Đoàn công tác Quốc hội đến làm việc với Vinamilk

13:53 | 30/06/2015

367 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Ngày 29/6/2015, tại trụ sở làm việc của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk), đoàn công tác của Quốc hội do đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng đoàn đã đến làm việc với Vinamilk

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội yêu cầu công ty báo cáo: Tình hình thực hiện tái cơ cấu của Công ty cổ phần sữa Việt Nam theo Đề án đã được phê duyệt; những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ sau cổ phần hóa; những kiến nghị, đề xuất về cơ chế, chính sách pháp luật

Thực hiện yêu cầu của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, lãnh đạo Vinamilk đã báo cáo cho đoàn kết quả thực hiện đề án cổ phần hóa công ty từ năm 2003, kết quả sản xuất kinh doanh của công ty từ sau khi cổ phần hóa đến nay, những khó khăn tồn tại cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách.

Trong 12 năm kể từ khi cổ phần hóa vào cuối năm 2003 Vinamilk đã đạt được những kết quả ấn tượng. Năm 2004, một năm sau khi Vinamilk cổ phần hóa, doanh thu của công ty là 4,227 tỷ đồng, thì đến năm 2014, sau 10 năm cổ phần hóa, tổng doanh thu của Vinamilk đã đạt 34.977 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân về mặt doanh thu khoảng 22% mỗi năm, tăng gấp 8,3 lần so với năm 2004, tổng số tiền nộp ngân sách nhà nước là gần 19.000 tỷ đồng. Kế hoạch doanh thu của Vinamilk đã được Đại hội Cổ đông thông qua trong năm 2015 sẽ đạt 38.424 tỷ đồng.

Đoàn công tác Quốc hội đến làm việc với Vinamilk

Đoàn công tác của Quốc hội đến làm việc tại Vinamilk

Về vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của Vinamilk cũng tăng trưởng mạnh và tốt, tăng gấp 10 lần so với năm 2004. Trong đó, vốn điều lệ của công ty tăng từ 1.569 tỷ đồng lên hơn 10.000 tỷ đồng. Vốn hóa thị thường của Vinamilk hiện nay khoảng hơn 5 tỷ USD, đứng thứ 2 trên thị trường chứng khoán Việt Nam sau 10 năm cổ phần hóa.

Hiện tại, Vinamilk hiện cũng là công ty sữa lớn nhất Việt Nam và nắm giữ hơn 50% thị phần với một danh mục sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng ở mọi lứa tuổi như: sữa nước, sữa chua uống, sữa chua ăn, sữa bột và bột dinh dưỡng, sữa đặc, kem, nước giải khát…

Hiện Vinamilk chiếm khoảng 53% thị phần ngành hàng sữa nước, 84% thị phần sữa chua và 80% thị phần sữa đặc. Vinamilk cũng có hệ thống phân phối bán hàng rộng khắp Việt Nam, sản phẩm Vinamilk hiện có mặt tại hơn 212.000 điểm bán lẻ, 100 cửa hàng giới thiệu sản phẩm của chính công ty, và 650 siêu thị trên toàn quốc.

Không chỉ lớn mạnh ở thị trường trong nước, Vinamilk còn không ngừng phát triển thị trường xuất khẩu. Hiện Vinamilk đã xuất sản phẩm đi hơn 31 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng hơn 200 triệu USD Mỹ. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Đông và Châu Á. Vinamilk đang tiếp tục tìm kiếm và mở rộng thị trường sang Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ… Doanh thu xuất khẩu chiếm tỷ lệ từ 8% - 24% tổng doanh thu hợp nhất của Vinamilk. Tốc độ tăng trưởng bình quân của xuất khẩu là 17%/năm trong 10 năm qua. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sữa bột và sữa đặc.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Chủ tịch Quốc hội phát biểu tại buổi làm việc

