Thứ bảy 25/11/2017 12:30

Dầu mỏ, Tiền bạc và Quyền lực (Kỳ 31)

13:52 | 14/07/2017

|
Khi chiến tranh trở nên vô cùng quan trọng đối với các nhà chiến lược quân sự thì dầu lửa rõ ràng cũng rất quan trọng đối với nhà khai thác dầu lửa.
dau mo tien bac va quyen luc ky 31
Khai thác dầu ở Trung Đông

CHƯƠNG 30: "TRẢ GIÁ CHO CUỘC SỐNG"

Hành động cấm vận báo hiệu một kỷ nguyên mới cho tình hình dầu lửa thế giới. Khi chiến tranh trở nên vô cùng quan trọng đối với các nhà chiến lược quân sự thì dầu lửa rõ ràng cũng rất quan trọng đối với nhà khai thác dầu lửa. Dầu lửa đã trở thành phạm vi quan tâm chung của các vị tổng thống, thủ tướng, của các vị bộ trưởng ngoại giao, tài chính và năng lượng, của các nghị sĩ Quốc hội và các nghị sĩ hùng biện, của các "Nga hoàng", của các nhà hoạt động và các nhà phê bình, và đặc biệt là của Henry Kissinger, người mà trước năm 1973 không hề biết chút gì về tình hình dầu lửa cũng như tình hình kinh tế thế giới. Ông ta quan tâm đến những chính sách và chiến thuật lớn. Những tháng sau cấm vận, ông ta nói với sĩ quan phụ tá: "Đừng nói với tôi về những thùng dầu, với tôi chúng chỉ như những chai coca-cola mà thôi. Tôi không biết gì về chúng đâu". Một khi vũ khí dầu lửa được đưa vào cuộc chiến thì nhà ngoại giao với lập trường vững vàng này sẽ được việc hơn bất cứ một ai để làm công việc tra kiếm vào vỏ.

"Sự thua cuộc"

Có hai yếu tố tạo nên cái gọi là "lệnh cấm vận dầu lửa của người Arập". Yếu tố lớn nhất bao gồm sự kiềm chế sản xuất, điều này đã ảnh hưởng tới toàn bộ thị trường – đầu tiên là những cắt giảm, sau đó là giảm thêm 5% mỗi tháng. Yếu tố thứ hai là lệnh cấm toàn bộ về xuất khẩu dầu mỏ, điều này bước đầu được áp đặt cho hai quốc gia, Mỹ và Hà Lan, các nước tiếp theo là Bồ Đào Nha, Nam Phi và Rhodesia. Một điều trớ trêu là, cuộc cấm vận này cũng ảnh hưởng tới cả những lực lượng quân đội của Mỹ tại Đông bán cầu, bao gồm cả Hạm đội sáu, mà một trong những trách nhiệm của các lực lượng này là bảo vệ một số quốc gia đang áp đặt lệnh cấm vận. Các công ty dầu mỏ có lẽ cho rằng việc cắt giảm đặc biệt của họ là dấu hiệu cho thấy lượng dầu thiếu hụt sẽ được thêm vào từ những nguồn khác, tuy nhiên nếu Lầu Năm Góc đang bề bộn trong một cuộc khủng hoảng quân sự lớn không nhận ra dấu hiệu này thì hành động này có thể làm ảnh hưởng đến lực lượng quân đội Mỹ, và phản ứng đương nhiên là sự giận dữ. Quốc hội Mỹ cũng không nhận ra dấu hiệu này, và một điều khoản bổ sung đã nhanh chóng được thông qua, coi đây là một hành động phạm tội chống lại Bộ Quốc phòng. Trong khi đó, các nguồn cung cấp cho quân đội Mỹ đã được nối lại.

Đầu tháng 11 năm 1973, chỉ hai tuần sau quyết định đầu tiên về việc sử dụng vũ khí dầu lửa, bộ trưởng của các nước Arập đã đưa ra quyết định tăng thêm quy mô của việc cắt giảm trên mọi lĩnh vực. Thật sự thì có bao nhiêu lượng dầu bị cắt giảm? Lượng dầu lửa sẵn có của người Arập vào đầu tháng 10 là 20,8 triệu thùng dầu một ngày. Trong tháng 12, tại thời điểm căng thẳng nhất trong chiến dịch cấm vận, đã có 15,8 triệu thùng dầu bị cắt giảm trong một ngày, giảm đi 5 triệu thùng dầu cung ứng trên thị trường. Tuy nhiên, trong thời gian này, Mỹ không hề có sản lượng dầu thừa. Sự cắt giảm này cho thấy sự thay đổi lớn về những động lực chính trị và tình hình dầu lửa như đã từng diễn ra sáu năm trước, trong suốt Cuộc chiến tranh sáu ngày năm 1967. Sản lượng dầu thừa của Mỹ là yếu tố quan trọng bậc nhất bảo đảm cho an ninh năng lượng của các nước phương Tây, không chỉ trong các cuộc khủng hoảng năng lượng thời hậu chiến mà còn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Giờ đây sự bảo đảm đó đã không còn. Không có nó, Mỹ sẽ đánh mất ảnh hưởng quan trọng của mình trên thị trường dầu thế giới. Những nước sản xuất dầu mỏ khác, đi đầu là Iran, có khả năng gia tăng sản lượng lên tới 600.000 thùng một ngày. Iraq, quốc gia đưa ra lời đề nghị về chiến tranh kinh tế tổng lực chống lại Mỹ đã bị các nước Arập sản xuất dầu lửa phản đối, không chỉ tỏ ra phật ý. Iraq đã thật sự tăng sản lượng và do đó tăng thu nhập quốc gia. Tìm kiếm lời giải thích cho những chính sách của đất nước mình, Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã nguyền rủa chính phủ các nước Arập Xêút và Côoét là "giới cầm quyền phản động nổi tiếng với những mốt liên kết với Mỹ và những quyền lợi mang tính độc quyền của Mỹ" và công kích hành động cắt giảm nguồn chi viện cho châu Âu và Nhật Bản như thể ném họ quay trở về tầm kiểm soát của những người Mỹ đáng ghét.

Sản lượng tăng, xét về mặt nào đó có nghĩa là sự thua lỗ của nguồn cung ứng trong tháng 12 là 4,4 triệu thùng dầu một ngày, hoặc khoảng 9% trong tổng 50,8 triệu thùng dầu một ngày, điều này đã xảy ra trên thị trường tự do hai tháng trước đó cho nên đây không phải là lần đầu tiên xảy ra một sự sụt giảm lớn như vậy. Tuy nhiên, nó tương đương với mức sụt giảm 14% trong ngành dầu lửa thương mại thế giới. Và ảnh hưởng của nó còn có thể khủng khiếp hơn nữa bởi vì tỷ lệ tiêu thụ dầu lửa trên thế giới đang tăng lên nhanh chóng − khoảng 7,5% một năm.

Sau khi mọi chuyện diễn ra, người ta mới hiểu rõ những thiệt hại và giới hạn của nó. Trong tiến trình cắt giảm, với sự phóng đại số lượng sụt giảm, người ta không biết chắc số lượng dầu có sẵn. Sự bối rối này là kết quả của sự trái ngược và chắp vá những thông tin và tình trạng chia rẽ hàng loạt những kênh cung ứng, tất cả đều bị bao trùm bởi những cảm xúc dữ dội và cuồng bạo. Những nghi vấn chưa có câu trả lời đã khiến nỗi lo sợ và sự lộn xộn ngày càng tồi tệ hơn. Liệu có cần cắt giảm thêm không? Sẽ có thêm những quốc gia khác bị cấm vận hay không? Các quốc gia có thay đổi từ "trung lập" sang "ưu đãi" hay sang danh sách "ưu tiên số một" có đồng nghĩa là các nước Arập sẽ trả ơn họ vì đã cư xử tốt khi cấp cho họ thêm dầu? Sẽ có những quốc gia nhận thấy họ cần trừng phạt mạnh tay hơn nữa?

Ngoài ra, còn có thêm một điều không chắc chắn nữa. Trong những phân tích cuối cùng, các nước xuất khẩu dầu mỏ đã nghĩ tới những doanh thu. Năm 1967, các nước xuất khẩu rút lệnh cấm vận bởi họ nhận thấy rằng tổng lợi nhuận của họ đã sụt giảm. Rút kinh nghiệm từ bài học đó, ít nhất là qua năm 1972, vua Faisal mới miễn cưỡng dùng đến vũ khí dầu lửa. Tuy nhiên hiện tại, trước tình hình giá dầu đang tăng nhanh chóng mặt, các nước xuất khẩu có thể cắt giảm về lượng mà vẫn tăng tổng doanh thu của mình. Họ có thể bán ít đi mà vẫn thu về nhiều tiền hơn. Nhìn vào doanh thu, họ có thể quyết định việc cắt giảm lâu dài và sẽ không bao giờ đưa sản lượng dầu về mức cũ, điều đó có thể dẫn tới sự thiếu hụt kinh niên, nỗi lo sợ lâu dài – và những mức giá dầu cao hơn nữa.

