Thứ sáu 15/12/2017 04:06

Dầu mỏ, Tiền bạc và Quyền lực (Kỳ 34)

21:26 | 12/10/2017

|
Sự thù địch giữa hoàng gia Iran và những tín đồ chính thống của dòng hồi giáo Shiite bắt đầu kể từ cuộc chiến tranh giành quyền lực của Reza Shah và tu sĩ dòng Shiite vào những năm 1920 và 1930 và là một phần của một cuộc chiến lớn hơn nhiều giữa lực lượng tôn giáo và bình dân.

CHƯƠNG 33: CÚ SỐC THỨ HAI - ĐẠI KHỦNG HOẢNG

Một tuần sau khi Jimmy Carter rời khỏi Iran, một tờ báo của Tehran đăng tải bài báo công kích một phần tử đối lập với vua Iran, một tín đồ lâu năm thuộc dòng Shiite tên là Ayatollah Ruhollah Khomeini, người sau này sống lưu vong ở Iraq. Mặc dù không ghi rõ tên, nhưng bài báo này có vẻ là của một quan chức trong chính quyền của vua Iran. Có lẽ chuyến thăm của Carter đã củng cố niềm tin đang bị lung lay. Tất nhiên bài báo làm gia tăng sự giận dữ đối với những cuộc tấn công của Khomeini vào chính quyền vua Iran, cuộc tấn công lan truyền bí mật bằng băng cát-xét trên khắp Iran.

Sự thù địch giữa hoàng gia Iran và những tín đồ chính thống của dòng hồi giáo Shiite bắt đầu kể từ cuộc chiến tranh giành quyền lực của Reza Shah và tu sĩ dòng Shiite vào những năm 1920 và 1930 và là một phần của một cuộc chiến lớn hơn nhiều giữa lực lượng tôn giáo và bình dân. Nhưng bài báo đăng ngày 7 tháng 1 năm 1978 này đã châm ngòi cho một giai đoạn hoàn toàn mới của cuộc chiến đó.

dau mo tien bac va quyen luc ky 34
Tehran - Iran năm 1970

Sự vỡ mộng và đối lập

Đến giữa những năm 1970, rõ ràng là Iran không thể kịp thời thích ứng với nguồn tăng lớn từ doanh thu dầu mỏ đang đổ vào nước này. Những đồng đô-la dầu mỏ đã được tiêu xài phung phí cho chương trình hiện đại hóa hoang tưởng hoặc bị lãng phí và tham nhũng. Điều này đã tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội và căng thẳng chính trị sâu sắc trên cả nước. Dân nông thôn đổ ra thành thị vốn đã đông đúc, sản lượng nông nghiệp giảm, trong khi nhập khẩu lương thực ngày càng tăng. Lạm phát vượt mức kiểm soát, càng làm người dân bất bình. Một quản lý bậc trung hoặc công chức bình thường ở Tehran phải chi khoảng 70% lương cho tiền thuê nhà. Cơ sở hạ tầng của Iran không thể đáp ứng được sức ép đột ngột; hệ thống đường ray lạc hậu bị quá tải; đường phố Tehran luôn bị tắc nghẽn giao thông. Mạng lưới điện lực quốc gia không thể đáp ứng nổi nhu cầu và thường xuyên hỏng hóc. Một phần của Tehran và các thành phố khác thường xuyên bị mất điện, có lúc đến 4-5 tiếng một ngày, một thảm họa đối với sản xuất công nghiệp và cuộc sống của người dân, tạo nên sự giận dữ và bất mãn.

Người Iran thuộc mọi ngành nghề đã mất lòng kiên nhẫn đối với chế độ của vua Iran và công cuộc hiện đại hóa hỗn độn. Họ tin chắc về một viễn cảnh hỗn loạn nên ngày càng lưu tâm đến Hồi giáo truyền thống và lời kêu gọi của trào lưu chính thống. Người được lợi chính là Ayatollah Khomeini, với thái độ tôn giáo đúng đắn và sự kháng cự kiên cường ông đã trở thành hiện thân của sự đối lập đối với vua Iran và chính quyền của ông ta cũng như đối với đặc trưng của Iran vào giữa những năm 1970. Sinh ra vào khoảng năm 1900 ở một thị trấn nhỏ cách Tehran 180 dặm, Khomeini xuất thân từ một gia đình truyền giáo. Bố mất sau khi ông chào đời vài tháng. Một số người nói rằng bố ông bị một quan chức chính phủ giết trên đường hành hương. Mẹ ông chết khi ông còn nhỏ. Khomeini quay sang học về tôn giáo, và đến những năm 1930 và 1940, ông là một giảng sư nổi tiếng về luật và triết học Hồi giáo, truyền bá tư tưởng về một nước Cộng hòa Hồi giáo dưới sự kiểm soát chặt chẽ của giới tăng lữ.

Trong nhiều năm, Khomeini coi chính quyền của dòng họ Pahlavi là tham nhũng và bất hợp pháp. Nhưng mãi đến độ tuổi 60, ông mới thật sự tham gia vào chính trường, khi nổi lên là một nhân vật lãnh đạo cuộc chống đối "Cuộc Cách mạng trắng" − chương trình cải cách của vua Iran. Năm 1962, Khomeini bày tỏ sự bất bình đối với đề xuất ghế trong các hội đồng địa phương không giới hạn với các nam tín đồ đạo Hồi. Khi chính phủ phân phối lại các tài sản lớn, bao gồm cả tài sản của giới tăng lữ dòng họ Shiite, theo chương trình của cuộc Cách mạng trắng, Khomeini là một trong những thành phần tiên phong chống đối bất khuất nhất. Ông phải ngồi tù không chỉ một lần và cuối cùng sống lưu vong ở Iraq. Lòng hận thù của ông từ Iraq biến thành những cuộc báo thù đổ máu, dường như ông bị điều khiển bởi một cơn giận dữ khủng khiếp, và bản thân ông trở thành điểm tập hợp của sự bất mãn ngày càng tăng. Lời nói của những giáo sĩ Ayatollah ôn hòa hơn đã bị áp đảo bởi lời kêu gọi gay gắt và không khoan nhượng của Khomeini. Một chiều hướng chống đối khác cũng nổi lên.

Khi Jimmy Carter trở thành ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ và sau đó thành tổng thống năm 1976, nhân quyền trở thành vấn đề chính trong chính sách ngoại giao của Mỹ, trong khi đó, hồ sơ về vua Iran trong vấn đề nhân quyền không được tốt. Theo quan điểm của Mỹ, đây là điều điển hình ở hầu hết các nước thế giới thứ ba, và tình hình nhân quyền ở Iran chỉ tốt hơn một vài nước trong khu vực. Một thành viên của Ủy ban luật sư quốc tế, người chỉ trích mạnh mẽ chính quyền vua Iran, và điều tra tình hình nhân quyền ở Iran năm 1976, kết luận rằng vua Iran "tụt xuống cuối danh sách các bạo chúa. Thậm chí ông ta sẽ chẳng thể lên nổi tốp đầu của danh sách này". Ngoài ra, Savak, tổ chức cảnh sát mật của Iran, là một cơ quan tàn bạo, mau mắn và đặc biệt độc ác trong việc tra khảo: họ nhẫn tâm, ngu ngốc, chuyên quyền và độc đoán. Điều này không hề phù hợp với hình ảnh của nền văn minh vĩ đại, một Iran đang theo đuổi tham vọng trở thành một cường quốc thế giới. Vì vậy, hồ sơ về nhân quyền của Iran trở nên rõ ràng hơn và được báo cáo nhiều hơn so với các nước đang phát triển khác, khiến lòng hận thù ngày càng tăng, cả ở trong và ngoài nước, đối với vua Iran và chính quyền của ông ta. Bản thân vua Iran cũng thấy áp lực căng thẳng của Mỹ đối với vấn đề nhân quyền, và mỉa mai thay, khi sự phê phán gia tăng, ông ta quyết định xúc tiến công cuộc tự do hóa chính trị.

"Hành động 40-40"

Những lời cổ động của Khomeini châm ngòi cho một làn sóng giận dữ mới vào cuối năm 1977, khi con trai cả của ông bị giết trong một hoàn cảnh bí ẩn. Vụ sát hại này bị cho là do Savak tiến hành. Sau đó là sự xuất hiện của bài báo nói trên vào ngày 7 tháng 1 năm 1978. Nó nhạo báng Khomeini, chất vấn về phẩm chất và những lợi ích tôn giáo của ông, nghi ngờ quốc tịch Iran của ông và buộc tội ông về những hành động trái đạo đức, bao gồm cả việc nêu ra ông là tác giả của một bài thơ tình khi còn trẻ. Tác giả công kích việc Khomeini châm ngòi nổi loạn ở Thánh địa Qom, quê hương tinh thần của ông. Quân lính được gọi đến và những người biểu tình bị giết chết. Sự náo loạn ở Qom tạo nên một trận chiến mới giữa phe lãnh tụ Hồi giáo và chính phủ, tạo nên một hình thái rất đặc biệt. Nhánh Shiite của đạo Hồi tổ chức tang lễ trong 40 ngày. Theo kế hoạch, kết thúc tang lễ, những cuộc biểu tình mới sẽ nổ ra và sẽ có thêm người chết, thêm đám tang, và sau đó, sau 40 ngày, lại thêm biểu tình và thêm người chết. Một lãnh đạo của cuộc biểu tình không ngừng nghỉ sau này gọi nó là "hành động 40-40". Cuộc nổi loạn và biểu tình lan khắp nước, với nhiều thảm kịch hơn, nhiều người chết và nhiều kẻ tử vì đạo hơn.

Những cuộc tấn công của cảnh sát và quân đội vào những người biểu tình chỉ càng làm tăng số người phản đối chế độ của vua Iran. Việc ngừng trợ cấp cho dòng Shiite lại càng làm giới tăng lữ của dòng này xa lánh chính phủ và thêm giận dữ. Sự đối lập công khai trở thành một phần của đời sống quốc gia. Nhưng trong nửa đầu năm 1978 tình hình lắng xuống. Theo lời Shah với đại sứ Anh, tình hình nghiêm trọng, nhưng ông quyết tâm đẩy mạnh tự do hóa. Kẻ thù không đội trời chung của ông ta và cũng là kẻ mạnh nhất là các giáo sĩ Hồi giáo, vì họ đã chiếm được lòng tin của đông đảo quần chúng. Ông ta nói: "Tôi sẽ không thỏa hiệp với họ. Đây là cuộc chiến không khoan nhượng và sẽ phải có người thua kẻ thắng." Và vua Iran tin chắc vào phần thắng của mình.

Chính quyền Mỹ cũng vậy, gần như ai nghĩ rằng chính quyền của vua Iran có thể sụp đổ. Rõ ràng Washington không hề nghĩ đến bất cứ sự thay thế nào. Vị Shah đầy quyền lực của Iran đã ngồi trên ngai vàng được 37 năm. Ông ta đã được đón tiếp trên khắp thế giới. Ông ta đang hiện đại hóa đất nước. Iran đã là một trong hai cường quốc dầu lửa của thế giới, với khối tài sản vượt xa bất kỳ điều gì mà nước này có được vài năm về trước. Ông ta là một đồng minh chính yếu, là sen đầm khu vực ở một vùng trọng yếu, một "trụ cột lớn". Làm sao ông ta có thể bị lật đổ? Hoạt động tình báo của Mỹ ở Iran bị hạn chế vì càng ngày càng phụ thuộc hơn vào vua Iran nên Mỹ hạn chế chọc giận ông ta bằng cách tìm hiểu xem điều gì đang xảy ra trong nhóm đối lập mà ông ta khinh thường. Ở Washington, số người có khả năng phân tích tình hình Iran rất ít. Dường như Chính phủ Mỹ không có nhu cầu sử dụng hoạt động tình báo để phân tích tính ổn định của chính quyền vua Iran, vì họ cho rằng không cần thiết hoặc vì họ sợ rằng, ở một mức độ nào đó kết luận sẽ không mang lại điều gì dễ chịu. Một nhà phân tích tình báo đã nhận xét: Bạn không thể để lộ hoạt động tình báo về Iran.