Về việc phát triển vùng nguyên liệu, hiện nay, tổng đàn bò bao gồm từ trang trại của Vinamilk và bà con nông dân có ký kết hợp đồng bán sữa cho Vinamilk là hơn 90.000 con bò, mỗi ngày cung cấp khoảng 650 tấn sữa bò tươi nguyên liệu. Vinamilk hiện có 7 trang trại đang hoạt động và đang xây dựng 2 trang trại mới với qui mô tổng đàn khoảng 24.000 con. Tất cả bò của Vinamilk là bò cao sản và được nhập hầu hết từ Úc, Mỹ. Sản lượng và giá trị Vinamilk thu mua sữa tươi nguyên liệu cho nông dân trong nước cũng liên tục tăng cao. Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong 8 năm (từ năm 2007 đến năm 2014) là 8,4% về sản lượng và 21,8% về giá trị. Tổng số tiền Vinamilk trợ giá cho nông dân làm thay vai trò của Nhà nước trong 8 năm này là gần 1.900 tỷ đồng.

Đoàn công tác Quốc hội đến làm việc với Vinamilk

Bà Mai Kiều Liên – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám Đốc Vinamilk báo cáo với đoàn công tác về kết quả thực hiện đề án cổ phần hóa Vinamilk từ năm 2003 đến nay

Lãnh đạo Vinamilk cũng đã chia sẻ những vướng mắc, khó khăn hiện tại của công ty về cơ chế chính sách và kiến nghị: Vinamilk là một công ty cổ phần đại chúng niêm yết có vốn đầu tư của nhà nước, mong muốn có một cơ chế quản lý vốn nhà nước được vận hành phù hợp Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Điều lệ công ty và các thực hành quản trị tốt. Vinamilk tha thiết kiến nghị Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chỉ đạo xem xét sửa đổi Quy chế Người đại diện vốn nhà nước cho đúng với Nghị định 99/2012/NĐ-CP và Thông tư 21/2014/TT-BTC của Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành. Trong đó, vai trò của Người đại diện, vai trò thành viên HĐQT và mối quan hệ với doanh nghiệp có vốn đầu tư được xác lập và thực hiện một cách phù hợp, tách bạch và rõ ràng trên cơ sở tuân thủ các quan điểm, nguyên tắc của pháp luật, đảm bảo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, tránh cơ chế xin cho và làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp cổ phần có vốn của Nhà nước.

Đồng thời, theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 sẽ có hiệu lực vào 01/07/2015, có quy định Người đại diện phải báo cáo, xin ý kiến của doanh nghiệp cử đại diện trước khi tham gia ý kiến, biểu quyết và quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên trong tất cả các trường hợp mà không có sự phân chia về tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước như Nghị định 99 và Thông tư 21. Điều này sẽ tiếp tục dẫn đến các khó khăn cho doanh nghiệp như đã nêu trên. Do đó, Vinamilk rất mong Quốc hội xem xét lại điều khoản này để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay cho doanh nghiệp trước khi Luật này có hiệu lực và áp dụng vào thực tiễn. Xem xét về tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước trong công ty cổ phần ở một mức hợp lý để hài hòa lợi ích các bên liên quan, đặc biệt là trong các công ty cổ phần đang có tỷ lệ vốn nhà nước lớn mà Nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ vốn lớn như ngành sữa, thực phẩm.

