Không nên ưu đãi FDI trong ngành may xuất khẩu!

07:10 | 15/09/2014

1,353 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Những tháng đầu năm 2014, vốn FDI đổ vào ngành dệt may nước ta tăng mạnh dẫn đến việc cạnh tranh giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt trong ngành dệt may càng thêm gay gắt. Về vấn đề này, phóng viên Năng lượng Mới đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP HCM.

Năng lượng Mới số 355

PV: Thưa ông, tại TP HCM, 6 tháng đầu năm vốn đầu tư FDI vào ngành dệt may tăng cao. Tại các khu chế xuất - khu công nghiệp, hơn 80% vốn “ngoại” đổ vào ngành dệt may. Điều này có làm tăng áp lực cạch tranh cho các doanh nghiệp trong nước không?

Ông Phạm Xuân Hồng: Các doanh nghiệp trong nước không ngại cạnh tranh với FDI nhưng phải cạnh tranh công bằng, lành mạnh. Hiện nay, doanh nghiệp FDI được nhiều ưu đãi về thuế, phí, đất đai... trong khi doanh nghiệp trong nước không được hưởng những ưu đãi này. Đó là sự thiếu công bằng.

Nếu khoảng 20 năm trước công nghệ của nước ta còn yếu, lao động phổ thông nhiều, để giải quyết công ăn việc làm cho người dân và phát triển công nghiệp thì kêu gọi FDI ồ ạt bằng mọi giá là có thể chấp nhận được. Nhưng hiện nay kinh tế, xã hội đã có những chuyển biến lớn, vì vậy chính sách kêu gọi đầu tư cũng nên thay đổi cho phù hợp với tình hình.

Đặc biệt, với ngành may mặc xuất khẩu thì không cần có chính sách ưu đãi để kêu gọi đầu tư FDI. Bởi lẽ đầu tư vào ngành này không cần vốn lớn, kỹ thuật không cao, các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn đủ sức đáp ứng yêu cầu thị trường. Nhà nước nên hướng những ưu đãi thu hút FDI vào ngành sợi, dệt, nhuộm... là những ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành may mà các doanh nghiệp trong nước chưa phát triển được.

Không nên ưu đãi FDI trong ngành may xuất khẩu!

Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP HCM

PV: Tình trạng báo lỗ, chuyển giá của FDI có phải cũng đến sự cạnh tranh bất bình đẳng của FDI so với doanh nghiệp trong nước, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Hồng: Doanh nghiệp FDI ở lĩnh vực may mặc ngày càng nhiều và áp đảo sản xuất trong nước. Tỷ lệ doanh nghiệp FDI trong ngành dệt may chiếm trên 60%. Tình trạng chuyển giá, báo lỗ, trốn thuế vẫn chưa được giải quyết triệt để đã tạo sự cạnh tranh không công bằng của FDI với doanh nghiệp Việt ngay trên sân nhà. Có thể thấy, phần lớn doanh nghiệp FDI không báo lãi nhiều. Những năm trước là báo lỗ. Một vài năm gần đây khi Cục Thuế báo động quá thì họ điều chỉnh lại từ lỗ sang huề vốn. Làm so sánh đơn giản, một doanh nghiệp may trong nước lãi 70 tỉ đồng/năm thì phải đóng thuế 15-18 tỉ đồng, trong khi doanh nghiệp FDI cùng quy mô nhưng báo lỗ, không đóng đồng thuế nào cả thì rõ ràng là thua thiệt cho doanh nghiệp Việt.

Các cơ quan quản lý của nước ta kiểm soát không tốt nên mới có chuyện doanh nghiệp FDI chuyển giá, báo lỗ nhiều như thế. Đáng lý, doanh nghiệp nào lỗ 2 năm liên tiếp thì không cho đầu tư thêm nữa. Chứ tại sao doanh nghiệp lỗ mà vẫn cho phép mở rộng? Chúng ta thu hút FDI nhằm mục đích giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và có phần đóng góp về cho ngân sách Nhà nước. Nhưng thực tế, giá lao động nước ta rẻ hơn nhiều nước trong khu vực thì đây là lợi thế để FDI tận dụng thu lợi về cho họ. Trong khi đó, FDI lại báo lỗ, không thu được thuế thì thu hút đầu tư làm gì. Đó là chưa kể chúng ta còn phải gánh chịu một lượng chất thải công nghiệp thải ra môi trường.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp trong Hội cũng phản ảnh chuyện các doanh nghiệp FDI chia nhỏ bậc lương công nhân hơn so với doanh nghiệp Việt của ta. Do đó, họ đóng bảo hiểm xã hội cho công nhân thấp hơn, cũng tạo ra sự bất bình đẳng. Các cơ quan quản lý nên giám sát, làm rõ tình trạng này.