Cộng đồng tình báo Mỹ đã đấu tranh trong suốt năm 1978 để thành lập Cơ quan dự đoán tình báo quốc gia về Iran, nhưng không thành. Đã có rất nhiều báo cáo hằng ngày, nhưng rất khó để đánh giá tại sao các lực lượng bất mãn và đối lập khác nhau có thể tương tác và kết hợp với nhau. Giữa tháng 8, tờ Morning Summary của Bộ Ngoại giao dự đoán vua Iran đã mất thế làm chủ, và rằng cơ cấu xã hội của Iran đang tan rã. Nhưng đến 28 tháng 9 năm 1978, cơ quan tình báo Bộ Quốc phòng lại dự đoán vua Iran "sẽ nắm quyền lực hơn mười năm nữa". Đó là điều có thể hiểu được vì dù sao ông ta cũng đã vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng trong quá khứ. Nhưng đúng thời điểm đó, một số đặc biệt rõ nét về cơn giận dữ của các lực lượng đang nổi lên chống lại vua Iran. Trong thời gian khoảng hai tuần tháng 8 năm 1978, nhiều rạp chiếu phim trong cả nước bị đốt cháy bởi các phần tử theo trào lưu chính thống phản đối các bộ phim "tội lỗi". Giữa tháng 8, ở Abadan, trung tâm khu lọc dầu, khoảng 500 khán giả trong một rạp chiếu phim bị một nhóm quá khích nhốt và thiêu cháy trong rạp. Mặc dù không chắc chắn nhưng người ta cho rằng thủ phạm là các phần tử theo trào lưu chính thống. Đầu tháng 9, những cuộc biểu tình đẫm máu diễn ra ở Tehran. Đây chính là bước ngoặt. Từ đó, chính phủ của vua Iran bắt đầu sụp đổ. Tuy vậy, vua Iran vẫn đẩy mạnh các hoạt động tự do hóa, trong đó có buổi nói chuyện về bầu cử tự do vào tháng 6 năm 1979.

Những người tiếp xúc với vị vua này nhận thấy có điều gì đó đang xảy ra với bản thân ông ta. Ông ta dường như khó gần và cô lập. Người ta vẫn đồn đại về sức khỏe của ông trong nhiều năm qua. Có phải ông bị ung thư? Hoặc bệnh lây qua đường tình dục mãn tính? Ngày 16 tháng 9, Đại sứ Anh đến thăm ông. Đại sứ cho biết: "Tôi thấy lo lắng về sự thay đổi diện mạo và phong thái của Shah. Trông ông quắt lại, da mặt vàng và đi lại chậm chạp. Dường như ông đã cạn kiệt cả về sức khỏe lẫn tinh thần". Sự thật là vua Iran đã mắc bệnh ung thư theo chuẩn đoán của các bác sĩ Pháp năm 1974. Nhưng vua Iran và vợ ông đã giữ kín tính nghiêm trọng của căn bệnh trong vài năm. Ông yêu cầu việc chữa trị phải được đặt trong tình trạng bảo mật cao nhất. Sau này, một số quan chức ở Washington nghi rằng một số thành phần của Chính phủ Pháp đã sớm biết sự việc trong khi Chính phủ Anh và Mỹ không hề hay biết. Nếu họ được thông báo về bệnh tật của ông ta, những tính toán có thể đã khác. Theo thời gian, vua Iran càng ngày càng thấy tác động của căn bệnh và sợ hậu quả của nó, điều có thể giải thích cho hành động không quyết đoán, xa rời, thậm chí là bất ổn và tin vào định mệnh của ông ta.

"Như tuyết ở dưới nước"

Vì tình hình chính trị của Iran đang xấu đi, vua Iran cũng lung lay. Ông ta không thể tiến hành một cuộc chiến chống lại những cuộc nổi loạn đang gia tăng. "Dư luận thế giới" đang theo dõi sát sao. Và những kẻ nổi loạn là thần dân của ông. Nhưng ông ta không thừa nhận. Ông bị mụ mị bởi những lời khuyên trái ngược nhau xuất phát từ chính quyền Mỹ. Ông cảm thấy bị mọi người phản bội. Hết lần này đến lần khác, ông biểu lộ sự nghi ngờ rằng Cơ quan tình báo Mỹ, tình báo Anh − và đài BBC, kênh thông tin của phe đối lập − đang âm mưu chống lại ông, dù vì những lý do không bao giờ rõ ràng.

Khi nhiều tuần lễ trôi qua, càng nhiều người tham gia biểu tình, bao gồm cả các kỹ sư dầu mỏ. Đầu tháng 10 năm 1978, do thúc ép của Iran, Ayatollah Khomeini bị trục xuất khỏi Iraq. Sau cùng thì chính quyền đảng Bath ở Baghdad phải lo lắng về cộng đồng Shiite ở Iraq. Từ chối chạy sang Côoét, Khomeini tới Pháp và cùng các trợ thủ sống ở ngoại ô Paris. Chính quyền Iran đã nghĩ khoảng cách không gian sẽ dập tắt cuộc nổi loạn, nhưng họ đã nhầm. Pháp cho phép Khomeini và những người đi theo ông ta được sử dụng dịch vụ điện thoại quốc tế mà Shah đã lắp đặt ở Tehran với mục đích tạo điều kiện cho thông tin liên lạc. Vị giáo sĩ già đầy căm hận, biết rất ít về thế giới phương Tây và luôn giữ vẻ khinh miệt, lại chứng tỏ mình là chuyên gia truyền bá trước giới truyền thông.

Ở Iran, Shah vẫn tiến hành chương trình tự do hóa. Tự do học hành, tự do báo chí, tự do hội họp – những quyền tự do kiểu phương Tây có lợi cho người dân nhưng ít gây chú ý đối với dân chúng vốn đã nổi dậy chống lại vị Shah, triều đại của ông ta và toàn bộ quá trình hiện đại hóa. Cuối tháng 10, vua Iran chỉ còn có thể nói rằng: "Chúng ta đang tan rã như tuyết ở dưới nước vậy". Những cuộc đình công làm đình trệ nền kinh tế và hoạt động chính phủ, sinh viên trở nên khó kiểm soát, các cuộc bạo động diễn ra nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.

Nền công nghiệp dầu của Iran trong tình trạng ngày càng hỗn loạn. Vùng sản xuất chính, thường được gọi là "Các khu mỏ" nằm ở phía đông nam Iran, bao gồm Masjid-i-Suleiman, nơi người Anh và người Ba Tư khám phá ra lần đầu năm 1908. Bây giờ, sau 70 năm, hoạt động ở "Các khu mỏ" nằm trong tay của Công ty dịch vụ dầu Iran, Osco, vốn là một công-xooc-xiom thành lập năm 1954, sau khi Mossadegh sụp đổ và vua Iran trở lại nắm quyền. Trụ sở của Osco nằm ở Ahwaz, cách Abadan khoảng 80 dặm về phía bắc, với nhân viên là những người nước ngoài. Tháng 10, một số công nhân người Iran đình công ở "Các khu mỏ" đã chuyển đến trụ sở Osco ở Ahwaz. Không ai ngăn cản họ. Đến tháng 11, khoảng hai trăm người sống ở hành lang, ăn và ngủ ở đó, nhằm tăng áp lực lên Osco và Công ty dầu mỏ quốc gia Iran. Khi những nhân viên người nước ngoài đi làm, họ cẩn thận cố không giẫm đạp lên công nhân. Trong khi đó, ở ngoài sân, các buổi cầu kinh bắt đầu diễn ra. Đầu tiên, chưa đến chục người tham gia. Nhưng không lâu sau, từ cửa sổ các nhân viên người nước ngoài có thể nhìn thấy số người tham gia trong buổi cầu nguyện đã lên đến vài trăm.

Tác động của cuộc đình công xuất hiện tức thì. Iran là nước xuất khẩu dầu lớn thứ hai sau Arập Xêút. Trong số 5,5 triệu thùng dầu sản xuất mỗi ngày có khoảng 4,5 triệu thùng được xuất khẩu, số còn lại tiêu dùng trong nước. Cho đến đầu tháng 11, lượng xuất khẩu giảm xuống ít hơn một triệu thùng một ngày, và 30 tàu chở dầu nằm chờ ở cảng xếp dỡ tại đảo Kharg mà không có dầu, trong khi trên thị trường quốc tế, nhu cầu sử dụng dầu cho mùa đông đang tăng. Phản ứng trước tình hình suy giảm chung trên thị trường, các công ty xăng dầu lại để cho kho dầu giảm. Liệu thị trường thế giới có bị thiếu hụt? Hơn nữa, sự ổn định của Iran phụ thuộc vào doanh thu bán dầu; đó là cơ sở của toàn bộ nền kinh tế. Người đứng đầu Công ty dầu mỏ quốc gia Iran đi miền nam, tới các khu mỏ để đối thoại với công nhân đang đình công. Khi đến đó, ông bị đám đông những kẻ đình công giận dữ vây quanh. Và ngay lập tức ông quyết định không đàm phán, mà bỏ trốn khỏi đất nước. Dường như không có cách nào để chấm dứt cuộc đình công.

Trong nỗ lực kiểm soát hỗn loạn ngày càng tăng, vua Iran đi một bước quan trọng mà ông luôn cố tránh né. Ông thành lập một chính quyền quân sự. Đây là cơ hội cuối cùng của ông, nhưng ông bổ nhiệm một vị tướng ốm yếu để lãnh đạo. Vị tướng ngay sau đó bị đau tim và không thể nắm quyền. Chính phủ mới đã có thể khôi phục lại trật tự trong ngành dầu mỏ và sản xuất hoạt động trở lại, ít nhất là trong thời điểm hiện tại. Binh lính cũng được điều đến trụ sở Osco ở Ahwaz, nơi họ cùng chung sống chẳng dễ dàng gì với đám công nhân đình công, những người vẫn tiếp tục ở lì trong các hành lang.

Trong khi đó, chính sách của Mỹ, đồng minh quan trọng nhất của Iran lại lộn xộn. Trong năm 1978, các quan chức cấp cao của Chính quyền Carter bị rối trí và phân tán bởi các tiến triển khác: Hiệp định hòa bình ở Trại David với Ai Cập và Israel, các cuộc đàm phán về vũ khí chiến lược với Liên Xô, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Chính sách ngoại giao của Mỹ lúc đó dựa trên cơ sở rằng Iran là đồng minh đáng tin cậy và sẽ là "Trụ cột lớn" trong khu vực. Chiều theo ý vua Iran và không muốn chọc tức ông, các quan chức Mỹ đã giữ khoảng cách với các nhóm đối lập khác nhau của chính phủ, có nghĩa là họ cũng thiếu thông tin về phe đối lập đang nổi lên. Thậm chí không hề có báo cáo cho Washington về việc Ayatollah đang nói gì trong những cuốn băng tuyên truyền. Một số ở Washington nói rằng tình trạng náo động ở Iran là âm mưu bí mật.

Và, như thường lệ, lại có câu hỏi tương tự: Mỹ có thể làm gì, bất kể tình hình là thế nào? Chỉ một số ít quan chức Mỹ cho rằng quân đội Iran có thể chịu đựng được cuộc nổi loạn dai dẳng trên toàn đất nước và tình trạng những người lính rời bỏ hàng ngũ. Thật sự là trong vài tháng cuối năm 1978 đã có một cuộc chiến căng thẳng ở Washington về chính sách. Làm thế nào để bênh vực vua Iran hoặc bảo đảm một chính quyền kế tiếp thân thiện? Làm thế nào để ủng hộ vua Iran mà không quá thân thiết để có thể có mối quan hệ với chính quyền mới, nếu ông ta bị lật đổ? Làm thể nào để tách ra, nếu yêu cầu phải thế, mà không tổn hại đến vua Iran trong trường hợp ông ta vẫn nắm quyền? Sự do dự và dao động ở Washington dẫn đến những dấu hiệu trái ngược nhau đối với Iran: vua Iran nên từ bỏ, nên sử dụng lực lượng quân đội, nên theo dõi tình hình nhân quyền, quân đội phải táo bạo, quân đội nên đứng ngoài, nên thành lập chế độ bù nhìn.