Sự hoang mang trong những mưu toan

Có phương pháp nào giải quyết vấn đề giá cả bất ổn tốt hơn trong tình hình cung ứng dầu vào những tháng cuối cùng đáng nhớ của năm 1973? Tình hình lúc ấy là chiến tranh và bạo lực, cắt giảm nguồn cung ứng, cấm vận, sự khan hiếm, những khách hàng tuyệt vọng, nỗi ám ảnh của việc cắt giảm sản lượng, và khả năng các nước Arập sẽ không bao giờ khôi phục lại sản lượng. Nỗi sợ và sự không chắc chắn lan tràn khắp nơi và đã có một tác động theo như mong muốn: cả các công ty dầu mỏ và người tiêu dùng hoảng loạn tìm kiếm những nguồn cung ứng dầu bổ sung không chỉ cho nhu cầu trước mắt mà còn dự trữ cho sự khan hiếm trong tương lai. Khủng hoảng cầu cho thấy nhu cầu về dầu vượt quá bình thường trên thị trường. Thật vậy, người tiêu dùng tranh giành nhau dữ dội để có được bất cứ thùng dầu nào. Một công ty lọc dầu độc lập vốn không sở hữu nguồn cung ứng dầu cố định nào đã phát biểu: "Chúng ta không chỉ đang trả giá cho dầu. Chúng ta đang trả giá cho cuộc sống của chúng ta".

Việc trả giá này đã đẩy giá dầu thậm chí lên mức cao hơn nữa. Giá niêm yết dầu của Iran, theo thỏa thuận ngày 16 tháng 10, là 5,40 đô‑la Mỹ một thùng. Tháng 11, ở Nigieria dầu được bán với giá trên 16 đô-la. Giữa tháng 12, Iran đã đưa ra quyết định mở một cuộc bán đấu giá để kiểm định thị trường. Việc đặt giá đã rất kịch tính – hơn 17 đô-la một thùng, tăng 600% so với giá trước ngày 16 tháng 10. Khi đó, tại một cuộc đấu giá ở Nigieria tuy chịu nhiều điều tiếng nhưng được điều hành rất khéo léo, một công ty thương mại Nhật Bản – chưa có kinh nghiệm trong việc mua bán dầu lửa, chịu áp lực giúp bảo đảm nguồn cung ứng cho Nhật Bản và phải cạnh tranh với khoảng 80 công ty khác – đã trả giá 22,6 đô-la Mỹ một thùng. Khi sự kiện này đưa ra, công ty thương mại này khó có thể tìm được người mua với giá đó và thỏa thuận đã không được hoàn thành, tuy nhiên tại thời điểm đó không một ai có thể biết điều đó. Đã có những báo cáo về những mức giá cao hơn. Cấm vận và những hậu quả của nó đã gây ra một cú sốc lan tỏa khắp cơ cấu xã hội của các quốc gia công nghiệp. Viễn cảnh ảm đạm của Câu lạc bộ Rome dường như đã được chứng minh.

E. F. Schumacher dường như đã biết trước sự việc. Những lời than vãn của ông về nguy cơ do tỷ lệ tăng trưởng lạ lùng của nhu cầu về dầu lửa và về những rủi ro của sự phụ thuộc vào Trung Đông đã được chứng minh là đúng. Với việc công bố kịp thời ấn phẩm Small is beautiful vào năm 1973, sau những thập niên dài giấu tên, ông đã nhận ra mình đã làm công việc của một phát ngôn viên cho những người dám thách thức những giáo lý của sự tăng trưởng không kiềm chế và triết lý "càng lớn càng tốt", đã thống trị suốt những năm 1950 và 1960 của thế kỷ XX. Giờ đây, trong những năm tháng về sau của ông, Cassandra nhà quán quân về than đá và năng lượng trước đây đã trở thành người của quá khứ. Nhan đề của cuốn sách và việc diễn giải nó – Small is beautiful - đã trở thành khẩu hiệu của hoạt động môi trường sau hoạt động cấm vận, và Schumacher được coi là danh nhân trên khắp thế giới. Nữ hoàng Elizabeth trao cho ông giải thưởng CBE và mời ông đến dự bữa trưa tại cung điện Buckingham. Schumacher đã tuyên bố với thế giới: "Bữa tiệc đã kết thúc". Tuy nhiên sau đó ông này đã đặt ra câu hỏi: "Nhưng đó là bữa tiệc của ai?"

Thời đại khan hiếm đã đến gần. Viễn cảnh hết sức u tối: tăng trưởng kinh tế giảm trầm trọng, sự suy thoái về kinh tế, tình trạng lạm phát. Hệ thống tiền tệ quốc tế có thể phải lệ thuộc vào sự biến vị cực độ. Phần lớn các nước đang phát triển sẽ chắc chắn phải chịu sự trì trệ trầm trọng. Và có một lý do thích đáng để tự hỏi về những tác động chính trị lên chế độ dân chủ công nghiệp từ sự thất bại của tăng trưởng kinh tế bền vững, điều này đã đưa xã hội quay lại những năm hậu chiến. Phải chăng những khó khăn về kinh tế kéo dài có nghĩa là một sự hồi sinh của sự xung đột nội địa trong những năm giữa hai cuộc chiến, điều vốn đã gây ra những hậu quả khủng khiếp? Hơn nữa, Mỹ, một siêu cường quốc đứng đầu thế giới và là nước có uy tín trên thế giới, cũng đã bị phó mặc ở thế phòng thủ, và bị hạ nhục bởi một loạt các quốc gia nhỏ. Phải chăng hệ thống quốc tế sẽ được chỉnh đốn lại? Phải chăng sự suy yếu của phương Tây sẽ là một sự trỗi dậy không thể tránh được của tình hình mất trật tự trên thế giới? Những người tiêu dùng cá nhân bắt đầu lo lắng về giá cả tăng cao, ví tiền và tình trạng cuộc sống khó khăn của họ. Họ lo ngại rằng sự kết thúc của kỷ nguyên này đang đến gần.

Tình hình cấm vận đã có những ảnh hưởng dữ dội đến tinh thần của các nước Tây Âu và Nhật Bản. Tình trạng chia rẽ đã tức thời đưa họ quay trở về những năm hậu chiến nghèo khổ và túng thiếu đầy cay đắng. Những thành tựu kinh tế bất ngờ của họ vào những năm 1950, 1960 của thế kỷ XX dường như chỉ là nhất thời. Ở Tây Đức, Bộ Kinh tế nhận trách nhiệm phân phối và nhận ra bộ này gần như đang bị ngập trong một biển thư tín được gửi đến từ những ngành kinh doanh đầy lo lắng. Đầu tiên là củ cải đường với một mùa vụ bấp bênh, không ổn định. Nếu như các nhà máy sản xuất đường cạn kiệt dầu chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ thì toàn bộ hoạt động của ngành sẽ bị dừng lại, và đường sẽ bị kết tinh thành ống. Điều đó có nghĩa là các nhà máy tinh lọc đường ở Đức cần nhanh chóng được cung cấp đủ nhiên liệu dầu.

Ở Nhật Bản, cuộc cấm vận thậm chí còn hơn cả một cú sốc phá hủy. Niềm tin vốn được đắp xây bởi sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ bỗng chốc bị tiêu tan, tất cả những nỗi sợ hãi xưa kia về tình trạng không được bảo vệ lại tràn về. Bản thân nước Nhật cũng tự hỏi bất chấp mọi nỗ lực của mình, họ có lại bị lâm vào cảnh nghèo đói hay không? Những nỗi lo sợ bị gợi lên bởi cuộc cấm vận châm ngòi cho một loạt những khủng hoảng gợi nhớ lại thời kì "khủng hoảng lúa gạo" đầy bạo lực đã làm rung chuyển Chính phủ Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Những người lái xe taxi tiến hành những cuộc biểu tình, những bà nội trợ đổ xô đi mua và tích trữ bột giặt và giấy vệ sinh phòng khi cần. Giá giấy vệ sinh có thể tăng lên gấp bốn lần giá dầu, nếu như không có sự kiểm soát của chính phủ. Kết quả là, tại Nhật Bản, tình trạng khan hiếm dầu lửa đi đôi với khan hiếm giấy vệ sinh. Tại Mỹ, sự thiếu hụt đã đánh vào những niềm tin cơ bản về sự dồi dào bất tận của nguồn tài nguyên, niềm tin đã ăn quá sâu vào tiềm thức khiến cho đại bộ phận dân chúng Mỹ không hề hay biết tình hình cho đến tháng 10 năm 1973, khi mà Mỹ đã hoàn toàn phải nhập khẩu dầu. Tuy nhiên, không thể lay chuyển được khi trong nhiều tháng, người sử dụng xe gắn máy ở Mỹ đã phải chứng kiến giá xăng bán lẻ trên thị trường tăng thêm 40% với những lý do mà họ không thể hiểu. Không một loại giá cả nào lại có những ảnh hưởng nhanh chóng, rõ ràng như giá xăng dầu. Những người sử dụng xe gắn máy không chỉ phải chi tiền để đổ đầy bình xăng của mình mà còn phải chiều theo sự tăng giá cho từng gallon dầu của các trạm xăng mỗi ngày. Tuy nhiên, sự khan hiếm này thậm chí còn trở nên mạnh mẽ hơn với sự xuất hiện của John Sawhill, một thành viên trong Văn phòng năng lượng liên bang, gọi là "Những biện pháp cắt xén nguồn cung ứng một lần" - hay "Đường lối xăng dầu".