PV: Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế thì FDI đổ vốn mạnh vào ngành dệt may để đón lõng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Theo ông, hiệp định này sẽ đem lại lợi ích như thế nào cho ngành dệt may nước ta?

Ông Phạm Xuân Hồng: Trên lý thuyết thì TPP sẽ mang lại rất nhiều lợi thế cho ngành dệt may, đặc biệt là thuế suất ưu đãi vào thị trường các nước tham gia TPP. Tuy nhiên, chắc gì sau khi TPP có hiệu lực thì chúng ta khai thác được nhiều lợi thế từ hiệp định này bởi muốn được hưởng thuế suất ưu đãi thì nguyên phụ liệu sản xuất phải từ các nước trong TPP. Đó còn là thách thức bởi hiện nay trong nước chưa cung cấp đầy đủ nguyên phụ liệu mà phần lớn nhập khẩu, trong đó có nhập từ Trung Quốc, mà Trung Quốc không tham gia TPP. Cụ thể, tại TP HCM nguồn nguyên phụ liệu trong nước chỉ đáp ứng khoảng 30% cho ngành dệt may xuất khẩu, còn lại phải nhập khẩu, trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm khoảng 50%.

PV: Với Hiệp định TPP, giữa FDI và doanh nghiệp Việt ai được hưởng lợi nhiều hơn, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Hồng: Thực sự nếu nói về TPP thì lợi thế của FDI và doanh nghiệp trong nước không khác gì lắm. Vì FDI cũng nhập nguyên liệu, doanh nghiệp Việt cũng nhập nguyên liệu. Chỉ có khác ở chỗ nếu doanh nghiệp nào đang khai thác được nhiều nguyên liệu từ các nước trong TPP thì sẽ có lợi thế hơn. Còn những doanh nghiệp chỉ mua nguyên liệu từ Trung Quốc sẽ không được hưởng ưu đãi thuế suất.

PV: Vừa qua, Hội đồng Tiền lương Quốc gia đã đề xuất Chính phủ tăng lương tối thiểu vùng năm 2015 lên 15,1% so với năm 2014. Chính sách tăng lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến ngành dệt may như thế nào, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Hồng: Theo tôi biết, hầu hết các doanh nghiệp dệt may đã trả lương thực tế cao hơn lương tối thiểu khá nhiều, bởi nếu cứ trả theo đúng lương tối thiểu thì rất khó để giữ lao động. Vì thị trường lao động cũng có sự cạnh tranh, ai trả thấp, người lao động sẽ bỏ việc. Nhưng như đã nói trên, bảng lương của doanh nghiệp Việt thường được xây dựng cao hơn so với FDI, cho nên khi lương tối thiểu tăng, chi phí mà doanh nghiệp Việt phải đóng sẽ cao hơn doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp dệt may cũng đã ý thức vai trò của người lao động trong sự phát triển của mình bởi đây là ngành sử dụng nhiều lao động, nhưng giải quyết mâu thuẫn giữa chi phí sản xuất và đời sống người lao động sẽ là thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

PV: Có thông tin, gần đây doanh nghiệp dệt may thiếu đơn hàng. Tình trạng này có không, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Hồng: Nhìn chung các doanh nghiệp dệt may đã có kế hoạch sản xuất đến cuối năm, đặc biệt có một số doanh nghiệp có kế hoạch sản xuất đến giữa năm 2015. Nhưng vẫn còn một số doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, kế hoạch sản xuất chưa ổn định, có thời điểm thiếu nhưng cũng không nhiều. Hội Dệt may thêu đan TP HCM khuyến khích các doanh nghiệp đưa thông tin sản xuất về cho hội để hội có biện pháp liên kết doanh nghiệp cùng hỗ trợ lẫn nhau vượt qua khó khăn, đẩy mạnh sản xuất. Trong tình hình hiện nay làm may mặc cũng không có lợi nhuận bao nhiêu, vì phần lớn vẫn là làm gia công, giá trị gia tăng không cao, nhưng nhìn cơ bản trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thì ngành may vẫn tương đối ổn định.

PV: Xin cảm ơn ông!