Một quan chức cao cấp nhớ lại: "Nước Mỹ chưa bao giờ đưa ra một tín hiệu rõ ràng, kiên định. Thay vì do dự giữa hành động này và hành động khác, chúng tôi nên chọn và theo đuổi một chính sách." Sự không nhất quán của Washington khiến vua Iran và các quan chức cấp cao của ông cũng bối rối, ảnh hưởng đến tính toán của họ, và làm cho quyết tâm của họ yếu hẳn đi. Và không một ai ở Washington biết về căn bệnh của vua Iran.

Thực tế là vua Iran trở thành đối tượng của sự chỉ trích và ghét bỏ trên truyền thông ở Mỹ và những nơi khác, làm cho những nỗ lực nhằm xây dựng vội vàng một vị thế mới của nước Mỹ trở nên phức tạp. Một bài báo đã ca tụng Khomeini trên tờ New York Times, theo đó "những người tuỳ tùng của ông là những cá nhân ôn hòa, năng nổ" và làm thế nào Khomeini có thể mang lại "một nhà nước nhân văn cho một nước ở thế giới thứ ba". Đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc Andrew Young còn đi xa hơn; ông nói Khomeini sẽ được gọi là "Thánh". Carter lúc đó bối rối ngay lập tức cảm thấy cần phải làm rõ: "Phong Thánh không phải là việc của nước Mỹ."

Một quan chức cấp cao của Mỹ, người tham gia vào mọi cuộc khủng hoảng ở Trung Đông từ đầu những năm 1960, đã thiếu chặt chẽ khi ghi lại sự thật khác thường rằng buổi họp cấp cao đầu tiên về Iran không diễn ra cho đến đầu tháng 11. Ngày 9 tháng 11, William Sullivan, đại sứ Mỹ tại Tehran, cuối cùng đối mặt với một thực tế không thú vị gì khi thông tin về Washington: "Nghĩ đến điều không thể nghĩ đến". Ông ta nói: Có lẽ vua Iran không thể tồn tại lâu hơn được nữa. Mỹ nên bắt đầu xét đến những điều bất ngờ và sự thay đổi quyền lực. Nhưng ở

Washington, nơi mà mọi người vẫn tiếp tục mâu thuẫn, thì không hề có phản ứng có ý nghĩa nào. Đến nỗi Tổng thống Carter phải viết thư tay cho bộ trưởng Ngoại giao, Cố vấn An ninh quốc gia, Bộ trưởng Quốc phòng, và giám đốc CIA để hỏi tại sao ông không hề được thông báo trước về tình hình bên trong Iran. Trong lúc đó, Đại sứ Sullivan lại đi đến kết luận là Mỹ đối mặt với tình hình ở Iran "mà không có chính sách rõ ràng gì".

"Đổ máu"

Tháng 12 năm 1978 là tháng của tang lễ, diễu hành, tự trừng phạt trong đám tín đồ Shiite. Đỉnh điểm là kỳ nghỉ Ashura, cho thấy sự kháng cự không ngừng đối với kẻ bạo chúa. Khomeini thề rằng đây sẽ là tháng trả thù và "máu chảy". Ông kêu gọi thêm nữa sự tử vì đạo. Ông tuyên bố "hãy để họ giết năm nghìn người, mười nghìn người hay 20.000 người. Chúng ta sẽ chứng tỏ rằng máu là quyền lực hơn đao kiếm." Các cuộc biểu tình lớn được tổ chức ở khắp đất nước với quy mô lớn. Tất cả các phe đối lập dường như đoàn kết lại, và quân đội thì rã đám. Vua Iran không còn lựa chọn. Ông nói: "Một kẻ độc tài có thể tồn tại bằng cách giết người của ông ta nhưng một vị vua không thể làm thế". Nhưng ông có thể làm gì? Đã có một trò đùa trên điện thoại làm ông ta càng bị bẽ mặt và sỉ nhục. Vua Iran được báo rằng Thượng nghị sĩ Edward Kennedy đang gọi từ Washington. Không nghi ngờ gì nữa, ông chuẩn bị tư thế để nói chuyện với một trong những nhà giải phóng tự do và nhân quyền hàng đầu của Mỹ. Ông nhấc điện thoại và nghe thấy một giọng nói nhắc đi nhắc lại câu nói đơn giản: "Mohammed, hãy thoái vị. Mohammed, hãy thoái vị".

Lực lượng chuyên trách của Công ty dịch vụ dầu mỏ bắt đầu chuẩn bị kế hoạch di tản cho khoảng 1.200 nhân viên nước ngoài và gia đình của họ khỏi khu khai thác dầu. Họ thu thập bản đồ, tìm đường băng trên sa mạc để hạ cánh nếu các sân bay đều đóng cửa. Nhưng họ không nỗ lực hết sức. Vào một buổi chiều, Geogre Link của Exxon, khi đó là Giám đốc điều hành của Osco, trở lại văn phòng sau bữa trưa. Khi tài xế ra khỏi xe và mở cửa, một kẻ tấn công bước ra từ bên đường và ném thứ gì đó vào trong xe. Link liền mở cửa và nhảy ra ngoài. Ngay sau đó, chiếc xe nổ tung. Sau đó, kế hoạch di tản được xem xét nghiêm túc.

dau mo tien bac va quyen luc ky 34
Nhà máy lọc dầu Abadan

Một lần nữa đình công lại làm cho việc khai thác dầu bị tê liệt, và sản lượng của Iran giảm nhanh chóng. Căng thẳng lên cao độ. Trợ lý giám đốc điều hành của Osco là Paul Grimm đã thẳng thắn cảnh báo một số nhân viên người nước ngoài tham gia đình công rằng họ sẽ bị đuổi việc nếu không trở lại làm việc. Và đổi lại ông đã bị coi là người cố phá vỡ cuộc nổi loạn. Vào giữa tháng 12, khi Grimm đang lái xe đi làm, một phát súng bắn ra từ chiếc xe đi sau, và ông chết ngay tức thì vì một viên đạn găm vào sau gáy. Việc di tản bấy giờ được tiến hành vội vã hơn. Cho đến 25 tháng 12, ngày Noel, hoạt động xuất khẩu dầu của Iran ngưng trệ hoàn toàn. Đây là một sự kiện chủ chốt trên thị trường dầu thế giới. Giá chợ đen ở châu Âu tăng lên 10 đến 20% so với giá chính thức. Việc ngừng sản xuất dầu cũng làm mất nguồn cung trong nước của Iran. Những dòng người đứng xếp hàng để có được bất cứ thứ thì có sẵn như xăng hoặc dầu hỏa, nhiên liệu lý tưởng cho việc nấu nướng. Binh lính thì duy trì trật tự bằng cách bắn chỉ thiên. Các công nhân sản xuất dầu từ chối cung cấp xăng dầu cho quân đội, nhằm làm tê liệt hoạt động của lực lượng này. Cuối cùng, trong một thế đảo ngược, một tàu chở dầu của Mỹ chuyển hướng đến Iran để cung cấp dầu. Trong những tuần lễ khủng hoảng đó, chiếc tàu đỗ ở xung quanh, thỉnh thoảng thả neo ngoài khơi, thỉnh thoảng đi lên thượng lưu hướng tới Abadan, nhưng nó không bao giờ có thể phân phát hàng vì không thể sắp xếp để dỡ hàng an toàn.

"Tôi cảm thấy mệt mỏi"

Đến cuối tháng 12, thỏa thuận bất đắc dĩ giữa giới cầm quyền là sẽ thành lập một chính phủ liên minh, và rằng vua Iran nên rời khỏi Iran, bề ngoài là để chữa bệnh. Nhưng ít có nghi ngờ về những gì đang xảy ra. Triều đại Pahlavi có vẻ đã chấm dứt. Trong tuần sau Giáng sinh, Osco quyết định di tản nhân viên nước ngoài. Khó mà giữ bí mật về những gì đang xảy ra với ngai vàng ở Tehran, hoặc ở Washington, nhóm nhân viên nước ngoài cho rằng việc đó chỉ tạm thời, chuyện vài tuần, hoặc vài tháng, hoặc nhiều nhất là cho đến khi trật tự được lập lại. Vì vậy, họ chỉ được mang theo hai vali. Họ rời nhà với mọi thứ vẫn còn nguyên, chờ họ quay lại. Họ gặp tình huống khó xử tương tự như những người nước ngoài đã bị Mossadegh buộc về nước vào 1951 – làm gì với những con chó đây, họ không thể mang theo được. Vì họ không biết sẽ đi bao lâu nên họ làm điều những người tiền nhiệm đã làm: thả chó ra sau nhà, hoặc bắn chúng hoặc đánh cho đến chết.

Họ tụ tập ở sân bay Ahwaz. Điểm đến cuối cùng là Athens, nơi họ dùng thời gian để ngắm cảnh, chờ mọi việc rõ ràng xem họ có thể quay lại không. Một lần nữa, thế hệ sau của William D’Arcy Knox và George Reynolds lại rời Iran. Nhưng không giống những người chia tay Abadan vào 1951, không có đội quân danh dự, không tiễn chào, không hát xướng. Ahwaz từng là sân bay rất nhộn nhịp, với vô số chuyến bay nội địa, cộng thêm những máy bay nhỏ và trực thăng thường xuyên qua lại nhiều khu khai thác. Nhưng giờ đây không có dịch vụ bay nội địa, sản xuất dầu ngưng trệ, bầu trời trên sa mạc ở Ahwaz vắng lặng.

Ngày 8 tháng 1, đại sứ Anh đến chào tạm biệt vua Iran. Triều đại tồn tại qua nhiều sự thăng trầm trong gần nửa thế kỷ đã đến hồi kết thúc. Vẻ tráng lệ của buổi kỷ niệm 2.500 năm triều đại Ba Tư ở Persepolis đã biết mất. Alexander Đại đế đã chiếm giữ Persepolis năm 330 trước Công nguyên và đốt cháy cung điện hoàng gia. Bây giờ Ayatollah Khomeini lại nhạo báng kẻ tự tuyên bố mình là người thừa kế Persepolis.

Nói chuyện với vị đại sứ Anh, vua Iran bình tĩnh và giữ khoảng cách. Ông nói về vụ việc như là chúng không liên quan đến bản thân ông. Điều này làm vị đại sứ dâng trào cảm xúc, người mà nhiều năm luyện cho mình phong cách chuyên nghiệp, lại bật khóc. Cố gắng một cách vụng về để xoa dịu ông, vua Iran nói: "Không sao đâu, tôi biết ông cảm thấy như thế nào." Xét đến hoàn cảnh liên quan của họ, đây là dấu hiệu rất lạ. Vua Iran nói về những lời khuyên trái ngược mà ông đang tiếp tục nhận. Sau đó, với một cử chỉ kỳ lạ, ông nhìn đồng hồ. "Nếu là do tôi quyết định, tôi sẽ rời đi trong 10 phút nữa."

Trưa ngày 16 tháng 1, vua Iran xuất hiện ở sân bay Tehran. "Tôi cảm thấy mệt mỏi và cần nghỉ ngơi". Ông nói với nhóm nhỏ đang tụ tập, duy trì một câu chuyện cảm động là ông chỉ đang đi nghỉ. Sau đó, ông bước lên máy bay và rời Tehran lần cuối, mang theo hành lý và một chiếc tráp đựng đất Iran. Điểm dừng chân đầu tiên của ông sẽ là Ai Cập.