Những đường lối xăng dầu này là dấu hiệu rõ ràng về lệnh cấm vận và những tác động trực tiếp của hành động này tới Mỹ. Một hệ thống phân phối đã được áp dụng tại Mỹ chỉ ngay trước khi cấm vận xảy ra, lý do là vì sự thắt chặt đang gia tăng của thị trường. Hệ thống này giúp phân phối đều trên cả nước. Giờ đây, hệ thống này bảo đảm chắc chắn rằng xăng dầu sẽ không thể bị chuyển từ một nơi đã được cung ứng đầy đủ sang nơi nó được cần đến. Theo như những báo cáo và tin đồn được tung ra, người Mỹ đang cầu nguyện cho tình hình khủng hoảng hàng hóa của đất nước họ – không chỉ tình hình về thuốc tẩy hay giấy vệ sinh mà còn cả về xăng dầu lắng xuống. Những người điều khiển xe gắn máy vốn chấp nhận lái xe cho đến khi đồng hồ đo xăng hầu như chỉ về con số không, giờ đây muốn đổ đầy bình xăng ngay cả khi họ chỉ muốn mua thêm 1 đô-la, theo đó củng cố thêm việc gia những đường lối xăng dầu. Người dân rất thận trọng vì không ai muốn lâm vào cảnh sáng hôm sau thức dậy với nguồn dầu lửa cạn kiệt. Ở một số trạm xăng, việc mua bán xăng tùy vào từng ngày trong tuần hoặc chỉ có những ai có giấy phép lái xe mới được mua xăng. Những người điều khiển xe gắn máy đứng đợi thành hàng dài trong nhiều tiếng đồng hồ trong tình trạng mất kiên nhẫn. Ở rất nhiều nơi trên nước Mỹ, nhiều trạm xăng phải treo biển thông báo: "Xin lỗi, đã hết xăng" – rất khác so với những thông báo "chiến tranh xăng dầu" trong giai đoạn giảm giá, điều vốn rất phổ biến trong thập niên dư thừa. Cấm vận và tình trạng khan hiếm mà nó gây ra là một thay đổi đột ngột đối với lịch sử nước Mỹ, và có nguy cơ hủy hoại dữ dội niềm tin của người Mỹ vào tương lai.

Sự liên hệ với giá thịt bò

Tổng thống Mỹ Richard Nixon tìm cách khôi phục lại niềm tin của người dân. Đầu tháng 11, trong cuộc họp với nội các về vấn đề năng lượng, một thành viên nội các đã có đề xuất giảm thiểu đèn chiếu sáng tại các tòa nhà công cộng. Tổng thống đáp lại: "Nhưng ông sẽ phải thuê nhiều cảnh sát hơn". Nixon đã nghĩ đến những biện pháp ý nghĩa và hiệu quả hơn. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, ông có bài diễn văn quan trọng về vấn đề năng lượng trước một quốc gia đang trong tình trạng lo sợ và được cảnh báo. Ông đã đưa ra một loạt những đề xuất. Người dân nên giảm thiểu sử dụng máy điều hòa và dùng chung xe. Ông cũng sẽ tìm kiếm quyền hành động để nới lỏng những tiêu chuẩn về môi trường, tạm thời dừng việc chuyển đổi sử dụng từ than đá sang dầu lửa, và thành lập một Ban quản lý phát triển và nghiên cứu năng lượng. Ông kêu gọi thực hiện một nhiệm vụ quốc gia quan trọng có tên gọi Dự án độc lập. Ông nói: "Chúng ta hãy đặt mục tiêu quốc gia, theo tinh thần của Apollo, với quyết tâm của dự án Manhattan, để đến cuối thập niên này chúng ta sẽ phát triển đủ tiềm năng đáp ứng những nhu cầu năng lượng của chúng ta mà không phải dựa vào bất kỳ nguồn năng lượng từ nước ngoài nào". Gọi kế hoạch của ông là đầy tham vọng, như thế đã là nói giảm đáng kể: kế hoạch này đòi hỏi rất nhiều những tiến bộ công nghệ, những khoản tiền lớn, và cần phải khéo léo để tránh trở thành một hình thức mới của chủ nghĩa môi trường. Nhân viên của ông đã nói với ông rằng mục tiêu độc lập năng lượng vào năm 1980 là điều không thể, và họ cũng cho rằng việc công bố ra điều này là điều thật ngốc nghếch. Tổng thống Nixon đã bác bỏ những ý kiến của họ. Vấn đề năng lượng giờ đây vừa là một cuộc khủng hoảng, vừa là những quan điểm chính trị quan trọng.

Ngài tổng thống đã sa thải người phụ trách vấn đề năng lượng, John Love – một người lưu nhiệm từ sau cuộc cấm vận trước, và người thay thế ông này là Thứ trưởng Bộ Ngân khố, William Simon. Thông báo với nội các về chức vụ mới của Simon, Tổng thống Nixon đã so sánh chức vụ này với địa vị của Albert Speer, người được xem như một lãnh chúa của lực lượng vũ trang trong Đệ tam Quốc xã. Nixon giải thích nếu như Speer không được trao quyền điều khiển chế độ quan liêu của Đức thì nước Đức có thể đã bị đánh bại từ lâu. Simon một phần nào đó không cảm thấy bối rối trước sự so sánh này. Tổng thống Nixon còn nói thêm rằng Simon sẽ là một nhà cầm quyền vững vàng. Tuy nhiên, có một điều mà vị tổng thống này chắc chắn chưa có ở Washington đầy bất đồng và rời rạc. Người đứng đầu về vấn đề năng lượng nhận thấy ông ta bị quay cuồng giữa một chuỗi không dứt những cuộc thẩm vấn của những ủy ban Quốc hội và tiểu ban. Khi ra khỏi cuộc họp để đến một cuộc thẩm vấn khác, Simon nhanh chóng quay trở lại xe, và ông đã bị cộc đầu. Kết quả là, có một vết xước trên đầu ông. Mặc dù cần phải khâu ngay vết xước, nhưng ngài chủ tịch ủy ban không muốn hoãn cuộc thẩm vấn, vì thế Simon vẫn phải ngồi nghe thẩm vấn trong suốt năm tiếng đồng hồ với vết thương trên đầu đang rỉ máu. Tình hình trong những tháng thực hiện đường lối xăng dầu vô cùng căng thẳng đến nỗi vợ ông đã ngừng hẳn việc sử dụng những tấm thẻ tín dụng mang tên chồng bà.

Chính quyền đã xoa dịu được những lời chỉ trích phản đối không ngớt về vấn đề phân phối xăng dầu. Cuối cùng, khi những tiếng kêu ca ầm ĩ ngày càng tăng, Tổng thống Nixon đã yêu cầu in và dự trữ tem phân phối. Ngài tổng thống nói: "Có thể điều này sẽ làm yên lòng người dân". Mặc dù chính quyền của tổng thống vẫn tiếp tục thực hiện những chính sách và chương trình nhưng bản thân ngài tổng thống muốn hành động thận trọng để đối phó với cuộc khủng hoảng. Một trong số những người phụ tá, Roy Ash, đã viết một lời ghi nhớ gửi tới tổng thống như một lời cảnh báo khẩn cấp. Ông Ash nói: "Tôi kêu gọi chúng ta không được phép để xảy ra những áp lực sắp tới dựa trên tình trạng khan hiếm, những áp lực mà ngày càng nghiêm trọng bởi những xu hướng và những tin tức báo chí kích động, là nguyên nhân gây ra những chính sách phản tác dụng và không cần thiết. Trong một vài tháng tới, tôi ngờ rằng chúng ta sẽ phải xem lại tình hình khủng hoảng năng lượng như cách mà bây giờ chúng ta đang làm với giá thịt bò, vốn là một vấn đề thường lệ của chính phủ, chứ không phải là vấn đề của tổng thống." Trong ghi chép của mình, Tổng thống Nixon đã có nhận xét như sau: "Điều đó hoàn toàn đúng, và thật sự có ý nghĩa lớn." Tuy nhiên, trên thực tế, chuyện xảy ra với giá xăng dầu lại khác xa với giá thịt bò. Quyền lập ra giá xăng dầu như ở Mỹ dường như đang lâm vào cảnh nguy khốn.

