Thứ ba 25/04/2017 21:34

Đông Nam Á trước những thách thức tự do hàng hải và bay ngang

07:08 | 13/03/2017

|
Chuyên gia Euan Graham - Giám đốc Chương trình An ninh quốc tế, tập trung vào các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, chương trình phổ biến vũ khí hạt nhân, tái cân bằng của Mỹ sang châu Á, thuộc Viện Chính sách quốc tế Lowy (Australia) mới đây đã có bài phân tích về những khác biệt trong quan điểm về tự do hàng hải và bay ngang của các nước Đông Nam Á. 

Khi chính quyền mới của Mỹ cân nhắc phản ứng như thế nào trước những thách thức chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, nước này cũng đang phải vật lộn với những phức tạp về luật pháp, chính trị và hành động trong vấn đề tự do di chuyển. Một chiến lược tập trung vào Trung Quốc không nên làm lu mờ sự khác biệt đáng kể giữa các nước Đông Nam Á trong vấn đề bay ngang và đưa tàu quân sự, đồng thời hạn chế sự ủng hộ tiềm tàng của họ.

Sự cứng rắn của Trung Quốc và chặn tàu, máy bay của Mỹ tiến hành hoạt động giám sát trong khu vực 200 hải lý ngoài vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là điểm va chạm trong quan hệ Mỹ - Trung, diễn ra trước khi Trung Quốc thực thi chiến dịch cải tạo đảo ở Biển Đông. Bắc Kinh không thừa nhận hoạt động giám sát như vậy là hợp pháp, mặc dù Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 cho phép.

dong nam a truoc nhung thach thuc tu do hang hai va bay ngang
Bắt đầu từ ngày 18-2-2017, tàu sân bay USS Carl Vinson của Hải quân Mỹ tiến hành tuần tra tự do hàng hải trên Biển Đông

Gần đây hơn, Bắc Kinh phản đối mạnh mẽ hoạt động tự do hàng hải (FONOP) do Hải quân Mỹ tiến hành ở Biển Đông, kể từ tháng 10-2015, nhằm thách thức tuyên bố lãnh hải quá mức của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Những hoạt động này, theo chuyên gia Euan Graham, thực chất không nhằm vào vùng chủ quyền tranh chấp và không gây được tác động khiến Trung Quốc thay đổi, hay ngừng xây dựng các đảo nhân tạo. Sự thất thường của Chính quyền Obama, ngay từ đầu cách tiếp cận tự do hàng hải không được xác định rõ ràng, đã bị chỉ trích và ngày càng gia tăng kể từ đó tới nay.

Trung Quốc được cho là đang sửa đổi luật pháp, theo đó ngăn cản các tàu chiến “không mời” đi vào vùng lãnh hải nước này. Trong khi đó, phạm vi địa lý mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông rất nhập nhằng, mặc dù bị Tòa trọng tài quốc tế bác bỏ vào tháng 7-2016. Hiện có nhiều quan ngại về việc Trung Quốc có thể tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.

Trong khi sự tập trung tiếp tục nhằm vào Trung Quốc là có thể hiểu được, kết quả là yêu cầu chủ quyền và hạn chế di chuyển của các nước Đông Nam Á có biển không được chú ý đúng mức. Do đó, trên thực tế, FONOP của Mỹ ở Biển Đông là thách thức đối với cả các nước Đông Nam Á tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này và Trung Quốc.

Ở Đông Nam Á chỉ có Singapore và Brunei, hai quốc gia nhỏ với tuyên bố chủ quyền lãnh hải hạn chế, có quan điểm về tự do hàng hải gần gũi với các nước phương Tây. Các nước còn lại có nhiều quan điểm khác nhau, kể cả những nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.

Đầu tiên, hành động của Việt Nam vạch thẳng đường cơ bản (12 hải lý) là một trong những nước xuất sắc nhất trong khu vực Đông Nam Á, khẳng định lãnh hải theo đường bờ biển và đang theo định hướng đúng là dần đưa tình trạng lãnh hải của mình phù hợp với luật pháp quốc tế. Việt Nam không phản đối FONOP của Mỹ và kiên định quyền tự do đi lại vô hại trong vùng biển chủ quyền của mình.