Khi vua Iran đi khỏi, tất cả Tehran bừng lên vui sướng như chưa bao giờ thấy kể từ khi vua Iran giành chiến thắng vào 1953. Còi xe inh ỏi, đèn điện sáng trưng, cần gạt nước xe hơi thì gắn ảnh Khomeini, đám đông hò hét và nhảy múa trên đường phố, báo chí thì lan truyền với dòng tít không thể quên được: "Nhà vua đã đi". Ở Tehran và khắp đất nước, tượng người cưỡi ngựa bị đám đông kéo đổ. Triều đại Pahlavi và kỷ nguyên của nó đã tan vào cát bụi.

Và ai sẽ nắm quyền? Một chính quyền liên minh bị bỏ lại ở Tehran, lãnh đạo bởi một đối thủ truyền kiếp của nhà vua. Nhưng vào ngày 1 tháng 2, Khomeini trở lại Tehran trên chiếc máy bay 747 thuê của hãng Air France. Những chỗ ngồi trên máy bay đã được bán cho các phóng viên báo chí phương Tây để trang trải cho chuyến bay, trong khi Khomeini nghỉ ngơi trên một tấm thảm trải ở khoang hạng nhất. Ông mang theo chính phủ thứ hai, một hội đồng cách mạng do Mehdi Bazargan đứng đầu, những đối thủ lớn của vua Iran. Hai mươi tám năm trước, năm 1951, Bazargan được Mohammed Mossadegh chọn là người đứng đầu ngành dầu mỏ đã quốc hữu hóa. Và ngay sau đó đích thân ông đã đến các mỏ dầu, mang theo những con dấu và tấm biển gỗ có đề dòng chữ "Công ty dầu mỏ quốc gia Iran". Ông vào tù dưới thời vua Iran. Và bây giờ, mặc cho Khomeini vẫn ghét Mossadegh như là một kẻ dân tộc chủ nghĩa theo chủ nghĩa thế tục, Bazargan đã được trao lực lượng quân sự, trở thành một ứng cử viên của tầng lớp giáo sĩ Ayatollah để lãnh đạo nước Iran mới. Nhưng, dĩ nhiên, chỉ có thể có một chính phủ. Trong tuần thứ hai của tháng 2, chiến sự nổ ra ở một căn cứ không quân đặt ở ngoại ô Iran giữa các hạ sĩ quan ủng hộ cuộc cách mạng lực lượng Vệ binh Hoàng gia. Hậu thuẫn quân sự cho chính phủ liên minh sụp đổ, và Mehdi Bazargan đã nắm quyền. Tùy viên quân sự Mỹ đã gửi một thông điệp ngắn gọn đến Washington tóm tắt tình hình là: "Quân đội đầu hàng, Khomeini thắng. Hủy bỏ tài liệu mật".

Người cuối cùng ra đi

Không phải tất cả nhân viên nước ngoài đều rời khu mỏ dầu. Khoảng 20 người được yêu cầu ở lại để duy trì sự hợp pháp của Osco, nếu xảy ra tranh cãi với chính phủ sau này. Trong số đó có Jeremy Gilbert, một nhà toán học Ireland chuyển sang làm kỹ sư dầu lửa được BP chỉ định sang Osco và là người quản lý kế hoạch đầu tư của Osco. Họ chỉ ở lại vài ngày trước khi họ quyết định rời đi trong tình hình tệ hơn. Nhưng bởi vì ông đang ở trong bệnh viện, bị viêm gan nặng, Gilbert không được lên máy bay di tản. Ông ở lại trong bệnh viện trong những ngày lộn xộn của tháng 1. Vào buổi đêm, từ giường bệnh ông có thể nghe thấy Thánh ca, súng nổ và vào ngày vua Iran ra đi, là âm thanh của sự ăn mừng lớn. Mối liên hệ duy nhất của ông với thế giới bên ngoài Abadan, trừ BBC là rất nhiều hoa, do Osco tặng. Gilbert rất yếu và hầu như không thể đi quanh phòng. Gilbert bị những người Iran tưởng nhầm là người Mỹ. Một nhóm y tá tụ tập ngoài cửa sổ phòng bệnh của ông và hô "những người Mỹ phải chết".

Một bệnh nhân khác thì bất thần đánh lên đầu Gilbert bằng cái nạng. Quốc tịch thật sự của Gilbert gây nên một vấn đề khác. Cách duy nhất để ra khỏi Iran là đi qua Iraq, nhưng vì quân đội Ireland với nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Li Băng gần đây lại lâm vào một cuộc đọ súng với lính Iraq. Gilbert bị từ chối cấp visa qua Iraq. Để được cấp visa, ông phải quỳ xuống trước một nhân viên ở lãnh sự quán Iraq và xin lỗi về tất cả tội lỗi của người Ireland. Vào cuối tháng 1, cuối cùng ông cũng cảm thấy đủ khỏe để rời khỏi Iran. Ở biên giới bụi mù, những quan chức Iran vẫy chào ông mà không nhìn. Nhưng quân đội Iraq nghi ông là gián điệp, bắt giữ, khám xét, chất vấn trong vài tiếng. Trong khi đó, phương tiện giao thông duy nhất đến Basra, một chiếc taxi, đã đi khỏi. Khi ông được thả ra, ông hỏi: "Làm thế nào tôi đến được Basra?", một trong đám lính trả lời: "Ông đi bộ".

Không có lựa chọn nào khác, mệt, yếu và mang hai túi, ông đi theo con đường bụi bẩn đến Basra. Hai tiếng sau một chiếc xe tải đi qua và dừng lại. Tài xế đồng ý đưa ông đến Basra lấy tiền, nhưng cười lớn khi ông đưa ra tiền Iran. Tài xế nói nó chả có giá trị gì cả. Gilbert lấy đồng đô-la cuối cùng trả cho tài xế để đưa ông đến sân bay Basra. Nhưng giờ ông đã hết tiền. Làm thế nào để ông có thể đi đâu nữa. Ông nhớ ra mình vừa nhận một cái thẻ American Express, mà ông để trong ví nhưng chưa sử dụng. Nhờ trời vì ông đã rời nhà và mang theo nó. Ông lên một chuyến bay đến Baghdad. Ông đến thủ đô Iraq vào đêm muộn, và sau một vài cố gắng thì tìm thấy khách sạn. Ông gọi về gia đình. Họ đã rất hoảng hốt; họ đã nghĩ rằng ông đang nghỉ dưỡng ở bệnh viện ở Abadan.

Gilbert không ra khỏi phòng trong ba ngày. Khi ông nghĩ đã đủ sức khỏe để đi tiếp, ông đáp chuyến bay từ Baghdad đi London. Đến Heathrow cuối ngày thứ 6, ông gọi cho phòng nhân sự của BP từ sân bay để thông báo cuối cùng ông đã về. Nhân viên nước ngoài cuối cùng ở Các mỏ dầu, tổ hợp dầu mỏ lớn nhất Iran, đã đi khỏi. Nhưng nhân viên phòng nhân sự nhận điện thoại, bị cuộc nói chuyện về những dự định cho kỳ nghỉ cuối tuần của anh ta làm cho xao lãng, đã nghe nhầm và nghĩ người gọi đang thông báo tin tức nào đó về viên kỹ sư bị mất tích. Anh ta nói: "Jerry Gilbert à, chúng tôi đang thắc mắc ông ấy đang ở đâu. Ông có liên lạc gì không?"

Đó là sự sỉ nhục cuối cùng. Từ bót điện thoại ở Heathrow, bằng tất cả sức lực còn lại, Gilbert chửi rủa không chỉ anh nhân viên kém may mắn kia mà còn tất cả những người liên quan đến ngành dầu mỏ trên thế giới.

Hoảng loạn bắt đầu

Chính quyền cũ ở Iran đã tan rã, và chính quyền mới đã vùng lên, nhưng vẫn có tranh giành quyền lực. Và từ Iran, cứ như thể bị chấn động bởi một trận động đất dữ dội, một cơn thủy triều khổng lồ lan tỏa khắp thế giới. Tất cả mọi thứ bị cuốn trôi, không ai thoát khỏi. Khi đợt sóng đã ngớt hai năm sau đó, những người sống sót trên bờ thấy họ đến một vùng hoàn toàn mới. Mọi thứ đã khác, quan hệ giữa họ cũng thay đổi. Cơn sóng này tạo nên cuộc khủng hoảng dầu mỏ thứ hai, đưa giá dầu từ 13 lên 34 đô-la một thùng, và gây ra những thay đổi lớn không chỉ trong ngành công nghiệp dầu mỏ mà còn, lần thứ hai trong vòng chưa đầy một thập kỷ, đối với nền kinh tế và chính trị thế giới.

Cơn khủng hoảng dầu mỏ mới đã đi qua vài giai đoạn. Giai đoạn đầu là từ cuối tháng 12 năm 1978, khi xuất khẩu dầu của Iran ngưng trệ đến mùa thu năm 1979. Sự cắt giảm sản xuất ở Iran được bù đắp bởi việc tăng sản lượng ở những nơi khác. Arập Xêút tăng sản lượng từ mức trần họ tự đưa ra là 8,5 triệu thùng một ngày lên 10,5 triệu thùng vào cuối năm 1978. Nước này giảm sản lượng xuống 10,1 triệu thùng một ngày trong quý đầu 1979, nhưng vẫn còn cao hơn mức trần là 8,5 triệu thùng. Các nước OPEC khác cũng tăng sản lượng. Khi tất cả những điều đó được tính đến, sản lượng dầu của thế giới tự do vào quý 1 năm 1979 là khoảng 2 triệu thùng một ngày, dưới mức của quý 4 năm 1978.

Thiếu hụt dầu lại xảy ra, điều này không gây ngạc nhiên. Iran là nước xuất khẩu dầu thứ hai thế giới. Khi tính toán nhu cầu thế giới khoảng 50 triệu thùng dầu một ngày, lượng thiếu hụt là không nhiều hơn 4-5%. Tại sao chỉ thiếu hụt 4-5% mà lại làm cho giá tăng 150%. Câu trả lời là sự hỗn loạn, do năm lý do gây ra. Thứ nhất là sự tăng trưởng tiêu dùng dầu và dấu hiệu mà nó đưa ra thị trường. Nhu cầu đã tăng nhanh từ 1976, và nhu cầu vẫn tiếp tục tăng.

Nhân tố thứ hai là sự phá vỡ các hợp đồng trong ngành, bắt nguồn từ cách mạng ở Iran. Mặc cho những dịch chuyển lớn, dầu vẫn là một ngành công nghiệp thống nhất. Sự gián đoạn ở Iran tác động đến các công ty là khác nhau, tuỳ theo sự phụ thuộc vào Iran, và dẫn đến sự phá vỡ các nguồn cung theo hợp đồng. Sự ngưng trệ đó đẩy hàng loạt người mua lao ra thị trường tìm kiếm nhằm bảo đảm số lượng mà họ bị mất. Tất cả đều làm bất cứ thứ gì để tránh bị thiếu. Đây là sự kết thúc của nền sản xuất dầu kiểu cũ. Thị trường chợ đen, vốn là phụ, nay trở thành trung tâm. Và các hoạt động buôn bán, trước đây từng bị coi là tai tiếng, giờ lại thành quan trọng. Nhân tố thứ ba là sự mâu thuẫn và xung đột giữa các chính sách tiêu dùng của chính phủ. Hệ thống an ninh năng lượng quốc tế, đã được Kissinger đề nghị năm 1974 tại Hội thảo năng lượng Washington, vẫn đang triển khai, với nhiều khía cạnh chưa thử nghiệm. Các động thái của các chính phủ vì lý do trong nước lại được coi như là chính sách quốc tế quan trọng, gây thêm căng thẳng trên thị trường. Trong khi các chính phủ cam kết cộng tác để giảm giá, các công ty ở những nước này lại làm giá tăng lên.