Vậy ai là người phải chịu trách nhiệm? Ngành sản xuất dầu chịu nhiều tác động từ các lệnh cấm vận, sự khan hiếm, và giá cả leo thang. Sau các công ty dầu mỏ, đến lượt chính quyền của Tổng thống Nixon trở thành mục tiêu chủ yếu của sự thù oán. Đầu tháng 12, Daniel Yankelovich, một nhà phân tích đã gửi tới tướng Alexander Haig, một bản thư báo mà ông này đã chuẩn bị theo chỉ thị của Bộ trưởng Ngân khố quốc gia, ông George Shultz về "những dấu hiệu phôi thai của một cuộc khủng hoảng" trong quần chúng nhân dân. "Người dân đang ngày càng lo sợ rằng đất nước đang rơi vào tình trạng cạn kiệt nguồn năng lượng", Yankelovich cho biết, "sự kết hợp của các sự việc đã hình thành nên tâm lý bất ổn của người dân như tin tức sai lệch, sự mất lòng tin, sự rối loạn, và nỗi lo sợ". Những sự việc đó bao gồm vụ bê bối Watergate, sự mất lòng tin vào ngành công nghiệp dầu lửa (ngành vốn được cho rằng sẽ tận dụng việc khan hiếm xăng dầu như một lời bào chữa cho tình hình giá dầu tăng bất hợp lý), sự suy yếu lòng tin vào việc kinh doanh và vào chính quyền của Tổng thống Nixon. Yankelovich cũng cho biết thêm: "Vụ bê bối Watergate đã gây ra cảm giác về bóng đen của bộ máy nhà nước ở khắp nơi", và hệ quả trực tiếp là sự tin tưởng của người dân rằng "giá cả trong nước đang diễn ra rất tốt" đã tụt giảm mạnh từ 62% vào tháng 5 năm 1973 xuống chỉ còn 27% vào cuối tháng 11 cùng năm đó.

Rõ ràng là vụ bê bối Watergate đã đặt ra nhu cầu chính phủ yếu kém phải làm một điều gì đó tích cực hơn, nhưng sức ảnh hưởng của vụ bê bối nào cũng bán riết những nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng dầu lửa của Nhà trắng từng bước một, và đồng thời tiếp tục làm sao nhãng sự chú ý không chỉ của quần chúng nhân dân mà còn của những nhà hoạch định chính sách hàng đầu. Steven Bosworth, Chủ nhiệm văn phòng nhiên liệu và năng lượng của chính phủ điều hành văn phòng Bộ Ngoại giao Mỹ nhớ lại: "Vụ bê bối Watergate đã gây ra tình trạng tê liệt chung. Quốc hội đã bị chìm trong vụ Watergate, hành pháp đã bị kéo vào vụ bê bối, còn Nhà Trắng bị quay mòng mòng. Thật khó để đưa ra một quyết định chính trị về bất kỳ vấn đề nào dựa trên một căn cứ liên ngành. Không hề có một cơ cấu ra quyết định thực tế nào ở Washington – ngoài Henry Kissinger".

Như lời nhận xét của Kissinger, Watergate như "một con quái vật có nhiều xúc tu". Ông dường như là người duy nhất có thể chế ngự được nó. Ông đã cố gắng giữ vững chính sách đối ngoại, trong đó bao gồm tình hình dầu lửa, tách biệt khỏi vụ Watergate, tuy nhiên chính sách năng lượng nội địa không may mắn như vậy. Tháng 11 năm 1973, một viên chức Nhà Trắng đã tranh luận với Haig về bản thông cáo những hoạt động năng lượng của chính phủ. Nhắc đến việc chuyển giao cho tòa án liên bang những cuốn băng ghi âm bí mật tại phòng bầu dục của Tổng thống Nixon, ông nói: "Tôi thừa nhận tôi muốn những tin tức quan trọng ngày thứ hai sẽ khiến mọi người quên đi vấn đề Sirica. Tuy nhiên chúng ta đang tự đánh lừa bản thân mình. Không một hành động nào có thể chôn vùi sự kiện đó". Một vài tuần sau, cố vấn Nhà Trắng, Roy Ash cho biết thêm tin tức về những động thái của tổng thống đối với vấn đề năng lượng, dù được đưa ra vào thời điểm nào, cũng sẽ không nhận được lời phản hồi tích cực. Ông nói: "Có lẽ không có gì có thể hạn chế được tầm ảnh hưởng của Watergate". Đối với những người xung quanh Tổng thống Nixon, họ cho rằng ngài tổng thống luôn kiếm tìm sự kiện chính trị thần kỳ nào đó có liên quan đến dầu lửa và vùng Trung Đông để đưa đất nước này thoát khỏi tình trạng bị ám ảnh bởi vụ bê bối Watergate và từng tình tiết mới của nó. Nếu đó là sách lược của ngài tổng thống, thì nó đã thất bại.

Cùng chịu đựng

Trong bối cảnh của rối loạn, giận dữ, ngờ vực toàn cầu, việc thiếu hụt các nguồn cung ứng dầu lửa sẽ được phân phối như thế nào giữa các quốc gia thông qua các chính phủ hay các công ty dầu lửa? Một vài công ty đã đưa ra lời cảnh báo về tình hình bất ổn của nguồn cung ứng dầu lửa. Đối với các công ty Mỹ, cụ thể là các đối tác của Aramco, thì vấn đề chủ yếu là việc tranh chấp giữa Arập và Israel. Nếu như Mỹ từ bỏ việc ủng hộ Israel, hay ít nhất là hạn chế phần lớn hỗ trợ cho Israel, thì mọi việc sẽ có thể trở về như bình thường. Theo cách thức này, phía Israel nhìn chung tỏ ra không khoan nhượng, nhưng phía các nước Arập thì có vẻ là có. Đối với các công ty ở châu Âu thì vấn đề lại khác hoàn toàn: sự cân bằng cung cầu chặt chẽ đã trở nên bất ổn định và không an toàn như trước. Các nước công nghiệp đã trở nên quá phụ thuộc vào một khu vực bất ổn của thế giới, và vì thế rất dễ bị tổn thương. Câu trả lời thật sự đó là làm chậm lại sự tăng trưởng trong nhu cầu sử dụng dầu cũng như thi hành một số biện pháp an ninh năng lượng chính thức. Công ty Royal Dutch/Shell đã cung cấp cho chính phủ một "quyển sổ hồng" bí mật trong đó cảnh báo rằng tình hình cung ứng dầu lửa đã thoát khỏi tình thế hiểm nghèo và tiếp theo có thể là tình trạng "tranh giành dầu lửa". Không như các công ty của Mỹ, Shell đang thực hiện một chiến dịch theo một hiệp ước liên chính phủ chia sẻ những nguồn cung ứng trong cuộc khủng hoảng và thật sự đã bắt đầu phác thảo ra những nét chính về cách thức hoạt động của hệ thống trong nhóm kế hoạch của công ty này.

Các cuộc thảo luận về một kế hoạch chung giữa chính phủ các nước phương Tây đã diễn ra vào trước tháng 10 năm 1973 và đã có hiệu lực năm 1956 và 1967. Tuy nhiên mỗi chính phủ đòi hỏi một hệ thống đáp ứng được nhu cầu và địa vị của mình. Hơn thế nữa, trước một cuộc khủng hoảng thực tế, những vấn đề này trở nên quá phức tạp, có rất ít thỏa thuận về những nguyên tắc và rủi ro, động lực này là không đủ, và sự phối hợp như thế sẽ gây rất nhiều tranh cãi trong chính sách của Mỹ. Tháng 6 năm 1973, các nước công nghiệp đã nhất trí thành lập "một nhóm hoạt động không chính thức để phát triển và phân tích những quyền mua hoặc bán khác nhau". Và đó là điều họ có thể làm trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Vào giữa cuộc khủng hoảng – với những nghi vấn, với những mối quan hệ không chắc chắn giữa Mỹ và châu Âu, và với ý định khôn ngoan của các nước Arập nhằm chia rẽ các đồng minh phương Tây – không một thể chế nào có thể được thành lập nhanh chóng như vậy. Thỏa hiệp về vấn đề phân phối trong trường hợp khẩn cấp vốn đã tồn tại giữa những thành viên của cộng đồng kinh tế châu Âu, tuy nhiên nó chưa bao giờ được dùng đến. Trên hết thảy, mục tiêu chính của việc cắt giảm sản lượng là nhằm vào Mỹ. Hơn nữa, bằng việc sắp xếp các quốc gia châu Âu theo các thứ tự khác nhau, từ bị cấm vận đến được quan tâm nhất, các nhà xuất khẩu dầu mỏ Arập đã tiến một bước dài trong việc chống lại khả năng các nước châu Âu thống nhất và thực hiện một thỏa thuận chung.

Chính phủ Mỹ có lẽ đã viện dẫn đến Đạo luật sản xuất quốc phòng năm 1950, đạo luật này đã cung cấp hình thức miễn thuế chống độc quyền để các công ty có thể chia sẻ nguồn cung ứng và thông tin trong suốt thời gian cuộc khủng hoảng diễn ra và đạo luật này cũng đã được sử dụng để làm thay đổi các mức độ khủng hoảng như chiến tranh Triều Tiên và sự quốc hữu hóa ở Iran năm 1951 – 1953. Tuy nhiên, lợi ích của nó như đổ thêm dầu vào lửa, làm giảm khả năng của các công ty dầu mỏ trong việc tìm ra cách thoát khỏi cuộc khủng hoảng, làm cho những xung đột giữa các nước Arập với đồng minh phương Tây trở nên rõ ràng và khó khăn. Hơn nữa, những viện dẫn của Mỹ giữa lúc xảy ra vụ bê bối Watergate sẽ gợi ra sự nghi ngờ và những lời chỉ trích lớn tiếng về việc câu kết giữa chính quyền với các công ty dầu mỏ; Tổng thống Nixon đã không còn ở địa vị uy tín đối với quyền lợi của quốc gia.

