức tết bằng những món ăn của rừng với những đặc sản như: canh chua đọt mây, gạo giã nhuyễn trộn với lá rừng để nấu thành cơm có màu xanh đẹp mắt và rất thơm, dẻo hoặc người Tà Mun đi gài bẫy dính heo, gà rừng đem về chung vui ngày tết. Theo tập tục, từ 28 đến 29-8 âm lịch, mọi người dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa và đền thờ truyền thống để đón tết, mọi nhà cùng đóng góp lúa nếp, heo, gà… cho làng để tổ chức tết chung, sau đó mới trở về nhà làm lễ cúng ông bà tổ tiên của mình. Vào đêm cuối tháng 8, sáng ngày mùng 1-9 âm lịch, họ cúng ông bà rồi mới đi chúc tết nhà nhau. Các gia đình đều chuẩn bị các món ăn ngon để đãi khách đến chúc tết.

Còn lễ xuống giống được tổ chức vào ngày 15-5 âm lịch, mọi người tập hợp tại miếu thờ, ai có xôi thì mang xôi, ai có gà mang gà... nhà nào có gì thì cùng góp vào để tổ chức lễ. Họ khấn trời đất, ông bà, tổ tiên cho mùa màng xuống giống không bị chim ăn, không hạn hán, gặp được mưa thuận gió hòa. Làm nghi thức đó xong bà con cùng ngồi lại ăn uống. Theo lời kể của người Tà Mun, ngày xưa đi phát rẫy, trong tâm của họ luôn nghĩ có người “khuất mặt” ở đó nên lập cái miếu cho người khuất mặt ở không bị mưa gió. Họ lấy cục đất cắt gọt thành hình người rồi bỏ vào miếu để thờ cúng. Đến nay, đền thờ này đã được người dân dựng lại khang trang và đặt tên là “Đền thờ truyền thống dân tộc Tà Mun”. Đây là nơi bà con Tà Mun tập trung mỗi dịp lễ, tết để ôn lại truyền thống văn hóa của dân tộc mình.

Bà con dân tộc Tà Mun thuở du canh, du cư có 2 giống lúa hết sức độc đáo tên gọi T’rô và Sau-sơ-ra. Hiện không còn giống lúa này. Độc đáo của lúa này là khi mới chín vàng mơ, bà con đã kéo nhau ra rẫy để thu hoạch, bởi nếu để lúa chín quá thóc sẽ rụng hết. Khi lúa vừa chín tới họ đeo gùi trên lưng, dùng tay tuốt từng bông lúa bỏ vào gùi, mang về nhà chứa vào bồ. Khi nấu cơm, họ mang lúa ra luộc cho chín rồi mang ra phơi khô, sau đó dùng chày giã thành gạo nấu cơm. Sau khi thu hoạch xong mùa màng đến ngày (16-11), họ tổ chức cúng thần linh đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa để họ được một mùa vụ bội thu. Lễ bội thu được tổ chức linh đình hơn lễ xuống giống. Bà con tập trung tại nhà già làng cùng kết các cành cây trái và những nhánh hoa tươi do chính họ trồng trong vườn thành một cây hoa trái lớn. Hai cô gái mặc áo váy mới, sặc sỡ khiêng cây này đi trước, mọi người vừa mang lễ vật, vừa múa hát kéo thành đoàn đi sau đến cây cổ thụ lớn nhất trong làng bày ra cúng. Tập tục này xuất phát từ quan niệm rằng, tổ tiên, ông bà sau khi chết đi không ở trong nhà mà sống lẩn khuất trên những tán cây cổ thụ để trông nom vườn tược, hoa màu giúp con cháu, nên họ tổ chức cúng ông bà dưới bóng cây cổ thụ lớn nhất trong làng. Sau khi già làng làm các thủ tục cúng bái xong, mọi người cùng quây quần dưới bóng cây múa hát cho đến nửa đêm, ai có trò gì thì mang ra góp vui cho ngày lễ…

nguoi ta mun mong muon duoc cong nhan toc danh
Gia đình ông Lâm Coi, Lâm Chử, người Tà Mun

Cưới hỏi cũng là nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Tà Mun. Điều khác biệt của phong tục này là ông mai bên nhà trai sang nhà gái dạm hỏi trước, gọi là lễ (Hanh-Lip-Xana), nhưng do bên nhà gái tổ chức rước rể (Hanh num - Kon Klô Xua) hay (Chun Kon Klô). Khi đưa chàng rể qua nhà gái, nhà trai sẽ hát múa những bài hát đưa rể gọi là (Xavên-Keo Kôc). Đa số làn điệu này ảnh hưởng bởi âm nhạc của người Khmer. Các bài hát này hiện nay hầu hết đã thất truyền. Trong lễ cưới ngày nay của người Tà Mun còn duy nhất tục cột chỉ tay vẫn được lưu truyền. Cô dâu chú rể đi chân đất, quỳ dưới chiếu và rót rượu, trên tay cô dâu cầm chặt một thanh dao (xà cốc) hoặc cây chuối con đã được vót lá nhẵn nhụi. Cô dâu quấn chăn dài đến gót, 2 tay, 2 chân đều đeo vòng bạc. Mỗi người đến chúc mừng thì đều thực hiện nghi thức cột chỉ tay biểu hiện sự se duyên cho cô dâu chú rể. Tiệc cưới của dân tộc Tà Mun phải có 2 đầu heo, 2 con gà luộc để trên mâm, xung quanh đặt bánh cốm. Sau khi kết thúc bữa tiệc, cô dâu chú rể bưng khay cốm, bánh cặp, xôi, khay rượu đến nhà già làng để chứng minh rằng, họ đã làm cỗ heo đãi làng. Đám cưới xong, chú rể phải ở rể bên nhà gái. Tục này hiện nay vẫn còn được duy trì, dù người Tà Mun lấy chồng hay vợ người dân tộc khác.

Cội nguồn của người Tà Mun

Đến nay, không còn ai nhớ và không có tư liệu nào chỉ ra những bằng chứng xác thực về nguồn gốc của người Tà Mun nên có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc và thành phần dân tộc của tộc người này. Có ý kiến cho rằng, người Tà Mun vốn là một nhóm nhỏ của người S’tiêng, cư trú tách biệt và chịu ảnh hưởng văn hóa và ngôn ngữ của người Khmer. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, người Tà Mun vốn được tách ra từ nhóm người Châu Ro. Một ý kiến khác mang tính “dung hợp” hai ý kiến trên đây cho rằng, người Tà Mun là một cộng đồng người hỗn hợp S’tiêng - Châu Ro, đã tiếp thu sâu sắc văn hóa và nếp sinh hoạt của người Khmer trước đây và của người Việt trong vài chục năm trở lại đây… Tuy nhiên, tên gọi “Tà Mun” không có trong bảng Danh mục 54 thành phần dân tộc thiểu số Việt Nam được Tổng cục Thống kê công bố năm 1979. Trong sách “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xếp Tà Mun vào một tộc người thuộc dân tộc S’tiêng nhưng cũng không nhắc gì đến những nét văn hóa, nguồn cội của người Tà Mun.

nguoi ta mun mong muon duoc cong nhan toc danh
Các giấy tờ tùy thân của người Tà Mun có xác định tộc danh Tà Mun/Tà Mung
TS Nguyễn Thành Đức - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển văn hóa dân tộc cho rằng: “Vào những năm 30 của thế kỷ trước, một bộ phận người Châu Ro bị thực dân truy nã vì đã chống lại chủ đồn điền cao su. Họ đã phải di cư đến sống với người S’tiêng và Khmer ở huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước, nay gọi là người Tà Mun”.