Thứ tư là, sự thay đổi này tạo cho các nhà xuất khẩu dầu cơ hội để cho thuê với hợp đồng khổng lồ. Một lần nữa, họ có thể khẳng định quyền lợi và ảnh hưởng lên tình hình thế giới. Hầu hết, vẫn tận dụng mọi cơ hội làm cho giá tăng, và một số thao túng nguồn cung để làm xáo động thị trường và hưởng thêm doanh số. Cuối cùng là do tâm lý. Sự thiếu chắc chắn, lo lắng, bối rối, sợ hãi, bi quan là những tâm lý chi phối các quyết định. Khi tất cả các con số đã được xem xét, khi cân bằng cung và cầu bị phá vỡ thì cảm tính là phi lý, chúng không có ý nghĩa gì cả. Nhưng vào lúc đó nó là thật. Toàn bộ hệ thống dầu quốc tế dường như bị sập, dù vẫn nằm trong kiểm soát. Và điều làm tăng sức mạnh của cảm tính là niềm tin chắc chắn rằng điều tiên đoán được thực hiện. Cuộc khủng hoảng dầu như dự đoán sẽ xảy ra vào giữa những năm 1980 đã đến năm 1979, giai đoạn hai của cuộc khủng hoảng năm 1973-1974. Đây không phải là khủng hoảng tạm thời, mà là một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Một câu hỏi không lời giải đáp được đặt ra là cuộc cách mạng Iran sẽ tiến triển bao lâu. Cuộc cách mạng Pháp đã lan tỏa khắp châu Âu đến tận Matxcơva. Liệu cuộc cách mạng Iran có lan đến Côoét, đến Riyadh, và đến Cairo và xa hơn? Các tín đồ thấm nhuần chủ nghĩa dân tộc khiến thế giới phương tây ngạc nhiên. Mặc dù không ai hiểu và đoán biết về họ, một trong những động lực của họ rất rõ ràng: sự chối bỏ của phương Tây và thế giới hiện đại, nhận thức ra điều đó dẫn đến sự lãnh đạm, sợ hãi khắp nơi.

Chính những người mua, do lo sợ tình hình như năm 1973, lại làm cho nguồn cung càng thiếu hụt bằng cách dự trữ nhiều hơn, như họ đã làm năm 1973. Ngành công nghiệp dầu vẫn duy trì hàng tỷ thùng dầu dự trữ, để cung cấp cho khi thiếu hụt. Thông thường để vận hành trơn tru một bộ máy được đầu tư nhiều vốn như các cánh đồng dầu hay các trạm xăng, dự trữ là cần thiết. Một thùng dầu mất 90 ngày để chuyển từ giếng dầu ở Vùng Vịnh, qua nơi lọc dầu và hệ thống thị trường để đến trạm xăng. Chạy thiếu ở bất cứ điểm nào ở hệ thống đó sẽ mất nhiều chi phí và cản trở các phần khác của hệ thống. Vì vậy dự trữ là phần quan trọng trong nỗ lực khớp cung và cầu và giữ mọi thứ hoạt động hiệu quả. Theo yêu cầu căn bản đó, ngành tiến hành tự bảo hiểm, dự trữ thêm để tránh bất cứ sự thay đổi ngoài dự báo nào của cung và cầu – ví dụ việc tăng đột biến nhu cầu dầu vào mùa đông vì lạnh đột xuất hoặc tàu đến chậm trong hai tuần vì bão, cản trở dỡ dầu ở Vùng Vịnh. Cung dầu bấy giờ sẽ lấy ra từ nguồn dự trữ.

Tất nhiên dự trữ dầu là tốn kém. Vì vậy các công ty không muốn dự trữ hơn mức bình thường. Nếu họ nghĩ giá giảm vì tiêu dùng giảm, họ giảm dự trữ với tốc độ nhanh nhất có thể, với ý tưởng sẽ mua sau đó khi giá giảm. Và đó chính là đặc điểm thị trường trong suốt những năm 1978. Trái lại, nếu các công ty nghĩ rằng giá đang lên, họ sẽ mua nhiều hơn để ứng phó kịp thời khi giá đắt hơn. Thực tế thì các công ty mua nhiều hơn lượng tiêu dùng, không chỉ vì giá mà còn vì họ không chắc sau đó có mua được dầu hay không. Và việc mua quá nhu cầu thực tế, kết hợp với dự trữ, làm giá dầu tăng, là điều mà các công ty và khách hàng đang cố tránh trong giai đoạn đầu. Hầu hết các công ty đều mua bán hỗn loạn. Mọi người đều sợ giá cả tăng vọt và thiếu hụt. Các lái xe cũng thế. Trước những năm 1979, ở các nước phương tây người ta chỉ cần khoảng 1/4 bình xăng để đi lại. Bỗng nhiên vì lo ngại về thiếu hụt xăng mà người ta đổ thêm 3/4 bình. Và hầu hết các buổi đêm, các lái xe ở Mỹ mua hàng tỷ gallon xăng ở các trạm xăng.

Các công ty dầu thi nhau dự trữ dầu, và người tiêu dùng cũng hành động tương tự, khiến nhu cầu tăng lên đến 3 triệu thùng dầu mỗi ngày, vượt quá nhu cầu thực tế. Khi nhu cầu cần thêm hai triệu thùng dầu, sẽ dẫn đến việc thiếu hụt 5 triệu thùng dầu một ngày, chiếm khoảng 10% lượng tiêu dùng. Và như vậy cơn sốt mua dầu dự trữ đã tăng gấp đôi sự thiếu hụt thực tế và khiến tình hình càng thêm khủng hoảng. Đây là cơ chế đẩy giá tăng từ 13 lên 34 đô-la một thùng.

Trường hợp bất khả kháng

Cuộc khủng hoảng có thể đã có thể kiểm soát nếu sự thiếu hụt được phân bổ đồng đều. Nhưng mọi chuyện đã không diễn ra như vậy. Công ty dầu khí Anh (BP) lệ thuộc nhiều nhất vào Iran. Khoảng 40% nguồn cung của họ bắt nguồn từ Iran, vì vậy họ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc khủng hoảng. Nguồn cung dầu thô của họ vượt quá yêu cầu của chính họ. Và họ là nhà buôn, bán phần nhiều dầu qua các hợp đồng dài hạn cho các bên thứ ba, hoặc cho các công ty lớn khác, như Exxon, hoặc cho các nhà máy lọc dầu độc lập, ở tận Nhật. Nhưng bây giờ, do thiếu nguồn cung từ Iran, BP thêm một điều khoản Bất khả kháng trong các hợp đồng của họ và giảm bớt người mua. BP cũng ngừng cung cấp cho Exxon, và tìm mua thêm dầu từ những nơi khác. Cả BP và Shell đều không phải là thành viên của Aramco, vì vậy họ không được tiếp cận với nguồn dầu đang tăng đổ sang bốn công ty Mỹ của Arập.

Vì vậy sự sụp đổ dây chuyền bắt đầu. Các công ty bị mất nguồn cung từ cả BP hoặc Iran cũng thêm điều khoản Giảm bớt bán hàng hoặc hủy bỏ hợp đồng là bất khả kháng. Tháng 3, Exxon đối mặt với sự gia hạn mới của hợp đồng với Nhật Bản. Exxon đã cảnh báo các khách hàng từ năm 1974 nên phân tán nguồn cung và đừng phụ thuộc vào Exxon. Clifton Garvin, Chủ tịch Exxon nói: "Thế giới đang thay đổi, Exxon không thể đóng vai trò trung gian giữa các nước Arập Xêút và người tiêu dùng Nhật Bản". Và Exxon bắt đầu giảm hợp đồng với các bên thứ ba. Nhưng trong tình hình khủng hoảng, vào tháng 3 năm 1979, thông điệp được đưa ra không hề được báo trước.

Phản ứng dây chuyền ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nhật Bản. Sau cuộc khủng hoảng dầu đầu tiên, Nhật đã thành công trong việc chiếm nguồn cung từ Iran. Kết quả là họ trở nên phụ thuộc vào Iran hơn các nước công nghiệp khác. Đến 1978, Iran đã chiếm hơn 20% nguồn cung dầu cho Nhật. Hơn nữa, các nhà máy lọc dầu của Nhật không thể ngưng hoạt động khi thiếu nguồn cung. Chính phủ đã một lần nữa phải đối mặt với sự thiếu hụt tài nguyên. Nền kinh tế Nhật bị đe dọa bởi thực tế là ngành công nghiệp của họ phụ thuộc lớn vào dầu mỏ. Khủng hoảng lan tràn ở Nhật hơn bất kỳ nơi nào khác vì tăng trưởng kinh tế thần kỳ trong 20 năm có thể bị mất. Chính phủ yêu cầu cắt điện ở Ginza nhằm tiết kiệm điện. Quan trọng hơn, họ hối thúc nhà buôn Nhật trực tiếp mua từ thị trường thế giới, điều mà họ chưa làm bao giờ. Các công ty quyền lực của Nhật đi tìm các nguồn cung khác. Để tiếp cận các nguồn cung, yêu cầu họ phải sáng tạo. Một nhà buôn khám phá ra rằng cách tuyệt vời để thân với các quan chức trong ngành và các công ty dầu của nhà nước là tặng quà cho họ. Để tận dụng mối quan hệ với Bộ trưởng Năng lượng của Iraq, nhà buôn này cung cấp cho ông dịch vụ châm cứu đẳng cấp quốc tế.

Các công ty lọc dầu khác từ nhiều nước khác tham gia cùng các công ty Nhật trong công cuộc đi tìm dầu. Các công ty nhà nước cũng tương tự, như công ty của Ấn Độ, cũng phụ thuộc vào Iran. Bỗng nhiên, nơi vốn có ít người mua, bây giờ lại có nhiều, một vị thế đáng mơ ước từ quan điểm của người bán. Và mọi hoạt động đều từ chợ đen, cho đến lúc đó, cả dầu thô lẫn dầu đã lọc, chiếm khoảng 8% nguồn cung. Đây là cơ chế cân bằng, nơi người mua có thể mua dầu giảm giá, thay vì mua đắt hơn từ các hợp đồng được bảo đảm. Nhưng đây cũng là thị trường, khi người mua lao ra đó, giá lại tăng, tăng và tăng. Cho đến cuối tháng 2 năm 1979, giá thị trường chợ đen đã gấp đôi giá chính thức. Người ta có thể gọi nó là "thị trường Rotterdam", cảng dầu khổng lồ của châu Âu, nhưng thực tế, đấy là thị trường toàn cầu, liên kết bởi mạng lưới điện thoại và telex.

Đây là cơ hội tuyệt vời cho các nhà xuất khẩu và họ phản ứng bằng hai cách. Họ bắt đầu tăng giá so với giá chính thức, được cập nhật hàng tháng khắp toàn thế giới. Họ bắt đầu chuyển càng nhiều nguồn cung càng tốt, và càng nhanh càng tốt từ các hợp đồng dài hạn sang thị trường chợ đen béo bở. Một bộ trưởng năng lượng của OPEC đã nói "Tôi sẽ là một thằng ngốc nếu không tăng 10 đô-la một thùng ở thị trường chợ đen, khi tôi biết rằng nếu không làm thế thì sẽ có người khác bán ở giá đó. Cũng có điều khoản Bất khả kháng, nhưng họ cùng từ bỏ hợp đồng. Một buổi sáng, Shell nhận được fax từ một công ty xuất khẩu thông báo rằng hợp đồng cung cấp không còn có hiệu lực, dựa trên điều khoản Bất khả kháng. Cùng buổi chiều đó, Shell nhận được một bản fax khác từ cùng một nước thông báo rằng dầu được cung cấp trên cơ sở thị trường chợ đen. May mắn thay, lượng dầu có gần chính xác số mà họ bị cắt trước đó chỉ vài giờ. Điều khác chỉ là giá cáo hơn 50%. Và Shell đành chấp nhận mức giá chào đó.