Chỉ còn cách duy nhất để đối phó với cuộc khủng hoảng – bản thân các công ty phải đóng vai trò là những thành phần chủ yếu. Trước đây, các công ty dầu mỏ đã đóng vai trò trung gian giữa các nước sản xuất và các nước tiêu dùng – mà theo David Barran của công ty Shell gọi là "một lớp màng bôi trơn mỏng manh". Tuy nhiên, hiện tại các công ty này đã nhận ra rằng thật là khó chịu khi ở vị trí trung gian trong suốt thời gian khủng hoảng nghiêm trọng đó, khi mà dầu bôi trơn bị rút đi nhanh chóng.

Một mặt, họ còn cảm nhận được những áp lực trầm trọng từ phía chính phủ các nước Arập. Sự đe dọa đã rõ ràng, các công ty có thể bị mất toàn bộ vị thế của họ ở Trung Đông. Ngày 18 tháng 10, khi nước Arập Xêút lần đầu tiên yêu cầu cắt giảm 10% sản lượng dầu ngay lập tức Công ty Aramco đã hành động, và công ty này làm theo phương án tốt nhất là chỉ cắt giảm thêm một chút. Điều này mở ra tình huống khó chịu và bất thường của một công ty của Mỹ – một công ty quan trọng trong số các công ty đầu tư nước ngoài của Mỹ – khi phải đứng ở vị trí mà nó đã làm đủ cách để tránh: thực hiện lệnh cấm vận chống lại nước Mỹ. Tuy nhiên, liệu công ty này có sự lựa chọn nào không? Việc hợp tác và đưa càng nhiều dầu lên thị trường thế giới càng tốt phải chăng không tốt bằng bị quốc hữu hóa hay bị lãng phí? George Keller của Chevron, một giám đốc Aramco, nói rằng: "Chỉ có một sự chọn lựa đó là không có tàu chở dầu nữa". Sau đó, ông còn nói thêm: "Chắc chắn là trong quyền lợi của mình thì Mỹ muốn vận chuyển 5, 6, 7 triệu thùng dầu một ngày đến các các nước anh em trên toàn thế giới hơn là bị cắt giảm".

Tuy nhiên mặt khác, chính phủ các nước tiêu thụ đang tìm kiếm nguồn dầu để đáp ứng nhu cầu của người dân. Quốc gia hùng mạnh nhất đang ở trong tình cảnh đó là Mỹ, đây không chỉ là mục đích tiêu chính của năm hay bảy bang mà còn mục tiêu chính cho toàn bộ mọi hoạt động của đất nước. Bất kỳ một hành động nào mà các công ty thực hiện, họ biết sẽ bị lệ thuộc vào sự xem xét kỹ lưỡng và quá trình phân tích sau thực tế. Họ không muốn để mất thị trường, cũng như không muốn nhận thấy bản thân họ bị loại trừ, hay không muốn gây ra một cuộc điều tra và trả đũa của người tiêu dùng và chính phủ.

Trong tình cảnh như vậy, một phản ứng hợp lý duy nhất là "cùng chịu đựng" hoặc "cùng bị khốn khổ". Thật vậy, các công ty sẽ cố gắng chia đều tỷ lệ cắt giảm sản lượng từ nguồn cung ứng tổng đến tất cả các quốc gia bằng cách vận động các nước trong và ngoài khối Arập trên toàn thế giới. Họ đã có được một vài kinh nghiệm về cách thức tổ chức một hệ thống phân phối trong quá trình cấm vận − điều cũng đã xảy ra trong cuộc chiến tranh năm 1967. Tuy nhiên quy mô và độ rủi ro trong cuộc chiến tranh năm 1973 lớn hơn rất nhiều lần. Cơ sở của việc cắt giảm sản lượng theo tỷ lệ là họ vừa sử dụng mức tiêu thụ thực tế trong 9 tháng đầu năm 1973, vừa đưa ra những dự đoán cho giai đoạn kế tiếp. Việc cùng nhau chịu đựng, theo lời một giám đốc điều hành cấp cao của Shell, "là biện pháp tự vệ duy nhất nếu các chính phủ không đồng thuận về bất kỳ hệ thống nào được lựa chọn để thay thế". Ông này còn cho biết thêm: đối với các công ty, "đây dường như là cách duy nhất để họ tránh cho bản thân khỏi bị hủy hoại". Đối với các công ty quốc tế, họ còn có thể sẽ tự hủy hoại bản thân mình. Một yếu tố nữa củng cố thêm nguyên tắc "cùng nhau chịu đựng" – đó là sự tồn tại của "thị trường nội bộ" bên trong các công ty dầu mỏ quốc tế. Ví dụ, chủ tịch của một công ty lớn có các hoạt động khai thác ở Viễn Đông, người phải liên tiếp giải thích với Chính phủ Nhật Bản và chính phủ của các nước ở khu vực này, hiển nhiên sẽ dựng lên một điều khủng khiếp nếu đối thủ của ông ta ở châu Âu đang nắm giữ thị phần với tỷ lệ ngày càng lớn. Mặc dù các công ty này vốn là những chuyên gia kinh nghiệm lâu năm trong việc dùng mánh khóe để lừa nguồn trợ cấp dù trong bối cảnh bình thường, nhưng giờ đây họ phải ứng biến. Người đứng đầu chịu trách nhiệm việc cung ứng dầu cho Vùng Vịnh nhớ lại: "Đó là một nỗi day dứt vô cùng lớn. Chúng tôi làm việc suốt ngày đêm. Cả đêm luôn có những nhóm làm việc trong văn phòng, phân phối các quốc gia, giá cả, các kế hoạch cung ứng, phản hồi lại những tiếng kêu ca sầu thảm. Chúng tôi cần phải cắt giảm dựa trên những cam kết quốc tế. Chúng tôi chia thế giới ra thành những tỷ lệ cân bằng, điều này đồng nghĩa với việc cắt giảm các công ty lọc dầu cũng như lượng khách hàng. Tôi cần phải đấu tranh vì tầng lớp khách hàng thứ ba. Vùng Vịnh và các công ty khác đang ngày đêm bị bom oanh tạc. Chúng tôi phải hứng chịu búa rìu của báo chí hàng ngày với câu hỏi: "Tại sao các ông bán dầu cho Triều Tiên và Nhật Bản trong khi có thể đem dầu đến Mỹ? Các ông là công ty của Mỹ cơ mà". Những áp lực quá lớn như vậy đã mang về thêm một chuyến hàng nữa cho một công ty lọc dầu của Mỹ. Tôi phải nhắc nhở ban lãnh đạo của chúng tôi rằng chúng ta đã ký những hợp đồng dài hạn với khách hàng trên cơ sở là sẽ đối đãi với họ như bản thân chúng ta vậy. Chúng ta phải liên lạc với những người trong lĩnh vực này, nói với những khách hàng cũ là chúng ta đã cắt giảm sản lượng, và đi khắp thế giới để giải thích về cán cân cung - cầu, và do đó cần phân bổ theo tỷ lệ. Thật khó có thể khiến tất cả những điều trên trở thành hiện thực".

Việc tái phân phối hàng loạt đã đặt ra một vấn đề lớn về hậu cần. Ngay cả khi bình tĩnh và trong những tình huống có thể dự đoán trước thì việc quản lý một hệ thống dầu lửa quá độ là một vấn đề rất phức tạp. Việc cung ứng từ các nguồn đa dạng cần phải được liên kết chặt chẽ với hệ thống vận chuyển và sau đó được chuyển tới các nhà máy lọc dầu, nơi được dành để xử lý dầu có được từ các nguồn đó. Sự tự ý không phải là một chọn lựa khi đề cập đến việc phân chia lượng dầu thô. Dầu thô "sai chủng loại" có thể dẫn đến những thiệt hại đáng kể cho máy móc của một nhà máy lọc dầu, cũng như làm giảm năng suất và lợi nhuận. Một khi nguồn dầu thô này được đưa vào chế biến và cho ra những sản phẩm hoàn chỉnh, chúng phải được chuyển tới hệ thống phân phối và gắn với nhu cầu thị trường về cán cân sản phẩm – tức là lượng xăng dầu − cho nhiên liệu máy bay và nhiên liệu sưởi ấm.

Vấn đề thậm chí trở nên phức tạp hơn khi các công ty dầu mỏ vẫn phải tính toán xem những nguồn cung ứng dầu lửa của họ có giá trị thật sự như thế nào, vì lẽ đó họ không bán với giá quá rẻ hay gây ra một cuộc tấn công vì số dư lợi nhuận thừa. Giá tiền thuê mỏ, mức độ tham gia của chính phủ, giá thu mua lại, số lượng – tất cả những yếu tố này thay đổi hàng tuần và ngày càng phức tạp bởi những thay đổi và những lần tăng giá từ phía chính phủ các nước xuất khẩu dầu mỏ. Một thành viên ban quản trị của Shell đã cho rằng: "Không thể biết được liệu một sự tính toán dựa trên nền tảng của những sự việc đã xảy ra có bị phủ nhận bởi những sự việc sẽ diễn ra trong tương lai hay không". Thật vậy, điều chắc chắn duy nhất đó là giá dầu lửa ngày càng tăng cao.