Hai là, Indonesia, cùng với Philippines, là nước hưởng lợi chính theo UNCLOS 1982. Cả hai thừa nhận là các quốc gia quần đảo và cho phép mình vẽ đường cơ bản bên ngoài đảo xa nhất của mình và vùng nước đi kèm như vùng biển chủ quyền. Đổi lại, theo UNCLOS, các nước quần đảo không bị hạn chế đưa tàu và máy bay vào các tuyến đường biển, song Jakarta và Manila mới chỉ thực hiện một phần.

Lúc đầu, phản ứng của Indonesia với các FONOP gần đây của Mỹ là rất lạnh nhạt, do ảnh hưởng bởi sự lo ngại về các hoạt động quân sự nước ngoài trong quần đảo. Tuy nhiên, Tổng thống Indonesia Widodo mới đây bày tỏ sẵn sàng thảo luận về tuần tra chung ở Biển Đông với Thủ tướng Australia Turnbull là không đúng với những suy nghĩ sâu xa của nước này.

Indonesia được cho là lập kế hoạch cho ADIZ của mình vào năm ngoái. ADIZ không mang tính áp đặt luật quốc tế, vốn được lập ra từ thời kỳ đầu chiến tranh lạnh, một biện pháp cảnh báo phân biệt các máy bay bình thường và máy bay của địch vào không phận quốc gia.

Trong khi đó, Philippines là nước duy nhất ở Đông Nam Á có ADIZ chính thức, song trong nhiều năm lại thiếu máy bay để thực thi. Ngay cả khi Indonesia tuyên bố ADIZ thì khả năng kiềm chế tương tự cũng giới hạn. Tuy nhiên, hậu quả chính trị sẽ rất nghiêm trọng. Tuyên bố ADIZ sẽ khiến các láng giềng của nước này lo lắng, kể cả Australia, có thể là cả Mỹ trong bối cảnh nước này triển khai máy bay ném bom từ phía Bắc Australia. Tồi tệ hơn cả, Trung Quốc sẽ được trao cơ hội vàng để phản ứng lại bằng tuyên bố ADIZ của mình ở Biển Đông với nhiều ngụ ý chiến lược hơn.

Ba là, Singapore là một trong những nước lo lắng về khả năng hạn chế bay ngang và đưa tàu quân sự đang được Malaysia cân nhắc. Kể từ khi phê chuẩn UNCLOS 1982, Kuala Lumpur đã tuyên bố quyền hạn chế các hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ, trong khi vẫn duy trì đường cơ sở thẳng gây tranh cãi của họ. Cụ thể, Malaysia đã thông qua đạo luật đường cơ sở vào năm 2006, nhằm mục đích sửa lại đường cơ sở nhưng vẫn chưa thông báo chính thức về đường cơ sở được sửa đổi theo như yêu cầu của Điều 16 của Công ước. Tính pháp lý của một số đường cơ sở được đề cập đến, dựa trên bản đồ công bố năm 1979 về lãnh hải và thềm lục địa của Malaysia đã bị chỉ trích.

Công bằng mà nói, Malaysia duy trì có trách nhiệm đi lại quốc tế và an toàn ở eo biển Malacca. Tuy nhiên, có quan ngại rằng, nước này có kế hoạch hạn chế bất hợp pháp di chuyển của tàu ngầm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình và hạn chế quân đội tiếp cận không phận xung quanh. Điều này không chỉ là quan ngại từ phía Singapore mà cả các đối tác của Malaysia trong nhóm Thỏa thuận quốc phòng 5 nước (FPDA), kể cả Australia, nước tham gia bay giám sát trên biển và thường xuyên tham gia các cuộc tập trận thông thường của FDFA mở rộng ở Biển Đông.

Do đó, Mỹ và các đối tác gặp phải nhiều thách thức lớn nếu muốn giành được sự ủng hộ về một trật tự khu vực mà ở đó coi trọng việc quân đội nước ngoài đưa tàu và máy bay đi qua Đông Nam Á. Quan ngại không chỉ là tức giận của Trung Quốc làm gia tăng sự thận trọng ở Biển Đông. Các quốc gia Đông Nam Á ngày một lo ngại Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông, song mong muốn hợp tác tự do hàng hải vẫn còn e ngại bởi sự nghi ngờ của các nước láng giềng cũng như lo lắng kéo dài về sự can dự của các cường quốc biển phương Tây.

Linh Phương