Nhưng đầu tháng 3 năm 1979, nhanh hơn dự đoán, các nhà xuất khẩu Iran bắt đầu trở lại thị trường, ở mức thấp hơn nhiều so với trước khi Shah sụp đổ. Phản ánh sự hồi phục của nguồn cung, giá chợ đen bắt đầu giảm. Đây là thời điểm mà một số lệnh bán hàng đã được hồi phục trở lại. Đầu tháng 3, các nước thành viên của Cơ quan năng lượng quốc tế hứa giảm nhu cầu xuống 5% để ổn định thị trường. Nhưng cuộc đua trên thị trường nay đã có động lực của riêng nó. Ai có thể tự tin rằng dầu Iran sẽ duy trì được sự ổn định. Mặc dầu Khomeini đã kiểm soát được ngành công nghiệp dầu, các cánh đồng dầu ở Iran, bị điều khiển bởi phe cánh tả – "hội đồng 60", do các công nhân thành lập, hoạt động như một chính phủ độc lập, nắm ý chí của các quan chức và nhân viên trong ngành.

Hơn thế nữa, các nước OPEC khác bắt đầu thông báo sự sụt giảm sản lượng. Với sự tăng giá dầu, sẽ giá trị hơn nếu giữ dầu ở dưới đất và bán sau?

Cuối tháng 3, các nước OPEC họp. Giá chợ đen đã tăng 30%, sản lượng tăng 60%. OPEC quyết định các thành viên của nó có thể thêm bất kỳ phụ phí nào vào giá để "công bằng theo cách riêng của họ". Bất kể là gì, Yamani cho phép, là "tự do cho tất cả". Các nhà xuất khẩu từ bỏ bất kỳ cơ cấu giá chính thức nào. Họ sẽ thu thêm bất cứ thứ gì mà thị trường có thể chịu được. Và bây giờ có hai trò chơi trên thị trường dầu thế giới. Một là "nhảy phốc" – các nhà sản xuất cạnh tranh nhau để tăng giá. Trò khác là "trườn bò" các nhà buôn cạnh tranh nguồn cung cấp. Những người mua lo lắng, các công ty đã bị cắt nguồn cung, các nhà máy lọc dầu, các chính phủ dẫm lên nhau để tìm nguồn cung. Nhưng cuộc đua này không thể làm xuất hiện thêm nhà cung cấp nào mới, tất cả đều khiến cuộc cạnh tranh thêm khốc liệt, làm giá leo thang. Nhà điều phối của Shell cho biết: "không ai điều khiển cái gì cả, bạn chỉ giành lấy nó. Ở mọi mức độ, bạn cảm thấy bạn phải mua ngay, với bất cứ giá nào, nó cũng tốt nếu so sánh với ngày mai. Bạn phải nói "vâng" hoặc bạn sẽ mất. Đó là tâm lý của người mua. Sự hoảng sợ có thể xuất phát từ cách nghĩ, ngày mai có thể tệ hơn."

Chỉ một nhà xuất khẩu đứng ngoài việc tăng phụ phí và các hiện tượng tăng giá nhanh khác – Arập Xêút. Đã tăng giá từ 1973, bây giờ họ phản đối "nhảy phốc" vì lo sợ cái lợi trong ngắn hạn có thể sẽ gây tổn thất về lâu dài cho các nhà xuất khẩu. Các nước Arập ban hành cái gọi là "Sắc lệnh Yamani", tuyên bố rằng Arập Xêút sẽ giữ giá chính thức, không tăng thêm. Thêm vào đó, Arập Xêút yêu cầu bốn Công ty Aramco bán giá chính thức cho cả các chi nhánh của họ và cho các bên thứ ba. Nếu Arập Xêút phát hiện ra họ thêm giá thì họ sẽ bị cắt nguồn cung. Arập rõ ràng cô độc khi hành động như vậy, cả ở buổi họp với OPEC trong tháng 3 và các tháng sau đó. Đồng minh duy nhất ở OPEC của họ là các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, có nhiều áp lực từ các nước Phương Tây. Một quan chức cấp cao, đã đi từ Washington, và Bonn, Paris, và Tokyo – đến Riyadh để cổ vũ mọi đông thái họ làm theo hướng đó.

Nhưng vào quý II năm 1979, Arập cắt giảm sản lượng, quay lại mức trần 8,5 triệu thùng một ngày. Mặc cho nỗ lực của Arập Xêút nhằm giữ giá chính thức, giá thị trường chợ đen lại tăng. Có nhiều lý do được đưa ra. Arập Xêút có cố gửi một thông điệp hòa giải đến chính quyền Islamic mới Ayatollah Khomeini bằng cách giữ thị trường cho Iran và vì vậy tránh đối đầu trong khu vực? Hay họ đang tỏ thái độ không đồng tình với Hiệp ước hòa bình ở trại David giữa Israel và Hy Lạp, được ký vào 26 tháng 3. Hay họ tập trung vào tình hình tài chính của riêng họ? Bản thân Arập Xêút cũng tranh cãi nhau về việc giữ nguồn dự trữ dầu và "câu hỏi về việc sản lượng vượt quá yêu cầu thực tế", đặc biệt ở thời điểm họ thấy rằng nhập khẩu dầu thật sự đang tăng. Hoặc có thể Arập Xêút thấy nguồn cung từ Iran đang trở lại, cho rằng cuộc khủng khoảng có thể sẽ qua đi sớm. Bất kể vì lý do là gì, thì sự thật là chỉ có Arập Xêút mới có khả năng, mà Mỹ đã từng có, là khả năng giải quyết khủng hoảng. Bởi vậy, dù phương Tây có ca ngợi sự điều hòa giá của Arập Xêút, họ cũng yêu cầu Arập Xêút khẩn cấp tăng sản lượng trở lại nhằm tăng nguồn cung và hạn chế khủng hoảng.

Sống nguy hiểm

Vài giờ sau khi buổi họp của OPEC kết thúc, sáng sớm ngày 28 tháng 3, một cái máy bơm bị vỡ, sau đó là van ở nhà máy hạt nhân Three Mile Island, gần Harrisburg, Pennsylvania. Kết quả là hàng trăm nghìn gallon nước phóng xạ đổ ra. Sự kiện ở Three Mile Island gây ra những nghi ngờ liệu có thể phát triển năng lượng hạt nhân trong tương lai. Nó cũng đe dọa giả định ở phương Tây rằng năng lượng hạt nhân có thể là nguồn năng lượng chính yếu để đối phó lại cuộc khủng hoảng dầu năm 1973. Sự kiện này có nghĩa rằng thế giới công nghiệp sẽ phụ thuộc hơn vào dầu. Tai nạn này gây nên tình hình ảm đạm, bi quan hơn ở châu Âu. Một quan chức chịu trách nhiệm về năng lượng ở Ủy ban châu Âu cho biết: Một tình huống mà chúng ta đã hình dung sẽ vào khoảng giữa những năm 1980 khi mà sẽ có cuộc khủng hoảng dầu đang xảy đến đây rồi. David Howell, quan chức năng lượng Anh nói: "Mọi lựa chọn đều khó khăn, và hầu hết đều tốn kém. Các bạn, chúng ta đang sống trong tình trạng nguy hiểm."

Nỗ lực giảm cầu, giảm vòng xoáy tăng giá của các chính phủ phương Tây, đã chứng tỏ là không hiệu quả. Nhưng họ cũng tỏ ra miễn cưỡng với sáng kiến hệ thống chia sẻ dầu khẩn cấp của Cơ quan năng lượng quốc tế, vì sợ rằng nó sẽ làm thị trường thêm khắc nghiệt. Và, trong bất cứ trường hợp nào, họ không rõ liệu mức khởi động của hệ thống, 7% thiếu hụt, có đạt được đến. Các chính phủ bị phân tán giữa hai mục tiêu: đạt được mức giá thấp tương đối và bảo đảm nguồn cung ở bất kỳ mức giá nào. Đã có lúc họ đạt được cả hai. Nhưng bây giờ hai mục tiêu trên lại mâu thuẫn. Chính phủ nói đến mục tiêu đầu nhưng khi có áp lực, lại theo đuổi mục tiêu thứ hai. Mục tiêu đầu tiên cung cấp cho người tiêu dùng trong nước, là những cử tri. Các chính phủ châu Âu trở thành những người đi săn, hoặc là qua các công ty hoặc trực tiếp qua các hợp đồng nhà nước. Kết quả là sự nghi ngờ, buộc tội, chỉ mặt, giận dữ giữa các nước được coi là liên minh.

Giá lại tiếp tục leo thang

Cơn ác mộng 1973 đã trở lại. Vì Iran ngừng cung dầu nên đã xảy ra thiếu hụt. Dự trữ ở California thấp, và sau khi tin đồn và báo cáo về sự thiếu hụt ở chợ đen, dường như 12 triệu xe ở trong bang đều dừng lại ở trạm xăng để đổ. Một số bang, trong nỗ lực nhằm tránh cạn kiệt cung, đã cấm các xe mua hơn 5 đô-la xăng mỗi lần. Kết quả là xe lại ghé trạm xăng thường xuyên hơn. Cùng lúc, hệ thống phân bổ của chính phủ liên bang ngừng hoạt động và từ chối cung cấp để thỏa mãn cầu. Kết quả là xăng bị thiếu hụt ở các vùng thành thị, nhưng ở ngoại ô, nơi thiếu vắng khách du lịch lại dư thừa. Nói chung, đất nước đã điều phối thông qua đường gas. Một chiếc xe điển hình sử dụng 7/10 gallon dừng ở đường gas. Một ước tính cho thấy các lái xe Mỹ ở mùa xuân và mùa hè của 1979 có thể đã làm lãng phí khoảng 150.000 thùng dầu một ngày khi dừng lại các trạm xăng.

Các công ty đang giữ dầu, các tàu chở dầu thì bị giữ ngoài khơi để làm giá tăng, ngành công nghiệp cố tình giữ dầu để tạo ra thiếu hụt nhằm tăng giá. Clifton Garvin, Chủ tịch Exxon, quyết định một mình ra công luận để bác bỏ những lời buộc tội. Garvin là người vui vẻ, có kỷ luật, thích xem xét mọi thứ cẩn thận. Là kỹ sư hóa, ông đã làm ở mọi bộ phận của ngành dầu. Bây giờ, ông xuất hiện trên truyền hình, trước giới truyền thông. Nhưng dường như bất cứ khi nào Garvin bắt đầu giải thích về vấn đề cơ bản của dự trữ và những phức tạp trong ngành, những người phỏng vấn lại nhìn sang, cắt ngang và chuyển đề tài.

Ông nhớ lại, "Ông thờ phụng những gì lớn, hiệu quả của nền kinh tế, sản xuất hàng loạt, nhưng ông ghét những gì là lớn, quyền lực, và ngành dầu được coi là ngành lớn nhất và quyền lực nhất. Đó là sự căm ghét khách quan, nhưng Garvin không định nắm lấy cơ hội nào. Một hôm, ông lái xe chờ ở sau đường gas ở trạm Exxon, ở Post Road, trung tâm của Greenwich, Connecticut. Người bán, nhận ra chủ tịch của Exxon, nhường cho ông lên phía trước. Garvin hỏi: "Anh sẽ giải thích với những người đang chờ như thế nào?" Người bán nói: "Tôi sẽ nói với họ ông là ai", Garvin nói chắc chắn: "tôi vẫn sẽ ngồi ở đây".

Xăng và Chủ tịch

Đường dẫn gas đánh dấu sự kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter. Ông là một trong những nạn nhân của cuộc cách mạng Iran và sự thăng trầm trên thị trường dầu mỏ. Carter nắm quyền được hai năm, từ năm 1977, với hai nhân cách trái ngược phản ánh hai mặt của những trải nghiệm của ông. Ông là người giảng đạo, tìm kiếm sự khôi phục về đạo đức của nước Mỹ sau vụ Watergate. Ông cũng là kiến trúc sư, cố gắng kiểm soát sự rối ren trong bộ máy chính trị Mỹ và muốn chỉ huy cả những vấn để lớn lẫn những chi tiết nhỏ.