Quy mô của vấn đề rất lớn, có quá nhiều điều cần phải quyết định. Thông thường, những tính toán phức tạp đó chỉ ra xu hướng của tình hình dầu lửa thông qua một hệ thống hợp nhất được thao tác bởi máy tính dựa trên những tiêu chí về kỹ thuật và kinh tế. Giờ đây những tiêu chí về chính trị ít nhất cũng có ý nghĩa quan trọng – không chỉ với các nước Arập và những hạn chế của họ mà còn phù hợp, ở mức độ lớn nhất có thể, với các quốc gia nhập khẩu. Phải rất khôn khéo để đáp ứng cả hai đối tượng trên. Ở một mức độ đáng kể các công ty đã dàn xếp được tất cả những điều này.

Các chính phủ có những phản ứng khác nhau đối với việc cắt giảm sản lượng theo tỷ lệ của các công ty. Washington đã đưa ra một số chỉ dẫn trực tiếp. John Sawhill, người đứng đầu Văn phòng năng lượng liên bang mới thành lập, đã hối thúc các công ty "cung cấp dầu cho Mỹ càng nhiều càng tốt", nhưng ông này đồng thời cũng nhận ra rằng "quyền lợi của các nước là có được sự phân phối hợp lý nguồn cung ứng năng lượng trên thế giới". Trong cuộc họp với lãnh đạo của các công ty dầu mỏ, Henry Kissinger đã yêu cầu họ "quan tâm tới Hà Lan", một mục tiêu đặc biệt của các quốc gia Arập bởi mối giao hảo truyền thống giữa nước này với Israel. Nhật Bản cảm thấy bị tổn thương. Quốc gia này vốn không giàu có về nguồn năng lượng thiên nhiên, và nguồn dầu nhập khẩu đã cung cấp chất đốt để có được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế vũ bão của họ. Không chỉ có người dân đang trong tình cảnh hoảng loạn mà quốc gia này còn phụ thuộc vào những công ty lớn, phần lớn trong số đó là các công ty Mỹ. Trong một cuộc họp, một quan chức cấp cao của MITI đã cảnh báo những người đại diện của các công ty lớn không nên chuyển hướng cung cấp dầu mỏ của các nước ngoài khối Arập cho Nhật Bản sang Mỹ. Đại diện của các công ty này đã phản hồi rằng họ đang phân phối dầu công bằng hết sức có thể, và họ sẽ còn vui hơn khi chuyển giao được toàn bộ công việc bạc bẽo này cho chính phủ các nước, trong đó có cả Nhật Bản, nếu các chính phủ muốn như thế. Sau đó, Chính phủ Nhật Bản đã rút lui; nước này dường như cảm thấy hài lòng với điều đang được thực hiện, mặc dù vẫn tiếp tục giám sát hoạt động phân bổ rất sát sao.

Phản ứng bất thường nhất chính là từ Chính phủ Anh. Vương quốc Anh đã được chính phủ các nước Arập xếp vào số "các quốc gia bằng hữu", vì vậy vương quốc Anh vẫn nhận được 100% nguồn cung ứng tháng 9 năm 1973 của nước này, bất kể những cắt giảm. Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp đã bí mật thông báo với Hạ viện Anh về "những cam đoan của các quốc gia Arập". Bản thân ông này cũng đã đến Arập Xêút để đàm phán về thỏa thuận dầu lửa giữa hai chính phủ. Chính phủ Anh cũng sở hữu một nửa số cổ phần ở BP. Tuy nhiên, theo thỏa thuận kể từ khi thu mua cổ phần của Churchill năm 1914, không thể cho là chính phủ nước này can thiệp vào các vấn đề thương mại. Tuy nhiên, liệu đây là trường hợp liên quan đến thương mại hay liên quan đến an ninh? Hơn thế nữa, một sự đối đầu đang diễn ra âm ỉ giữa công nhân ngành than và chính phủ thuộc Đảng Bảo thủ của Thủ tướng Edward Heath, đe dọa gây ra một cuộc biểu tình lớn có thể sẽ cắt đứt nguồn cung ứng than cùng lúc với tình hình cung ứng dầu đang xuống dốc. Tình hình khan hiếm dầu lửa càng làm cho giới công nhân mỏ thêm quyết tâm. Thủ tướng Heath muốn có càng nhiều dầu càng tốt để sẵn sàng cho cuộc chiến với công nhân mỏ.

Thủ tướng Heath đã cho mời Eric Drake, Chủ tịch BP, và Frank McFadzean, Chủ tịch công ty vận tải và thương mại Shell, đến trang viên Chequers. Thủ tướng được tháp tùng bởi một số thành viên của nội các. Rõ ràng là, nếu ngài Thủ tướng không thể thuyết phục được các công ty tán thành quan điểm của ông thì ông sẽ làm mọi cách để bắt họ phải làm như vậy. Ngài Thủ tướng Heath đã nói với họ rằng Anh quốc phải được ưu tiên. Hai công ty không được cắt giảm nguồn cung ứng của họ cho nước Anh; việc cung ứng nên được duy trì ở mức 100% đối với những nhu cầu bình thường.

Cả hai ngài chủ tịch đều chỉ ra rằng các công ty dầu mỏ đang ở vị trí không được phép chọn lựa. Như McFadzean sau này mô tả, họ đã bị lôi kéo vào một mớ bòng bong kết quả thất bại của các chính phủ trong việc vạch ra kế hoạch giải quyết tình hình khan hiếm dầu lửa gây ra." Mọi công ty đều có những nghĩa vụ về mặt đạo đức và luật pháp ở các quốc gia mà họ kinh doanh. Trong trường hợp bị bỏ mặc để giải quyết tình hình khan hiếm dầu, chính sách khả thi duy nhất mà họ có thể theo đuổi đó là hy sinh bình đẳng ngay cả khi họ biết rằng nguyên tắc đó sẽ ngày càng trở nên khó thực hiện. McFadzean bổ sung một khía cạnh khác. Ông rất lấy làm tiếc, vì 60% cổ phần của Tập đoàn Shell (Royal Dutch Shell Group) do phía Hà Lan nắm giữ, chỉ 40% còn lại là của Anh Quốc, nên dù ông có tán thành với quan điểm của Thủ tướng Heath, điều mà ông dứt khoát không làm, thì cũng thật khó mà có thể áp chế được những quyền lợi của phía Hà Lan.

Bị cự tuyệt và vô cùng giận dữ, Thủ tướng Heath đã kiên trì quay sang thuyết phục Drake để yêu cầu một sự đối đãi đặc biệt. Ngài thủ tướng cho rằng vì chính phủ đang nắm trong tay 51% cổ phần của BP nên Drake sẽ làm theo những điều mà ngài thủ tướng đã yêu cầu. Tuy nhiên Drake rất thẳng thắn. Khi làm tổng giám đốc của BP tại Iran năm 1951, ông đã dũng cảm đương đầu với Mossadegh, vì thế ông đã bị đe dọa đến tính mạng. Sau đó, ông lại cương quyết chống lại Chủ tịch của BP, William Fraser, một kẻ chuyên quyền nên đã bị đe dọa thuyên chuyển đến nhà máy lọc dầu của BP ở Australia. Chắc chắn, Drake sẽ không nhượng bộ trước ngài Thủ tướng Edward Heath và cho phép thủ tướng "phá hủy công ty của tôi" theo lời ông nói sau đó. Trải qua sự kiện quốc hữu hóa ở Iran, Drake không hề có ý định ủng hộ thêm bất cứ một sự kiện quốc hữu hóa nào, điều mà ông chắc chắn rằng sẽ là nghiệp chướng của BP tại các quốc gia khác nếu như ông đồng tình với thủ tướng.

Khi bị Thủ tướng Anh hối thúc, Drake đã đánh trống lảng bằng một câu hỏi: "Ngài đang yêu cầu tôi làm như vậy với vai trò là một cổ đông hay là một nhà cầm quyền? Nếu ngài đang yêu cầu tôi với tư cách là một cổ đông để cung cấp cho Anh Quốc 100% cung ứng thông thường thì ngài nên biết rằng chúng ta có thể bị quốc hữu hóa trong hành động trả đũa của Pháp, Đức, Hà Lan và các nước khác. Điều đó là một tổn thất lớn đối với những cổ đông thiểu số." Sau đó, Drake đã phát biểu với Thủ tướng Heath trong một bài diễn thuyết sắc sảo về luật của công ty cấm hành động đối xử thiên vị với một cổ đông. Tất cả các nhà lãnh đạo đều phải có trách nhiệm quan tâm đến những quyền lợi tổng thể của công ty chứ không riêng một cổ đông đặc biệt nào. Vì vậy, công ty không chỉ có nguy cơ bị trả đũa ở các quốc gia phải chịu những cắt giảm trầm trọng hơn mà Chính phủ Anh còn đứng trước vụ kiện tụng của các cổ đông thiểu số vì lạm dụng quyền lực nổi trội của mình. Ngài Drake nói thêm: "Nếu ngài yêu cầu tôi làm điều đó với tư cách là một nhà cầm quyền, vậy thì tôi phải nói với ngài rằng tôi cần có lời yêu cầu đó dưới dạng văn bản. Khi đó chúng ta mới có thể áp đặt hoàn cảnh bắt buộc lên chính phủ các nước khác bởi vì tôi đang phải làm theo những chỉ thị chính phủ. Có thể, chỉ là có thể thôi, chúng ta sẽ tránh được vấn đề quốc hữu hoá".