P.V

  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 81,650 83,650
AVPL/SJC HCM 81,700 83,700
AVPL/SJC ĐN 81,700 83,700
Nguyên liệu 9999 - HN 75,000 76,100
Nguyên liệu 999 - HN 74,900 76,000
AVPL/SJC Cần Thơ 81,650 83,650
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 74.800 76.800
TPHCM - SJC 81.800 83.800
Hà Nội - PNJ 74.800 76.800
Hà Nội - SJC 81.800 83.800
Đà Nẵng - PNJ 74.800 76.800
Đà Nẵng - SJC 81.800 83.800
Miền Tây - PNJ 74.800 76.800
Miền Tây - SJC 82.000 83.800
Giá vàng nữ trang - PNJ 74.800 76.800
Giá vàng nữ trang - SJC 81.800 83.800
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 74.800
Giá vàng nữ trang - SJC 81.800 83.800
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 74.800
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 74.700 75.500
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 55.380 56.780
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.920 44.320
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.160 31.560
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,465 7,670
Trang sức 99.9 7,455 7,660
NL 99.99 7,460
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,530 7,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,530 7,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,530 7,700
Miếng SJC Thái Bình 8,190 8,370
Miếng SJC Nghệ An 8,190 8,370
Miếng SJC Hà Nội 8,190 8,370
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 81,800 83,800
SJC 5c 81,800 83,820
SJC 2c, 1C, 5 phân 81,800 83,830
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 74,800 76,700
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 74,800 76,800
Nữ Trang 99.99% 74,700 76,000
Nữ Trang 99% 73,248 75,248
Nữ Trang 68% 49,335 51,835
Nữ Trang 41.7% 29,345 31,845
Cập nhật: 20/04/2024 03:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,781.47 15,940.87 16,452.24
CAD 17,962.12 18,143.56 18,725.59
CHF 27,431.25 27,708.34 28,597.19
CNY 3,438.94 3,473.67 3,585.64
DKK - 3,552.42 3,688.45
EUR 26,307.40 26,573.13 27,749.81
GBP 30,708.07 31,018.25 32,013.29
HKD 3,165.97 3,197.95 3,300.53
INR - 302.93 315.05
JPY 160.50 162.12 169.87
KRW 15.82 17.58 19.18
KWD - 82,281.90 85,571.24
MYR - 5,255.57 5,370.18
NOK - 2,249.33 2,344.82
RUB - 257.39 284.93
SAR - 6,760.49 7,030.75
SEK - 2,259.94 2,355.88
SGD 18,152.89 18,336.25 18,924.46
THB 609.62 677.36 703.30
USD 25,133.00 25,163.00 25,473.00
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,981 16,001 16,601
CAD 18,171 18,181 18,881
CHF 27,422 27,442 28,392
CNY - 3,442 3,582
DKK - 3,537 3,707
EUR #26,203 26,413 27,703
GBP 30,917 30,927 32,097
HKD 3,116 3,126 3,321
JPY 160.29 160.44 169.99
KRW 16.24 16.44 20.24
LAK - 0.7 1.4
NOK - 2,224 2,344
NZD 14,703 14,713 15,293
SEK - 2,249 2,384
SGD 18,106 18,116 18,916
THB 637 677 705
USD #25,150 25,150 25,473
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,170.00 25,172.00 25,472.00
EUR 26,456.00 26,562.00 27,742.00
GBP 30,871.00 31,057.00 32,013.00
HKD 3,176.00 3,189.00 3,292.00
CHF 27,361.00 27,471.00 28,313.00
JPY 160.49 161.13 168.45
AUD 15,933.00 15,997.00 16,486.00
SGD 18,272.00 18,345.00 18,880.00
THB 671.00 674.00 701.00
CAD 18,092.00 18,165.00 18,691.00
NZD 14,693.00 15,186.00
KRW 17.52 19.13
Cập nhật: 20/04/2024 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25245 25295 25470
AUD 16131 16181 16583
CAD 18297 18347 18753
CHF 27805 27855 28267
CNY 0 3479 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3540 0
EUR 26851 26901 27412
GBP 31459 31509 31976
HKD 0 3140 0
JPY 162.71 163.21 167.75
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.3 0
LAK 0 1.0396 0
MYR 0 5440 0
NOK 0 2260 0
NZD 0 14795 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18528 18528 18889
THB 0 649.9 0
TWD 0 779 0
XAU 8200000 8200000 8370000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 20/04/2024 03:00