Carter dường như là hình mẫu sự lãnh đạo phù hợp trong cuộc khủng hoảng 1979; sau tất cả, lịch trình và sự quan tâm của ông như là người giảng đạo và kỹ sư đã tập trung hết vào năng lượng và dầu, khiến chúng trở thành tâm điểm trong nước của chính quyền ông. Và bây giờ, ông đang đối mặt với cuộc khủng hoảng mà ông đã cảnh báo trước. Nhưng không hề có phần thưởng giành cho nhà giảng đạo, chỉ là những lời buộc tội. Cho đến giữa tháng 3 năm 1979, sau hai tháng khủng hoảng, Eliot Cutler, trưởng ban cố vấn về năng lượng của Nhà Trắng, đã cảnh báo về việc "mũi tên đang nhắm về chúng ta từ mọi phía – từ những người muốn từ bỏ bộ máy luật lệ, từ những người lo ngại về nạn lạm phát, từ những người muốn một chương trình hấp dẫn và quyết đoán, từ những người không muốn các công ty dầu mỏ trở thành những kẻ thu lợi nhuận, và từ những người muốn làm cho cuộc sống chính trị trở nên khủng khiếp đối với chúng ta". Chỉ ngay sau đó không lâu là tai nạn ở Three Mile Island, và các nước lo ngại nhìn các tấm ảnh của kỹ sư hạt nhân, Jimmy Carter, trong bộ đồ bảo hộ màu vàng, xem xét kỹ phòng điều khiển của nhà máy bị thiệt hại.

Tháng 4, Carter có một bài phát biểu quan trọng về chính sách năng lượng làm tăng thêm những lời phê bình. Ông thông báo việc từ bỏ kiểm soát giá dầu, khiến các chính trị gia nổi giận muốn đổ lỗi mọi điều tệ cho các công ty xăng dầu. Ông đưa ra thuế lợi tức, đánh lên lơi nhuận vượt quá của các công ty dầu, hành động khiến các nhà bảo thủ, người đổ lỗi cuộc khủng hoảng là do sự can thiệp, điều hành của chính phủ và các chính sách quá kiêu hãnh tức giận.

Một lực lượng đặc nhiệm của tổng thống về năng lượng nhiều lần họp bí mật nhằm tìm ra giải pháp cho sự thiếu hụt xăng dầu. Cách nhanh duy nhất để chiến đấu với sự ngưng trệ, và kết thúc đường dẫn ga, trước khi kết thúc quyền Tổng thống của Carter, là khuyến khích Arập Xêút tăng lại sản lượng. Tháng 6, đại sứ Mỹ tại Riyadh gửi một bức thư chính thức cho Tổng thống Carter và một bản viết tay riêng tư hơn. Cả hai đều khẩn thiết yêu cầu Arập tăng sản lượng. Vị đại sứ cũng gặp Thái tử Fahd, người đứng đầu Hội đồng xăng dầu tối cao quốc gia trong vài giờ, tìm kiếm cam kết để tăng sản lượng và kìm giá xuống. Trong cùng tháng đó, Carter đến Viên để kết thúc đàm phán về thỏa thuận kiểm soát vũ khí của SALT II với chủ tịch Liên bang Xô Viết Leonid Brezhenev. Thỏa thuận SALT II, sau những cuộc đàm phán suốt bảy năm qua ba chính quyền, đáng lẽ đã được ăn mừng như là một thành tựu nổi bật. Nhưng nó đã không như vậy. Nó không đáng kể. Thứ quan trọng nhất lúc đó là đường dẫn gas, và đều do lỗi của Carter.

"Điều tồi tệ nhất của mọi thời đại"

Lúc bấy giờ hầu hết các nước đều bị thiếu hụt xăng dầu. Một cuộc điều tra của Hiệp hội xe Mỹ tại 6.268 trạm xăng toàn quốc cho thấy 58% đóng cửa vào thứ 7, ngày 23 tháng 6, và 70% đóng cửa vào chủ nhật, ngày 24 tháng 6, khiến lượng xăng để dùng vào kỳ nghỉ cuổi tuần đầu tiên của mùa hè ở Mỹ rất ít. Những người lái xe tải đã có một cuộc đình công ầm ĩ và bạo lực khắp toàn quốc. Một trăm xe tải đỗ dài 30 dặm ở đường Expressway, Long Island, khiến hàng chục nghìn lái xe ôtô tức giận. Giá xăng tăng không phải là vấn đề duy nhất. Lạm phát đã tăng đến mức độ chưa từng có.

Như đã xảy ra trước đó, vào thời kỳ thiếu hụt này, người ta ủng hộ chương trình "nhiên liệu tổng hợp lớn, để giảm sự phụ thuộc của Mỹ vào dầu nhập khẩu. Trong con mắt của nhiều người, sự kiện ở Three Mile Island đã khép lại cánh cửa đối với năng lượng hạt nhân. Các phương pháp thay thế đặt ra mục tiêu sản xuất vài triệu thùng nhiên liệu tổng hợp mỗi ngày. Các phương pháp chính là hydro hóa than, một quá trình tường tự như Đức đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và đốt đá ở Rockies lên 48°C. Một chương trình như thế chắc chắn sẽ tiêu tốn khoảng hàng chục tỷ đô-la, mất hàng năm để thực hiện, và gây nên nhiều vấn đề về môi trường. Nó không chắc sẽ mang lại hiệu quả thật sự, ít nhất là theo quy mô được đề ra. Nhưng về chính trị thì nó càng ngày càng có vẻ không cưỡng lại được.

Mặc cho sự ủng hộ "nhiên liệu tổng hợp tăng áp lực lên chính quyền, Carter công du đến Nhật để gặp các nhà lãnh đạo của các nước phương Tây trong cuộc họp thượng đỉnh về kinh tế. Lo ngại rằng sự thiếu hụt dầu sẽ ảnh hưởng lên toàn bộ nền kinh tế thế giới, bảy nhà lãnh đạo của phương Tây trở lại Tokyo để chỉ họp về vấn đề năng lượng. Carter viết trong nhật ký: "Đây là ngày đầu tiên ở cuộc họp thượng đỉnh, và là một trong những ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi." Những cuộc thảo luận đều khắc nghiệt. Kể cả buổi ăn trưa, Carter cũng ghi lại là "không thoải mái và khó chịu, Thủ tướng Đức Helmut Schmidt chỉ trích tôi". Ông thừa nhận sự can thiệp của Mỹ để có một hiệp ước hòa bình đã gây nên những vấn đề về dầu trên toàn thế giới. Còn về Thủ tướng Anh, Margaret Thatcher, Carter thấy bà là "một phụ nữ cứng rắn, cực kỳ bảo thủ, có ý chí mạnh mẽ, không thể thừa nhận rằng bà ta không biết một số thứ".

Điểm dừng chân tiếp theo của Carter là kỳ nghỉ ở Hawaii. Nhưng Stuart Eizenstat, trưởng ban cố vấn về chính sách đối nội của Nhà Trắng, sợ rằng một kỳ nghỉ bấy giờ sẽ là một thảm họa chính trị. Ông ta cho rằng tổng thống, sau khi đi ra nước ngoài gần một tháng sẽ không hiểu được tình hình trong nước. Trên đường đến Nhà Trắng một buổi sáng, Eizenstat ngồi chờ 45 phút ở một đường dẫn gas vào trạm Amoco, đại lộ Connecticut, ông thấy mình cũng bị ức chế giận dữ như những công dân khác từ phía này đến phía kia của đất nước. Và mục tiêu của sự giận dữ không phải nhằm vào những người làm xăng dầu, hay các công ty xăng, mà chính là chính phủ. Sau này Eizenstat nói: "Đó là thời kỳ đen tối. Tất cả các vấn đề, lạm phát và năng lượng, đều kết hợp lại. Và dường như vấn đề không giải quyết được." Tổng thống bị sao nhãng bởi vấn đề nước ngoài cần hiểu điều gì đang xảy ra ở nhà. Vì vậy trong ngày cuối cùng ở Tokyo, Eizenstat gửi cho Carter một báo cáo về tình hình thiếu hụt xăng: "Không có gì khiến người Mỹ bối rối giận dữ như thế", và nói chỉ trích đều nhằm vào ông. Ông nói thêm: "Xét theo nhiều khía cạnh, điều này có vẻ là điều tồi tệ nhất từ trước tới nay. Nhưng tôi thật sự cho rằng chúng ra có thể biến nó thành cơ hội". Carter hủy bỏ chuyến đi Hawaii, trở về từ Tokyo, ông thấy tỷ lệ ủng hộ đã xuống đến mức 25%, chỉ bằng Nixon trong ngày cuối cùng trước khi ông ta từ chức. Ông về trại David, ở núi Maryland, nơi ông nhận được bản phân tích dày 107 trang về tâm lý trong nước do Patrick Caddell, người trưng cầu dân ý mà ông tin tưởng nhất, viết. Ông định hòa giải tương lai của đất nước. Ông cũng gặp những người đứng đầu của Mỹ và chào đón một quyển sách mà cho thấy "tính tự yêu" là vấn đề trung tâm của nước Mỹ.

Tháng 7, Arập nâng sản lượng từ 8,5 đến 9,5 triệu thùng một ngày. Họ đã đáp lại yêu cầu của Mỹ và đáp ứng lợi ích an ninh của riêng họ. Điều này làm dịu bớt tình trạng thiếu hụt trong vài tháng sau đó, nhưng nó không phải là giải pháp dài hạn, hoặc là cái gì đó mà Mỹ và phương Tây có thể phụ thuộc để ổn định tốt. Sản lượng thêm này cũng không thể làm dịu cơn giận ở nước Mỹ trong chốc lát.

Kết quả là Carter đã bị thúc ép để làm điều gì đó lớn hơn, tích cực hơn, mang lại giải pháp lâu dài hơn. Ông hoan nghênh kế hoạch nhiên liệu tổng hợp, cần thiết dựa trên chương trình hàng trăm tỷ đô-la. Đây sẽ là chương trình hấp dẫn và quyết đoán, và nhân viên của ông đã làm việc không ngơi nghỉ để thực hiện nó. Một số người tỏ ra nghi ngờ. Tờ New York Times đăng trên trang nhất ngày 12 tháng 7 rằng một nghiên cứu mới từ một nhóm nhà nghiên cứu ở Trường kinh tế Harvard cho thấy Mỹ nên giảm nhập khẩu rẻ và nhanh bằng một chương trình bảo toàn năng lượng hơn là nhiên liệu tổng hợp. Một số khác cảnh báo rằng chương trình nhiên liệu tổng hợp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nhưng trong bài phát biểu vào tháng 7 về "sự khủng hoảng niềm tin của nước Mỹ", Carter thông báo kế hoạch sản xuất 2,5 triệu thùng nhiên liệu tổng hợp một ngày, từ than và dầu đá phiến. Trước đó, ông muốn đề xuất 5 triệu thùng một ngày, nhưng đã bị bác bỏ. Bài phát biểu của ông bị cho là "mệt mỏi".

Carter cũng muốn thay đổi trong nội các, và đặc biệt, buộc hai thành viên phải từ chức, là Bộ trưởng Tài chính, Michael Blumenthal và Bộ trưởng Y tế Joseph Califano. Cố vấn chính trị của ông, Hamilton Jordan và Jody Powel đã thuyết phục ông rằng hai người này không trung thành. Stuart Eizenstat lại nói với tổng thống rằng ông đã làm việc với hai người này hàng ngày và họ rất trung thành với chính quyền. Eizenstat hối thúc tổng thống ngừng quyết định trên vì Califano là người có sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ, còn Blumenthal là người đấu tranh chủ yếu với nạn lạm phát. Nhưng Carter đã quyết định. Họ phải ra đi. Vấn đề chỉ còn là bằng cách nào. Chỉ trước khi Nội các họp, Carter khẳng định tất cả các thành viên nội các đã xin từ chức và ông chỉ giữ lại những ai ông muốn. Một số cố gắng can ngăn ông cho rằng hành động trên chỉ gây thêm hoảng loạn. Nhưng tổng thống lại báo lại rằng mọi người nên nhìn nhận điều này theo hướng tích cực.

