Giá dầu giảm và những ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội (Bài 2)

07:00 | 23/01/2015

1,222 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam một chương trình hành động đang khẩn trương xây dựng để hạn chế tác động xấu của giá dầu trong ngắn hạn và dài hạn. Chương trình bao gồm các giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực, phù hợp điều kiện, đặc điểm của từng đơn vị với những định hướng lớn cho 2015.

>> Giá dầu giảm và những ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội (Bài 1)

 Năng lượng mới số 392

(Tiếp theo và hết)

Giá dầu sẽ giảm đến bao nhiêu và bao giờ sẽ hồi phục?

Đây là câu hỏi rất khó, cho đến nay đối với các tổ chức nghiên cứu, các chuyên gia dự báo rất khác nhau và thay đổi liên tục. Giá dầu giảm bao nhiêu và bao giờ hồi phục phụ thuộc vào thời gian giải quyết các nguyên nhân gây nên nó. Như đã nói ở trên, giá dầu phụ thuộc vào 4 nguyên nhân. Chúng ta cùng xem xét từng nguyên nhân.

Trước hết giá dầu sẽ tăng lên khi cung - cầu cân bằng. Cung sẽ tăng lên khi sản xuất phát triển, nhu cầu nhiên liệu cao hơn, vấn đề này không thể giải quyết trong ngắn hạn. Để rõ bức tranh cung - cầu năm 2015, chúng ta cùng nhận định tình hình kinh tế, an ninh thế giới năm 2015.

Kinh tế thế giới năm 2015 tiếp tục bị ảnh hưởng của 3 vấn đề lớn, đó là: (i) Giá dầu thô giảm, (ii) USD tiếp tục tăng giá, (iii) trận chiến ngoại hối bên ngoài nước Mỹ vì nhiều nước vẫn bơm tiền kích thích kinh tế làm đồng tiền cũng sụt giá.

Một cụm giàn khoan, giàn xử lý trên mỏ Bạch Hổ 2

Nhìn chung các nền kinh tế hiện tại vẫn đang ở xu thế trì trệ và xuất hiện sự suy thoái ở nhiều nước trên thế giới. Khối Liên minh châu Âu (EU) gồm 28 nước, trong đó khu vực đồng euro chưa thoát khỏi suy thoái, nền kinh tế mạnh nhất khu vực là Đức bị suy giảm 0.2%

Trung Quốc, nền kinh tế thứ hai thế giới phát triển chậm lại, dự kiến dưới tăng trưởng dưới 7%/ năm (thay vì 8, 9, 10 như trước đây).

Nhật Bản, nền kinh tế thứ ba thế giới chưa ra khỏi suy thoái, dân số giảm, già, khiến tiêu thụ sụt giảm, kể cả xăng dầu.

Tình hình an ninh địa chính trị trên thế giới 2015 tiếp tục biến động phức tạp. Khủng hoảng Ukraine chưa đến hồi kết thúc đưa quan hệ Nga - Ukraine, Nga - EU, Nga - Mỹ tiếp tục căng thẳng; Hoạt động của nhóm Hồi giáo IS; Bất ổn ở khu vực Liberia, Siri, Trung Đông; Tranh chấp lãnh thổ Trung Quốc - Nhật Bản (Biển Hoa Đông), vấn đề Biển Đông.

Tất cả những nhân tố trên đều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới và giá dầu năm 2015.

Theo dự báo của Wood MacKenzie  tốc độ tăng trưởng kinh tế trên thế giới 2.7% năm 2015, 2.9% năm 2016. Tổng nhu cầu dầu thô năm 2015 khoảng 93.7 triệu thùng, trong khi cung vẫn tăng đạt tổng cung 94-95 triệu thùng

Trong ngắn hạn giá dầu chỉ tăng khi các nước sản xuất dầu giảm sản lượng. Tuy nhiên, trong quý I hoặc trước tháng 6/2015 các nước OPEC sẽ không điều chỉnh sản lượng dầu như tuyên bố của Bộ trưởng Arập Xêút.

Mỹ cũng chưa sẵn sàng ủng hộ tăng giá dầu khi đang căng thẳng với Nga về vấn đề Ukraine. Điều đó có nghĩa trong ngắn hạn cho đến khi OPEC chưa cắt giảm thì giá dầu chưa tăng nhanh lại được.

Dự báo giá dầu:

- Theo đánh giá của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), giá dầu Brent trung bình cả năm 2015 dự báo là 68USD/thùng, giảm 15USD/thùng so với dự báo 1 tháng trước đây.

- Wood Mackenzie dự báo giá dầu Brent quý I/2015 là 50.7USD/thùng, trung bình cả năm 2015 là 58.1USD/thùng và 2016 là 71.2USD/thùng;

- Reuters (tập hợp từ 30 tổ chức, tài chính, ngân hàng thế giới) dự báo giá dầu Brent quý I/2015 là 69.4USD/thùng, trung bình cả năm 2015 là 74USD/thùng và 2016 là 80.3USD/thùng;

- HIS (Tổ chức Nghiên cứu, Dự báo năng lượng toàn cầu IHS) dự báo giá dầu Brent trung bình cả năm 2015 là 66USD/thùng và 2016 là 75USD/thùng;

- Bank of America đã cho rằng, giá dầu thô có thể tiếp tục giảm xuống đến mức 50USD/thùng, tuy nhiên cũng đưa ra dự báo giá trung bình năm 2015 sẽ tăng trở lại mức 80USD và thậm chí lên 90USD/thùng;

- City Group thì có nhận định giá dầu trong thời gian tới còn có thể xuống đến mức 40USD/thùng;

- Morgan Stanley rất đề phòng khi đưa ra dự báo giá dầu năm 2015 chỉ ở trên mức 40USD/thùng;

- Bloomberg dự báo giá dầu khoảng 78-83 USD/thùng.

Chúng tôi dự báo giá dầu Brent khó giảm xuống dưới 40USD/thùng hoặc do “bàn tay”/ “trò chơi” nào đó tác động giá dầu có thể giảm dưới 40USD/thùng nhưng cũng không thể kéo dài lâu. Vì sao?

Về lâu dài, nếu giá dầu càng xuống thấp thì tự nhiên nguồn cung thể hiện từ mỏ có giá thành cao giảm dần. Giá thành sản xuất dầu thế giới dao động từ 20-80USD/thùng, hoặc thậm chí có mỏ có giai đoạn lên đến 100USD/thùng. Trung bình giá hòa vốn (Breakeven) trên thế giới là 40-50USD/thùng, trong đó 37 triệu thùng/ngày có giá hòa vốn trên 45USD/thùng, chỉ còn 54 triệu thùng/ngày có giá thấp hơn 45USD/thùng. Giá dầu không thể tụt dốc xuống đến mức chỉ còn khai thác 50% sản lượng đủ hòa vốn;

Bao giờ giá dầu hồi phục tăng trở lại và tăng đến bao nhiêu?

Các nước sản xuất - xuất khẩu dầu chính trong OPEC, như: Arập Xêút, các Tiểu Vương quốc Arập, Kuwait chưa muốn cắt giảm sản lượng ngay để đạt mục tiêu của họ, vì còn nguồn tài chính từ các quỹ rất lớn, tuy nhiên không thể kéo dài mãi để bù và duy trì tình trạng giá như hiện nay;

Mỹ cũng muốn nhân dịp này đẩy Nga, Iran vào khủng hoảng nhưng cũng không thể đứng nhìn nguy cơ công nghiệp dầu khí đá phiến rơi vào phá sản. Các ngân hàng cung cấp tài chính cho các dự án dầu đá phiến bị ảnh hưởng lớn kéo theo thị trường chứng khoán lao dốc, tất cả nhà đầu tư thua thiệt; Thực tế sau quyết định không cắt giảm sản lượng dầu của OPEC, tại thị trường chứng khoán Australia đã bốc hơi hơn 30 tỉ USD khi cổ phiếu các công ty năng lượng và khai thác sụt giảm; Trong 5 năm qua khi giá dầu cao, các ngân hàng và các tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty khai thác dầu đá phiến, kết quả là hiện nay nợ của các công ty năng lượng chiếm khoảng 16% thị trường trái phiếu lãi suất cao trị giá 1.300 tỉ USD của Mỹ, trong một thập niên trước con số này là 4%;

Ngoài ra, giá dầu thấp, Trung Đông và các nước sản xuất dầu sẽ hạn chế nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và cuối cùng về lâu dài sẽ ảnh hưởng chung đến phát triển kinh tế thế giới.

Tất cả các yếu tố trên dẫn đến các nước hiện nay chưa sẵn sàng cắt giảm sản lượng, nhưng đang theo dõi chặt chẽ diến biến thị trường để xử lý, tránh hiệu ứng domino.