Về điều này, Thủ tướng Heath tỏ ra mất bình tĩnh. Ông đã phản bác rằng: "Ông thừa biết là tôi không thể đưa ra yêu cầu đó dưới dạng văn bản". Nói cho cùng, ngài thủ tướng là người có công lớn trong việc đưa Anh gia nhập Cộng đồng châu Âu và hợp tác với các quốc gia châu Âu khác.

Drake đã đáp lại lời yêu cầu của thủ tướng chắc nịch: "Tôi sẽ không làm điều đó." Tất nhiên, ngài Thủ tướng đã có thể yêu cầu nghị viện thông qua luật ép buộc BP phải đưa ra sự ưu tiên đặc biệt, tuy nhiên sau một vài ngày suy nghĩ – bao gồm cả việc cân nhắc về những ảnh hưởng của động thái này lên những mối quan hệ của Anh với các đồng minh châu Âu – Thủ tướng Heath đã bớt căng thẳng, và ông cũng từ bỏ ý định này.

Những công chức ở Nhà Trắng nắm bắt toàn cảnh bức tranh tốt hơn những chính trị gia. Họ đã nhận ra những mặt tích cực của nguyên tắc "phân phối hợp lý" và khéo léo tìm cách để lợi dụng nó. Họ gây áp lực với các công ty quốc tế, trong đó nhắc đến việc Chính phủ Anh đã đưa ra quyết định về giấy phép khai phá vùng Biển Bắc. Theo cách đó, họ có thể bảo đảm rằng nước Anh nhận được cái mà họ đã chọn để thể hiện như nguyên tắc "phân phối công bằng" − và có hơn một chút. Sự chuyển hướng là thực chất của việc áp dụng các nguyên tắc về cùng chịu đựng và phân phối hợp lý. Nguồn dầu lửa của các quốc gia không phải Arập đã chuyển hướng ưu tiên sang các quốc gia vốn bị cấm vận hoặc nằm trong danh sách các nước trung lập, trong khi đó nguồn dầu lửa của các nước Arập lại được hướng vào các quốc gia nằm trong danh sách các nước được ưu tiên. Năm công ty dầu mỏ lớn của Mỹ cuối cùng đã chuyển hướng khoảng một phần ba lượng dầu của mình. Nói chung, nguyên tắc cùng nhau chịu đựng đã được áp dụng khá hiệu quả. Điều chỉnh lại những dữ liệu về những điểm khác nhau lớn của nguồn năng lượng và những tỷ lệ tăng trưởng của dầu lửa, thiệt hại của Nhật Bản trong suốt thời kỳ cấm vận là 17%, Mỹ là 18%, và các nước Tây Âu là 16%. Ban quản lý năng lượng liên bang sau đó đã chuẩn bị một bản phân tích tình hình về cách thức hoạt động của hệ thống phân phối không chính thức trước đây để báo cáo lên Tiểu ban đa quốc gia của thượng viện. Sau khi cân nhắc kỹ, bản báo cáo đã viết: "Thật khó có thể tưởng tượng rằng bất kỳ bản kế hoạch phân phối nào khác lại có thể đạt được một biện pháp phân phối hợp tình hợp lý hơn cho vấn đề cắt giảm nguồn cung ứng." Các công ty này "đã được yêu cầu đưa ra những quyết định chính trị khó khăn và tiềm ẩn sự bất ổn trong quá trình cấm vận – những quyết định đã vượt quá những mối quan tâm kinh doanh thông thường". Bản báo cáo còn ghi chú thêm rằng đây là điều mà họ không bao giờ muốn lặp lại.

Cục diện mới của giá cả dầu lửa

Chính vào lúc cơn sốt đang diễn ra trên các thị trường giao ngay, các bộ trưởng dầu lửa của OPEC nhóm họp tại Tehran vào cuối tháng 12 năm 1973 để thảo luận về giá chính thức. Giá được đề xuất tăng dần từ mức giá chính thức mà Ủy ban kinh tế của OPEC đã đưa ra là 23 đô-la một thùng, giảm 8 đô-la so với giá dầu ở Arập Xêút. Arập Xêút lo sợ rằng tình hình giá cả tăng lên vùn vụt bất ngờ sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái, điều này sẽ ảnh hưởng đến Arập Xêút và các quốc gia khác. Khi nhắc đến thế giới công nghiệp, Yamani đã nói: "Nếu các bạn hạ giá thì chúng tôi cũng hạ giá." Ông này tranh luận rằng mức giá đem ra đấu giá gần đây cao nhưng không biểu thị tình hình thị trường thực tế, tuy nhiên nó phản ánh đôi chút sự thật là việc đấu giá đã diễn ra giữa lúc những hành động cắt giảm và cấm vận bị áp đặt với mục đích chính trị. Shah Faisal cũng muốn duy trì "tính chất chính trị" của việc cấm vận; ông này không muốn hành động cấm vận giống như một thứ vỏ bọc cho hành động tước đoạt tiền bạc. Một viễn cảnh, mà trong đó nguồn thu nhập của một nước chủ yếu là tiền thu hoa lợi sắp sửa tăng lên gấp nhiều lần, chắc chắn có thể làm dịu đi sự bực bội của các nước xuất khẩu dầu mỏ. Quốc gia lớn tiếng và hung hăng nhất phải nói đến là Iran. Cuối cùng vua Iran cũng có cơ hội đạt được một nguồn thu mà ông cho rằng nó là hậu thuẫn cần thiết về tài chính cho những tham vọng của ông. Iran biện hộ rằng mức giá 11,65 đô-la là mức giá niêm yết mới, điều đó có nghĩa là chính phủ nắm trong tay 7 đô-la. Người Iran có lý do căn bản để giải thích cho giá dầu của họ. Nó không chỉ dựa vào cán cân cung cầu mà còn dựa vào cái mà vua Iran gọi là "một khái niệm mới": giá cả của những nguồn năng lượng thay thế – các nguồn năng lượng chất lỏng, khí đốt được sản xuất từ than đá và dầu đá phiến. Theo như lời vua Iran, nếu như các quá trình sản xuất năng lượng khác có hiệu quả kinh tế thì đây là giá tối thiểu cần thiết. Về mặt cá nhân, ông này tự hào trích dẫn một nghiên cứu về Iran của Arthur D. Little khi nói về chủ đề của mình. Những cơ sở lập luận của Arthur D. Little lần lượt được các công ty hưởng ứng. Nghiên cứu này đưa ra một chuỗi những phân tích chặt chẽ, tuy nhiên trên thực tế, nó hoàn toàn mang tính chất phỏng đoán, lý do là bởi trong toàn bộ những quá trình sản xuất năng lượng thay thế đó, chỉ có một quá trình đang hoạt động mang tính thương mại, đó là dự án hóa lỏng than đá diễn ra đơn lẻ và còn hạn chế ở Nam Phi. Một cố vấn của chủ tịch công ty Shell tại Trung Đông đã phát biểu ý kiến của mình về chủ đề "nguồn năng lượng thay thế đã tồn tại, ở một mức độ yêu cầu, chỉ là trong lý thuyết kinh tế chứ không hề có thật". Có vẻ như trong những đợt khan hiếm dầu trước đây, điều kỳ diệu của loại dầu đá phiến quả thật là hão huyền.

Sau những cuộc tranh luận vô cùng gay gắt, quan điểm của quốc vương Iran đã được các vị bộ trưởng dầu mỏ nhóm họp tại Tehran chấp thuận. Mức giá mới sẽ là 11,65 đô-la. Đây là lần tăng giá chất chứa cả một quá trình lịch sử và có ý nghĩa quan trọng. Mức giá niêm yết đã tăng từ 1,80 đô-la năm 1970 lên đến 2,18 đô-la năm 1971 và đến 2,90 đô-la vào giữa năm 1973, 5,12 đô-la vào tháng 10 năm 1973 và hiện giờ là 11,65 đô-la. Như vậy, đã có hai lần tăng giá kể từ sau khi chiến tranh nổ ra – vào tháng 10 và tháng 12 – khiến mức giá tăng lên bốn lần. Như là một "cột mốc", giá niêm yết mới đã được áp dụng đối với một loại dầu thô đặc biệt của Arập Xêút, loại Arabian Light (Ánh sáng Arập). Giá cả của các loại dầu thô khác trong OPEC đã được nâng lên theo mức giá đó, với sự chênh lệch giá dựa trên chất lượng dầu (lượng lưu huỳnh thấp hay cao), trọng lượng, và giá thành vận chuyển khi tung ra ngoài thị trường. Giá dầu mới thấp hơn đáng kể so với mức 17,04 đô-la đã được trả trong buổi đấu giá diễn ra gần đây ở Iran. Quốc vương Iran đã nói với một thái độ hòa nhã rằng đây là mức giá đã được đặt ra bằng "lòng tốt và sự rộng lượng".