Ngoại trưởng Cyrus Vance đề nghị tất cả các bộ trưởng xin từ chức để Carter có thể làm lại. Tổng thống tán thành. Vài phút sau, Robert Strauss, nhà đàm phán hòa bình Trung Đông đi vào, không biết điều gì vừa xảy ra và tại sao căn phòng lại ảm đạm, nói đùa rằng mọi người đều phải từ chức. Lời nói của ông được ủng hộ trong im lặng. Cuối cùng, một trong các bộ trưởng nói thầm "Bob, im đi". Tất cả họ vừa từ chức.

Đồng loạt năm người rời khỏi nội các, một số bị đuổi còn một số tự nguyện. Mục đích là ủng hộ tổng thống. Nhưng nó lại phản tác dụng. Tin bất ngờ về sự kiện này làm lan truyền cảm giác bất an ở trong nước và cả ở phương Tây. Trong buổi ăn trưa hôm đó, biên tập của tờ Washington Post nói rằng chính quyền trung ương Mỹ đã sụp đổ.

Phép biện chứng kiểu mèo và chuột

Mùa hè năm 1979 giá dầu giao ngay trên thị trường thế giới có dấu hiệu bớt căng thẳng. Một vài các quốc gia OPEC tiếp tục giảm sản lượng. Với sự thắng thế của chủ nghĩa dân tộc Arập và vũ khí dầu mỏ, Irac tuyên bố sẽ mở rộng lệnh cấm vận, cấm xuất khẩu dầu sang Ai Cập để trừng phạt Anwar Sadat vì tội đã ký hiệp ước hòa bình tại trại David với Israel năm 1978. Nigeria đã quốc hữu hóa lượng cổ phần lớn của BP tại quốc gia này để trả đũa cho phần doanh thu gián tiếp của công ty này sang Nam Phi, rồi sau đó quay lại đấu giá cổ phần mà nhà nước mới quốc hữu hóa với giá cao hơn. Đây được coi là một cách tận dụng vũ khí dầu mỏ "sâu sắc" nhất kể từ năm 1973.

Trong khi đó, các nước nhập khẩu dầu tiếp tục mua vào để dự trữ, chứa đầy các thùng dầu bởi họ thấy lo sợ về tương lai. Mọi người đều cho rằng nhu cầu dầu mỏ tiếp tục tăng. Đó là sự nhầm lẫn tai hại. Trên thực tế, đã có những tín hiệu cho thấy dầu giảm giá, điều này phản ánh các tác động đầu tiên của các cuộc đối thoại cũng như sự giảm nhiệt của nền kinh tế, tuy nhiên lúc đầu cũng khó nhận thấy xu hướng giảm giá này. Người ta vẫn ồ ạt nhập dầu. Quan sát của một điều phối viên hãng Shell cho thấy: "Mỗi một cuộc đàm phán với chính quyền các nước sản xuất dầu là một bài học đau đớn. Trong đầu chủ tịch và nhà đàm phán của các công ty dầu mỏ chỉ tâm niệm một điều duy nhất: tiếp tục duy trì các hợp đồng kỳ hạn đồng thời hạn chế nhu cầu thanh toán ngay của các nước xuất khẩu. Tất nhiên các nước cung cấp dầu cảm nhận được điều đó vì vậy phép biện chứng kiểu mèo và chuột bắt đầu. Các điều khoản của hợp đồng và giá dầu phải thanh toán ngày càng trở nên bất lợi hơn.

Thông tin hay đúng hơn là thiếu thông tin trở thành vấn đề then chốt. Nếu như các công ty có được nguồn dữ liệu kịp thời, đáng tin cậy và được công nhận rộng rãi thì họ sớm nhận ra rằng lượng dầu mà họ dự trữ đã vượt quá mức cần thiết và điều này cho thấy nhu cầu về dầu sẽ giảm xuống trong trong tương lai. Tuy nhiên trên thực tế đã không có những báo cáo thống kê như thế và người ta đã không mấy quan tâm tới những con số thống kê ban đầu, do đó dầu vẫn được tiếp tục dự trữ đầy kho và giá dầu tiếp tục leo thang.

Các nước OPEC không ngừng tăng giá dầu bằng mọi cách. BNOC, công ty dầu mỏ quốc doanh của Anh mới được thành lập đã tăng giá dầu thô khai thác tại vùng Biển Bắc và thậm chí vào thời điểm đó công ty còn dẫn đầu thị trường. Một nhà quan sát thị trường dầu lửa tự hỏi: "Nếu BNOC, đứng sau là chính quyền Anh, tiếp tục cư xử như OPEC thì còn ai dám hy vọng OPEC sẽ đặt dấu chấm hết cho tình trạng tăng giá đang diễn ra." Trừ Arập Xêút, các quốc gia xuất khẩu dầu OPEC không ngừng đẩy giá lên cao. Các nhà buôn ngày càng làm náo loạn thị trường, bởi với họ tình trạng lộn xộn, hỗn loạn, hay thay đổi là thời kỳ hoàng kim. Một vài nhà buôn đến từ các công ty thương mại hàng hóa có tên tuổi, một số người tham gia ngành này kể từ sau năm 1973, một số khác là lính mới hoàn toàn. Họ chỉ cần một chiếc điện thoại và một máy fax là có thể bắt tay vào công việc. Dường như những nhà buôn kiểu này xuất hiện ở mọi nơi trong mọi giao dịch, cạnh tranh với các công ty dầu mỏ truyền thống để giành quyền sở hữu những tàu dầu, chúng được bán đi bán lại ngay khi đang lênh đênh trên biển, một tàu dầu có thể được bán gấp 56 lần giá ban đầu. Mối quan tâm duy nhất của các nhà buôn là bán lại thật nhanh. Một lượng dầu lớn đang bị đe dọa mà mỗi một tàu dầu lớn có thể trị giá tới 50 triệu đô-la.

Việc hệ thống hợp nhất các công ty lớn tan vỡ đã hình thành nên tầng lớp nhà buôn dầu. Trước đây, dầu chỉ được chu chuyển theo các kênh thống nhất bên trong công ty hay chỉ được trao đổi giữa các công ty với nhau. Nhưng đến nay các công ty dầu mỏ ngày càng chiếm tỷ lệ lớn hơn trong tổng sản lượng, họ lại không có các công ty phụ trợ chế biến của riêng mình chính vì thế các công ty này phải bán dầu cho nhiều người mua khác nhau: có thể là các công ty dầu mỏ lớn, các công ty chế xuất dầu độc lập và các nhà buôn. Các nhà buôn sẽ kiếm lợi nhuận thông qua các cuộc đấu giá lớn, tận dụng chênh lệch giữa các hợp đồng kỳ hạn giá thấp với hợp đồng giao ngay tuy nhiều biến động nhưng giá cao hơn. Một nhà lãnh đạo cao cấp của một trong những công ty dầu mỏ hàng đầu đã quan sát thấy rằng: "Các nhà buôn có thể kiếm được khá tốt. Tất cả những gì anh ta phải làm là tìm một hợp đồng kỳ hạn", sau đó, bốc hàng khỏi tàu rồi bán lại với 8 đô-la lãi cho mỗi thùng dầu tại thị trường giao ngay, điều này đã khiến các nhà buôn giàu lên trên từng cargo dầu". "Những gì một nhà buôn phải làm để có được hợp đồng là trả một khoản nhỏ tiền hoa hồng cho các bên liên quan và đôi khi không cần phải gửi phong bì "hối lộ." So sánh với những gì mà phía thương nhân kiếm được, số tiền này chỉ đơn thuần là một kiểu thả con săn sắt bắt con cá rô mà thôi.

Vì thế, vào cuối hè chớm thu năm 1979, thị trường dầu mỏ thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn với mức độ ảnh hưởng toàn cầu lớn hơn nhiều so với đầu những năm 1930, thời điểm Cha Joiner phát hiện dầu mỏ ở Đông Texas đồng thời là những ngày khởi đầu của nền công nghiệp Tây Pennsylvania. Và trong khi nhà sản xuất và các công ty buôn bán thu về bộn tiền, thì các nước tiêu thụ lại phải rút hầu bao nhiều hơn trước tình trạng dầu mỏ hỗn loạn. Đối với những nước sản xuất đang hết sức hồ hởi thì đó chính là một chiến thắng nữa của quyền năng dầu mỏ. Họ cho rằng sức chịu đựng của thị trường cũng như lợi nhuận thu về là không có giới hạn. Các nước phương Tây thì lo lắng rằng không chỉ giá cả loại hàng hóa quan trọng nhất thế giới này hay tốc độ tăng trưởng hay tính ổn định của nền kinh tế toàn cầu đang bị đe dọa, mà thậm chí cả trật tự thế giới và cơ cấu xã hội cũng có thể bị ảnh hưởng.

"Khủng hoảng toàn cầu"

James Schlesinger là một trong những quan chức đã rời bỏ nội các của Jimmy Carter. Chán nản vì những vấn đề liên tục nảy sinh, không chỉ ở thị trường năng lượng, mà còn trong cả nền chính trị thế giới – và quan điểm của nước Mỹ − Schlesinger quyết định bày tỏ tâm trạng mình trong bài diễn văn từ chức tại Washington, giống như cách đây 4 năm, khi Gerald Ford buộc ông phải từ bỏ chức Bộ trưởng quốc phòng. Trong không khí ảm đạm, Schlesinger dự định sẽ viết bài phát biểu với lời lẽ vừa khích lệ vừa cảnh báo. Ông bắt đầu bằng việc viện dẫn từ "Khủng hoảng thế giới" trong quyển "Lịch sử Chiến tranh thế giới thứ nhất" của Winston Churchill. Đó là từ mà Churchill viết với mong muốn Hải quân Anh sẽ chuyển sang sử dụng dầu mỏ thay vì than đá, bất chấp nguy cơ lệ thuộc vào dầu mỏ của Iran là hoàn toàn có thể. Giờ đây, sau sáu thập kỉ, nguy cơ đó đã trở thành hiện thực ngoài sức tưởng tượng và dự đoán của mọi người.

"Hiện nay chúng ta phải đối mặt với cuộc khủng hoảng toàn cầu có quy mô lớn hơn những gì mà Churchill đã nói đến cách đây hơn một nửa thế kỷ với nhiều vấn đề đáng ngại mà nguyên nhân bắt nguồn từ dầu mỏ," Schlesinger nói. "Có quá ít điều để có thể lạc quan về viễn cảnh tương lai. Bất cứ sự gián đoạn nào bắt nguồn từ những quyết sách chính trị, sự bất ổn chính trị, hành động khủng bố hay những vấn đề của khoa học kỹ thuật cũng sẽ đem lại những hậu quả khôn lường. Bức tranh về tương lai ngành năng lượng đang thực sự ảm đạm và nhiều khả năng sẽ còn ảm đạm hơn thế nữa trong những thập kỷ tới." Và cho dù Schlesinger sau này có nói rằng: Tôi không phải là người bi quan", thì trong trường hợp này, ông cũng không thể làm gì để cứu vãn tình hình. Do đó, trong bài phát biểu từ chức đã có dự tính trước này, ông ít nhiều cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi quyết định rời bỏ cuộc sống công quyền. Ít lâu sau đó, những lời nhận xét bi quan hay mối quan ngại của ông về nguy cơ bị ảnh hưởng của phương Tây ngày một gia tăng và cả những điều mà nhiều người gọi là sự suy thoái của các nước phương Tây đã xảy ra với mức độ nguy hại khó lường.

(Còn tiếp)

Nam Hà (giới thiệu)

  • demo-banner-300x250
  • demo-banner-300x250
  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps