Thứ hai 28/05/2018 06:34

Ký ức từ hai thành phố Cảng

08:53 | 23/02/2018

|
Tôi, hồi học phổ thông những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước đã yêu Đà Nẵng. Đà Nẵng là thành phố cảng của miền Nam thương yêu kết nghĩa với thành phố Hải Phòng quê tôi.
ky uc tu hai thanh pho cang
Cảng Hải Phòng hôm nay

Trường cấp III Ngô Quyền của chúng tôi sơ tán về nông thôn xa tít, nhưng các thầy cô cũng mời được một chú bộ đội người Đà Nẵng về kể chuyện thành phố cảng Đà Nẵng, nơi quân Mỹ đổ bộ đầu tiên vào xâm lược nước ta. Chú ấy kể về cảnh đẹp của Non Nước, của đèo Hải Vân. Chú kể cảnh đẹp của Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà. Rồi chú kể về Hội An… Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất đối với lớp trẻ chúng tôi là trận đánh thắng Mỹ đầu tiên của quân ta ở Núi Thành.

Đà Nẵng và Hải Phòng đều được phong là thành phố “Trung dũng kiên cường”. Hai thành phố cảng thân yêu của Tổ quốc luôn hướng ra biển cả. Chúng tôi lớn lên cùng với đồng lúa và biển cả. Vì lúc ấy là chiến tranh, mọi sự đều phải tập trung cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì miền Nam ruột thịt. Người dậy sóng. Biển dậy sóng. Thanh niên Hải Phòng, thanh niên Hà Nội náo nức nhập ngũ hướng vào Sài Gòn - Đà Nẵng, Huế yêu thương để tham gia đánh đế quốc Mỹ.

Tôi khi ấy mới 17, 18 tuổi đã đi lính. Cuộc hành quân bộ của chúng tôi ròng rã 3, 4 tháng trời trên dãy Trường Sơn. Vào đến miền Tây Quảng Nam - Đà Nẵng thì tôi bị sốt rét ác tính, phải nằm lại. Chặng đầu gian nguy và khốc liệt. Sau trận bom B52 rải thảm của Mỹ, chúng tôi tụ họp quanh sĩ quan trẻ oai phong người Quảng Đà đứng trên ụ mối huơ huơ cây ba toong nói rất to: “Ai không thích nhặt ống bơ thì theo tôi”. Từ “nhặt ống bơ” hồi ấy trên đường dây là chỉ những người yếu bóng vía, tìm cách ở lại hậu phương chờ chiến thắng rồi chỉ còn mỗi việc “nhặt ống bơ” sau khi anh em đánh trận, trốn chạy ác liệt khó khăn, tìm nơi dễ sống. Thế là toán lính thu dung chúng tôi vừa thoát chết sau trận B52 nhất loạt ùa lại theo “thủ trưởng”. Sau một chặng hành quân cả tháng trời đói khát, chạy địch càn ác liệt, “thủ trưởng” đưa chúng tôi đến một binh trạm có cái tên là trạm “Chín Cô”. Theo lời đồn đại của quân ra quân vào thì trạm này do 9 cô gái cai quản. Nhưng trạm vắng hoe. “Thủ trưởng” bảo: “Anh phải vô quân khu họp, anh em cứ ở đây, yên tâm hạ balô nghỉ, nấu ăn, mai sẽ có giao liên đến dẫn”.

Tối mịt hôm đó, có 3 chị về thật. Các chị đều vâm váp, khỏe và gùi nặng kinh khủng. Hóa ra đó là những gùi hàng mà các chị mới đi đồng bằng mua về. Các chị rất xởi lời mở gùi lấy ra nhừng gói mì in hình những chú tôm đỏ lừ, những lon cá hộp mà lần đầu chúng tôi mới được nhìn thấy. Rồi cả sữa “Ông Thọ”, mấy chị khui cho chúng tôi uống. Được ăn, được uống no nê, được “xem” các chị nấu bếp rất nhanh và hút thuốc lá rất thiện nghệ. Chúng tôi được các chị cho hút thuốc, thứ thuốc quấn bằng lá nặng kinh khủng. Các chị nói rất nhiều bằng tiếng Quảng, chúng tôi nghe không được, cứ vâng dạ liên hồi, rất vui.

Sau này về đơn vị chiến đấu được một thời gian chúng tôi mới biết các chị đều là… những người cô đơn, không ai có gia đình. Các chị đều là dũng sĩ gùi hàng khỏe nhất của mặt trận. Gùi gạo, gùi đạn, gùi muối, gùi thực phẩm, gùi công văn giấy tờ, thư từ, gùi đạn to đạn nhỏ, và cáng cả thương bệnh binh, đủ các thứ việc đến tay các chị. Không hiểu vì sao các chị khỏe thế. Cấp trên có biết không? Có biết. Cấp dưới như chúng tôi có biết không? Có biết. Nhưng ai cũng biết mà để các chị cứ sống như vậy. Các chị chỉ có mỗi việc gùi hàng và gùi hàng, đi đêm đi ngày, đi tuần nọ sang tháng kia. Sau này tôi mới biết mấy chị còn lại là những người sống sót, vượt qua các căn bệnh phụ nữ, vượt qua các căn bệnh ác độc của chiến tranh bằng ý chí kiên cường và bằng tình yêu quê hương lớn lao. Hồi mấy năm trước đó, đơn vị các chị có hàng vài trăm người. Rồi cứ hao hụt dần, ngày chúng tôi vô đến đây thì chỉ còn 9 chị. Sau ngày 30-4-1975, tôi về Đà Nẵng, đi tìm các chị, nhưng các chị tứ tán mỗi người một nơi. Chị về quê, chị đi tu, chị theo anh chị em bà con… rồi mất. Mất tích và mất tăm mất dạng…

Anh “thủ trưởng” hồi ấy, sau ngày giải phóng, tôi cố tìm hoài mà không gặp được. Nghe nói, anh ấy hy sinh trong một trận đánh ở vùng ven đô. Nhưng lại cũng có tin anh chỉ bị thương nặng, gãy một chân, được chuyển ra Bắc điều trị. Anh đẹp trai, cái dáng rất thanh mảnh và lanh lợi. Anh nói giọng Quảng khi nói chuyện với các chị và nói giọng Bắc khi nói chuyện với cánh tôi. Anh nói tiếng dân tộc mỗi khi vô làng dân tộc dọc đường hành quân. Anh xin, anh đổi gạo, mì với đồng bào. Anh hát tiếng dân tộc với các anh chị du kích và kể chuyện tiếu lâm với chúng tôi khi hành quân nặng nhọc. Vậy mà tôi thật vô tình, mãi sau này tôi vẫn bị ám ảnh vì không biết tên anh, không biết hoàn cảnh gia đình, quê anh cụ thể. Cả cánh lính hơn hai chục thằng đều gọi anh là “thủ trưởng” và anh cũng vui vẻ nhận cái danh ấy.

Trong cả một quãng đời, trưởng thành, đi lính rồi thành nhà văn, tôi thấy mình nặng nợ rất nhiều với hai thành phố biển. Một nơi mình được sinh ra. Một nơi đã tôi luyện, hun đúc nên tâm hồn mình. Tôi nhớ bao nhiêu gương mặt đã đi qua đời mình. Có những người mới chỉ gặp được một lần mà mãi chưa được gặp lại, như các chị, các anh tôi kể ở trên. Các chị, các anh đã thành nỗi nhớ thường trực của tôi…

Trung Trung Đỉnh

Share on Google+