Mai Phương (thực hiện)

 

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 81,800 ▼200K 84,000
AVPL/SJC HCM 81,800 ▼200K 84,000
AVPL/SJC ĐN 81,800 ▼200K 84,000
Nguyên liệu 9999 - HN 73,250 ▼200K 74,200 ▼200K
Nguyên liệu 999 - HN 73,150 ▼200K 74,100 ▼200K
AVPL/SJC Cần Thơ 81,800 ▼200K 84,000
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 73.000 74.800
TPHCM - SJC 82.300 84.300
Hà Nội - PNJ 73.000 74.800
Hà Nội - SJC 82.300 84.300
Đà Nẵng - PNJ 73.000 74.800
Đà Nẵng - SJC 82.300 84.300
Miền Tây - PNJ 73.000 74.800
Miền Tây - SJC 82.000 ▼500K 84.300 ▼200K
Giá vàng nữ trang - PNJ 73.000 74.800
Giá vàng nữ trang - SJC 82.300 84.300
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 73.000
Giá vàng nữ trang - SJC 82.300 84.300
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 73.000
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 72.900 73.700
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 54.030 55.430
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 41.870 43.270
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 29.410 30.810
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,305 ▼15K 7,510 ▼15K
Trang sức 99.9 7,295 ▼15K 7,500 ▼15K
NL 99.99 7,300 ▼15K
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,280 ▼15K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,370 ▼15K 7,540 ▼15K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,370 ▼15K 7,540 ▼15K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,370 ▼15K 7,540 ▼15K
Miếng SJC Thái Bình 8,230 ▼10K 8,430 ▼10K
Miếng SJC Nghệ An 8,230 ▼10K 8,430 ▼10K
Miếng SJC Hà Nội 8,230 ▼10K 8,430 ▼10K
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 82,000 ▼500K 84,300 ▼200K
SJC 5c 82,000 ▼500K 84,320 ▼200K
SJC 2c, 1C, 5 phân 82,000 ▼500K 84,330 ▼200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 73,100 74,800 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 73,100 74,900 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 72,900 74,000 ▼100K
Nữ Trang 99% 71,267 ▼99K 73,267 ▼99K
Nữ Trang 68% 47,975 ▼68K 50,475 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 28,511 ▼42K 31,011 ▼42K
Cập nhật: 25/04/2024 22:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,132.31 16,295.26 16,818.06
CAD 18,084.86 18,267.53 18,853.61
CHF 27,078.76 27,352.28 28,229.82
CNY 3,428.68 3,463.32 3,574.97
DKK - 3,581.24 3,718.38
EUR 26,509.78 26,777.56 27,963.40
GBP 30,937.15 31,249.64 32,252.22
HKD 3,157.93 3,189.82 3,292.16
INR - 303.56 315.69
JPY 158.10 159.69 167.33
KRW 15.97 17.75 19.36
KWD - 82,247.73 85,536.02
MYR - 5,254.14 5,368.74
NOK - 2,269.41 2,365.76
RUB - 261.89 289.91
SAR - 6,745.43 7,015.11
SEK - 2,290.51 2,387.76
SGD 18,188.62 18,372.35 18,961.78
THB 605.39 672.66 698.42
USD 25,137.00 25,167.00 25,477.00
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,155 16,175 16,775
CAD 18,186 18,196 18,896
CHF 27,227 27,247 28,197
CNY - 3,429 3,569
DKK - 3,551 3,721
EUR #26,295 26,505 27,795
GBP 31,102 31,112 32,282
HKD 3,108 3,118 3,313
JPY 158.75 158.9 168.45
KRW 16.22 16.42 20.22
LAK - 0.69 1.39
NOK - 2,225 2,345
NZD 14,788 14,798 15,378
SEK - 2,248 2,383
SGD 18,063 18,073 18,873
THB 631.03 671.03 699.03
USD #25,070 25,070 25,477
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,150.00 25,155.00 25,475.00
EUR 26,606.00 26,713.00 27,894.00
GBP 30,936.00 31,123.00 32,079.00
HKD 3,170.00 3,183.00 3,285.00
CHF 27,180.00 27,289.00 28,124.00
JPY 158.79 159.43 166.63
AUD 16,185.00 16,250.30 16,742.00
SGD 18,268.00 18,341.00 18,877.00
THB 665.00 668.00 694.00
CAD 18,163.00 18,236.00 18,767.00
NZD 14,805.00 15,299.00
KRW 17.62 19.25
Cập nhật: 25/04/2024 22:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25155 25155 25477
AUD 16349 16399 16909
CAD 18342 18392 18848
CHF 27509 27559 28112
CNY 0 3463.6 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3540 0
EUR 26943 26993 27703
GBP 31492 31542 32200
HKD 0 3140 0
JPY 160.89 161.39 165.9
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.0381 0
MYR 0 5445 0
NOK 0 2260 0
NZD 0 14917 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18446 18496 19057
THB 0 644.5 0
TWD 0 779 0
XAU 8250000 8250000 8420000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 25/04/2024 22:45