Từ các phân tích trên, chúng tôi dự báo: Quý I giá dầu có thể xuống mức thấp nhất 40USD/thùng, quý II dần dần chững lại ở mức thấp để cuối 2015 tiến đến giá trị 60-70USD/thùng và trung bình cả năm 2015: 55-65USD/thùng là khả năng lớn.

Trong trung hạn 3-4 năm tới, giá dầu tăng dần mức 70-90USD/thùng. Tuy nhiên, khó có thể quay lại mức cao hơn 110USD/thùng, ngoại trừ những yếu tố bất thường: thiên tai, chiến tranh.

Về dài hạn sau 2018 giá dầu tiếp tục tăng trên 100USD/thùng và đến năm 2025 lên đến 130USD/thùng, vì nhìn tổng thể, dầu khí vẫn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế hoàn toàn trong 30 năm tới và cung - cầu cân bằng.

Các giải pháp để giảm tác động tiêu cực do giá dầu giảm

Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam một chương trình hành động đang khẩn trương xây dựng để hạn chế tác động xấu của giá dầu trong ngắn hạn và dài hạn. Chương trình bao gồm các giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực, phù hợp điều kiện, đặc điểm của từng đơn vị với những định hướng lớn cho 2015.

Trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí: Rà soát lại tất cả các mỏ và điều chỉnh sản lượng phù hợp trên cơ sở hiệu quả. Tuy nhiên không phải tất cả các mỏ có giá thành cao đều dừng sản xuất. Việc quyết định dừng giếng/mỏ căn cứ các tính toán cụ thể, đầy đủ 2 phương án (dừng hoặc tiếp tục khai thác) để lựa chọn phương án tốt nhất, với nguyên tắc: Bảo vệ tài nguyên đất nước, đảm bảo lợi ích Nhà nước có tính đến lợi ích của nhà đầu tư; Chọn lọc có trọng điểm công tác thăm dò - thẩm lượng, phát triển các mỏ mới để kịp đưa vào khai thác năm 2016, 2017 khi giá dầu phục hồi và tăng cao; Tranh thủ cơ hội khi giá dịch vụ, giá giàn khoan nước sâu thấp, thuê giàn khoan triển khai công tác khoan thăm dò, thẩm lượng phục vụ đánh giá tiềm năng dầu khí ở khu vực mới (việc này chắc chắn sẽ phải làm, tranh thủ giá dịch vụ thấp để triển khai sớm);

Xây dựng các giải pháp đầu tư - tài chính, bao gồm cả giải pháp huy động nguồn vốn để ứng phó với giá dầu thấp. Lập danh sách thứ tự ưu tiên các dự án đầu tư theo các kịch bản giá dầu khác nhau, trong đó tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh chính, không đầu tư vào các dự án chưa thực sự cấp bách;

Đối với công tác dịch vụ trong giai đoạn khó khăn 2015, Tập đoàn kiến nghị Chính phủ và các cấp có thẩm quyền có chính sách hỗ trợ dịch vụ trong ngành, trong nước. Thời điểm hiện nay do giảm đầu tư, các công ty dịch vụ nước ngoài sẵn sang vào Việt Nam bằng mọi giá. Tập đoàn hỗ trợ công việc, các đơn vị dịch vụ có trách nhiệm tìm giải pháp hạ giá thành hợp lý;

Toàn Tập đoàn thực hiện các giải pháp tiết kiệm chi phí toàn diện. Cắt giảm những vật tư - phụ tùng chưa cần thiết. Các đơn vị thực hiện sử dụng vật tư, phụ tùng chung cho cùng chủng loại; Rà soát điều chỉnh các định mức kế hoạch, định mức tiêu hao vật tư, hao hụt nguyên nhiên liệu;

Trên đây là những nhận đinh, dự báo về giá dầu thô, những tác động và định hướng giải pháp ứng phó. Tuy nhiên, giá dầu luôn diễn biến phức tạp, rất nhạy cảm, lần này lại xảy ra do nhiều yếu tố cùng tác động vì vậy càng khó dự báo chính xác. Điều này giải thích tại sao 3 tháng qua các tổ chức nghiên cứu, tư vấn đều điều chỉnh liên tục các dự báo sau mỗi giai đoạn. Vì vậy chúng ta tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến giá dầu như tăng/ giảm sản lượng, dỡ bỏ cấm vận, tăng trưởng kinh tế, an ninh toàn cầu. Trên cơ sở đó sau 3 tháng, sau 6 tháng cập nhật dự báo chính xác hơn cho mỗi giai đoạn, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ 2015 và những năm tiếp theo.

TSKH Phùng Đình Thực

 

  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 82,000 84,000
AVPL/SJC HCM 82,000 84,000
AVPL/SJC ĐN 82,000 84,000
Nguyên liệu 9999 - HN 74,400 ▼400K 75,600 ▼300K
Nguyên liệu 999 - HN 74,300 ▼400K 75,500 ▼300K
AVPL/SJC Cần Thơ 82,000 84,000
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 74.800 76.800
TPHCM - SJC 82.100 84.100
Hà Nội - PNJ 74.800 76.800
Hà Nội - SJC 82.100 84.100
Đà Nẵng - PNJ 74.800 76.800
Đà Nẵng - SJC 82.100 84.100
Miền Tây - PNJ 74.800 76.800
Miền Tây - SJC 82.100 84.100
Giá vàng nữ trang - PNJ 74.800 76.800
Giá vàng nữ trang - SJC 82.100 84.100
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 74.800
Giá vàng nữ trang - SJC 82.100 84.100
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 74.800
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 74.700 75.500
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 55.380 56.780
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.920 44.320
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.160 31.560
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,455 7,665
Trang sức 99.9 7,445 7,655
NL 99.99 7,450
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,520 7,695
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,520 7,695
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,520 7,695
Miếng SJC Thái Bình 8,230 8,410
Miếng SJC Nghệ An 8,230 8,410
Miếng SJC Hà Nội 8,230 8,410
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 82,100 84,100
SJC 5c 82,100 84,120
SJC 2c, 1C, 5 phân 82,100 84,130
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 74,700 76,600
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 74,700 76,700
Nữ Trang 99.99% 74,600 75,900
Nữ Trang 99% 73,149 75,149
Nữ Trang 68% 49,267 51,767
Nữ Trang 41.7% 29,303 31,803
Cập nhật: 18/04/2024 11:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,802.74 15,962.37 16,474.59
CAD 17,830.93 18,011.04 18,589.00
CHF 27,037.08 27,310.18 28,186.55
CNY 3,419.83 3,454.37 3,565.76
DKK - 3,534.07 3,669.44
EUR 26,168.83 26,433.16 27,603.92
GBP 30,667.37 30,977.14 31,971.18
HKD 3,144.63 3,176.39 3,278.32
INR - 301.14 313.19
JPY 158.53 160.13 167.79
KRW 15.77 17.53 19.12
KWD - 81,790.33 85,060.87
MYR - 5,219.21 5,333.08
NOK - 2,258.10 2,353.99
RUB - 254.56 281.80
SAR - 6,718.10 6,986.74
SEK - 2,263.43 2,359.55
SGD 18,067.70 18,250.20 18,835.84
THB 606.11 673.46 699.26
USD 25,100.00 25,130.00 25,440.00
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,079 16,099 16,699
CAD 18,178 18,188 18,888
CHF 27,426 27,446 28,396
CNY - 3,444 3,584
DKK - 3,549 3,719
EUR #26,291 26,501 27,791
GBP 31,139 31,149 32,319
HKD 3,117 3,127 3,322
JPY 160.62 160.77 170.32
KRW 16.32 16.52 20.32
LAK - 0.7 1.4
NOK - 2,235 2,355
NZD 14,804 14,814 15,394
SEK - 2,252 2,387
SGD 18,151 18,161 18,961
THB 638.93 678.93 706.93
USD #25,145 25,145 25,440
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,100.00 25,120.00 25,440.00
EUR 26,325.00 26,431.00 27,607.00
GBP 30,757.00 30,943.00 31,897.00
HKD 3,164.00 3,177.00 3,280.00
CHF 27,183.00 27,292.00 28,129.00
JPY 159.58 160.22 167.50
AUD 15,911.00 15,975.00 16,463.00
SGD 18,186.00 18,259.00 18,792.00
THB 671.00 674.00 702.00
CAD 17,956.00 18,028.00 18,551.00
NZD 14,666.00 15,158.00
KRW 17.43 19.02
Cập nhật: 18/04/2024 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25225 25275 25442
AUD 16138 16188 16591
CAD 18211 18261 18666
CHF 27736 27786 28199
CNY 0 3479.7 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3490 0
EUR 26808 26858 27368
GBP 31508 31558 32018
HKD 0 3115 0
JPY 162.51 163.01 167.54
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.3 0
LAK 0 1.0372 0
MYR 0 5400 0
NOK 0 2330 0
NZD 0 14819 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18515 18515 18872
THB 0 651.3 0
TWD 0 777 0
XAU 8220000 8220000 8390000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 18/04/2024 11:00