Trao đổi với chúng tôi, hầu hết người dân Tà Mun đều cho rằng, tộc người Tà Mun và S’tiêng khác nhau hoàn toàn. Ông Lâm Coi, sống trong gia đình có 5 anh em người Tà Mun, nói: Tộc người Tà Mun và S’tiêng có hai ngôn ngữ khác nhau, người Tà Mun nói chuyện riêng với nhau bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, người S’tiêng không thể hiểu được và ngược lại. Kể cả một số phong tục, tập quán truyền thống, âm nhạc... của họ cũng khác nhau. Do đó, từ trước đến nay không có người Tà Mun nào nhận mình thuộc sân tộc S’tiêng mặc dù Nhà nước vẫn xếp Tà Mun là tộc người thuộc dân tộc S’tiêng.

Ông Lâm Coi cho chúng tôi xem giấy chứng nhận sắc tộc từ chế độ Việt Nam Cộng hòa cấp cho đồng bào Tà Mun mà ông còn giữ lại. Theo đó, chế độ Việt Nam Cộng hòa công nhận sắc dân (Tà Mun/Tà Mung) là đồng bào Thượng miền Nam. Chính quyền địa phương hiện nay cũng xác nhận thành phần dân tộc của nhóm người này là Tà Mun trong các văn bản, giấy tờ như: chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, hương ước…

Theo các cụ già Tà Mun thì gốc xưa của người Tà Mun là ở khu vực Đồng Mã Thiêu, nay gọi là Lái Thiêu, Bình Dương, họ làm rẫy, sống du canh, du cư di chuyển đến ấp Sóc 5 và định cư ở nơi này, xưa là Võ Tùng - Võ Dực, Hớn Quản. Có một thời gian họ chạy giặc đến trại tiếp cư An Lợi, Long Thành, Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận sắc tộc miễn đi lính tại đây.

Bà con dân tộc Tà Mun mong muốn dân tộc mình được xác định tộc danh, được chính quyền quan tâm khôi phục lại các tập tục cổ truyền và được khẳng định mình là dân tộc Tà Mun chứ không phải là S’tiêng hay Khmer, Châu Ro như nhiều người đã nghĩ, để người dân tộc Tà Mun giữ lại truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của dân tộc mình, góp phần làm phong phú thêm văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Nguồn gốc họ Lâm của người Tà Mun

Người Tà Mun tất cả đều mang họ Lâm, tương truyền họ này rất giỏi nghề đi rừng, làm gỗ. Trong những năm đầu khai đạo Cao Đài, tiền nhân của người Tà Mun đã đóng góp công sức của mình làm công quả xây dựng Đền Thánh, nay là Trung tâm Tôn giáo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Công lao đó được sách sử Cao Đài ghi lại.

Chuyện kể rằng, ban đầu Tòa Thánh cứ xây lên là bị sét đánh sụp đổ, xây đi xây lại nhiều lần nhưng vẫn không được. Trong một lần nằm mơ, Đức hộ pháp Phạm Công Tắc thấy có người đến báo mộng phải kiếm cho được người Tà Mun về giúp sức mới xây được Tòa Thánh. Sau đó ông gặp và mời người Tà Mun vào thắp nhang và dựng cây cột cái, nhờ đó Tòa Thánh mới được xây dựng thành công. Để biểu dương công đức của người Tà Mun, Đức hộ pháp Phạm Công Tắc ban cho người Tà Mun họ Lâm, nghĩa là rừng, để ghi nhớ công đức của bà con Tà Mun. Người Tà Mun đã giữ họ Lâm truyền lại cho con cháu đến tận bây giờ. Vì có công lao trong xây dựng Tòa Thánh nên đến nay một nhóm người Tà Mun chuyển đến sống ở Tây Ninh và theo đạo Cao Đài. Một số khác sống hòa nhập với dân tộc Khmer nên theo tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông. Còn tại Bình Phước đa phần người dân không theo tôn giáo nào mà chỉ thờ cúng tổ tiên ông bà.

Mai Phương