Cuối tháng 12, Richard Nixon đã viết một lá thư riêng với những lời lẽ rất mạnh mẽ cho Shah. Phác thảo "tác động bất ổn" của việc tăng giá và "những vấn đề thảm khốc" mà nó có thể tạo ra cho nền kinh tế thế giới, ông yêu cầu cần phải xem xét lại và rút lại yêu cầu đó. Tổng thống cho hay: "Việc tăng giá mạnh này đặc biệt không hợp lý như nó vốn có khi mà các nguồn cung dầu mỏ đã bị kìm hãm một cách giả tạo." Lời phúc đáp của Shah thật ngắn gọn và hoàn toàn không nhân nhượng. Ông nói: "Chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng của nguồn năng lượng này đối với sự thịnh vượng và ổn định của nền kinh tế quốc tế song chúng tôi cũng biết đối với chúng tôi, nguồn của cải này có thể cạn kiệt trong 30 năm nữa."

Shah đã tìm thấy một vai trò mới: giờ đây, ông sẽ là nhà đạo đức của ngành dầu mỏ thế giới. Ông tuyên bố: "Dầu mỏ là một sản phẩm cao quý. Kỳ thực, chúng ta sử dụng dầu mỏ một cách cẩu thả để sưởi ấm cho các gia đình hoặc thậm chí là để sản xuất điện, khi mà hoàn toàn có thể dùng than thay thế. Tại sao lại phải làm cạn kiệt sản phẩm này trong khoảng thời gian 30 năm khi mà hàng nghìn tỷ tấn than vẫn còn trong lòng đất?" Đó cũng là thiên hướng của Shah khi ông muốn trở thành nhà đạo đức học của nền văn minh thế giới. Ông đã đưa ra những lời khuyên cho các quốc gia công nghiệp: "Họ sẽ phải thấy rằng kỷ nguyên tiến bộ tuyệt vời của họ và thậm chí là cả nguồn thu nhập và của cải to lớn hơn đều dựa trên lượng dầu mỏ giá rẻ rồi sẽ kết thúc. Họ sẽ phải tìm ra những nguồn năng lượng mới. Cuối cùng, họ sẽ phải thắt lưng buộc bụng." Tất cả con em của các gia đình giàu có có ê hề các món ăn trong mỗi bữa cơm, các gia đình có xe hơi, và những kẻ hành động gần như những kẻ khủng bố, ném bom đây đó, rồi họ sẽ phải nghĩ lại tất cả những khía cạnh này của thế giới công nghiệp tiên tiến. Và họ sẽ phải làm việc chăm chỉ hơn... Những đứa trẻ của các bạn được cha mẹ cho quá nhiều tiền cũng sẽ phải cân nhắc xem chúng phải tự kiếm sống bằng cách này hay cách khác." Quan điểm ngạo mạn của ông, trong bối cảnh khan hiếm dầu mỏ và giá cả tăng cao, sẽ khiến ông phải trả giá đắt trong một vài năm sau đó, khi ông thực sự phải cần đến bạn bè.

Liên minh căng thẳng

Lệnh cấm vận là một hành động chính trị tận dụng lợi thế của các hoàn cảnh kinh tế, và nó phải được đáp ứng bằng hành động chính trị trên ba mặt trận tương hỗ: giữa Israel và các nước láng giềng Arập; giữa Mỹ và các đồng minh; và giữa các nước công nghiệp, đặc biệt là Mỹ và các nước xuất khẩu dầu mỏ.

Ở mặt trận đầu tiên, Kissinger tự đặt mình vào trung tâm của vòng xoáy hành động. Ông sẽ tìm cách tận dụng thực tế mới do chiến tranh tạo ra: Israel đã đánh mất sự tự tin trong khi các nước Arập, đặc biệt là Ai Cập, đã lấy lại phần nào sự tự tin của mình. "Chính sách ngoại giao con thoi" là dấu hiệu nhận biết về thành tích đặc biệt, ấn tượng và không biết mệt mỏi của ông. Đây là một số bước ngoặt trên con đường của ông, trong đó có một thỏa thuận không tham chiến Ai Cập – Israel hồi trung tuần tháng 1 năm 1974, và cuối cùng là thỏa thuận không tham chiến giữa Syria – Israel vào cuối tháng năm. Trong khi các cuộc thương lượng đầy khó khăn, không chắc chắn, và còn mang tính ngẫu nhiên, thì chúng cũng đặt nền móng cho thỏa thuận rộng rãi hơn bốn năm sau đó. Trong suốt thời gian này, Kissinger đã có một đối tác đặc biệt, Anwar Sadat, người biết rõ các mục tiêu của mình. Tại điểm khởi đầu, Sadat đã viện đến chiến tranh để tạo ra những thay đổi chính trị. Sau cuộc chiến tranh, ông đã có cơ hội tốt hơn để đạt được những thay đổi này khi cộng tác với người Mỹ. Như ông đã công khai tuyên bố: "Mỹ nắm giữ đến 99% các con bài trong cuộc chơi này." Dĩ nhiên, Sadat là một chính khách, nhận thức được khán giả của mình, như ông đã từng tâm sự: "Thực sự, Mỹ chỉ nắm giữ 60% quân bài nhưng xem ra có vẻ tốt hơn nếu tôi nói đó là 99%". Và trong khi theo đuổi các mục tiêu của mình, thậm chí 60% cũng là lý do xác đáng để ngả về phía Mỹ. Tại một cuộc họp ở Cairo chưa đầy một tháng sau chiến tranh, Sadat đã không nghi ngờ gì về tư tưởng của Kissinger rằng để đạt được mục đích của mình, ông ta giờ sẵn sàng bắt đầu một tiến trình hòa bình – và, chấp nhận rủi ro lớn là tìm cách làm thay đổi tâm lý của người Trung Đông.

Lệnh cấm vận dầu mỏ sớm gây ra một trong những chia rẽ nghiêm trọng nhất trong liên minh phương Tây kể từ khi liên minh này hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và chắc chắn là tồi tệ nhất kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh kênh đào Suez vào tháng 10 năm 1956. Các mối quan hệ ở chừng mực nào đó đã bị căng thẳng trước khi xảy ra cuộc chiến này. Một khi lệnh cấm vận bắt đầu, các đồng minh châu Âu, do Pháp lãnh đạo, vội vàng tự tách khỏi Mỹ ngay khi có thể và chuyển sang các quan điểm nghiêng về phía các nước Arập, một tiến trình được đẩy mạnh trong chuyến công du các thủ đô châu Âu của Yamami cùng với người đồng cấp Angiê. Ở mỗi chặng dừng chân, hai bộ trưởng đã gây sức ép buộc các nước châu Âu phải phản đối Mỹ và chính sách về Trung Đông của nước này, ủng hộ các nước Arập. Yamami đã áp dụng kỹ năng đặc biệt của mình cho nỗ lực này. Bằng giọng điệu tiếc nuối, ông nói: "Chúng tôi thành thật xin lỗi về sự bất tiện xảy ra ở châu Âu do việc các nước Arập cắt giảm dầu mỏ gây ra." Nhưng ông không nghi ngờ về điều mà ông kỳ vọng về họ.

Khi các nước châu Âu chiều ý thay đổi các chính sách của mình, tìm cách tự tách khỏi Mỹ, thúc đẩy "đối thoại" và "hợp tác" với các nước Arập và OPEC, các quan chức cấp cao của Mỹ bắt đầu cay đắng nói về quan điểm mềm mỏng của các nước châu Âu đối với OPEC và tự mình cũng phải nhanh chóng thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh và có những nhân nhượng. Về phần mình, các nước châu Âu khẳng định Mỹ quá đối đầu, quá hiếu chiến trong lập trường đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ. Chắc chắn, đã có những thay đổi quan trọng trong các nước châu Âu. Pháp và Anh nằm trong số các nước muốn tách khỏi Mỹ nhất và tìm cách tranh thủ các nước sản xuất dầu mỏ; người Đức thì ít hơn; ngược lại, Hà Lan cương quyết cam kết với các đồng minh truyền thống của mình. Một số nước châu Âu nhấn mạnh họ có những lợi ích lớn và trước mắt phải bảo vệ. Tổng thống Pháp Georges Pompidou nói thẳng với Kissinger: "Chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào họ". Có những nhân tố đáng phê phán lẫn khen ngợi trong lập trường của châu Âu. Pháp từ lâu đã cảm thấy rằng "người Anh - Mỹ" đã rất bất công khi loại họ khỏi hầu hết nguồn dầu mỏ ở Trung Đông, đặc biệt là ở Arập Xêút với việc không để họ tham gia vào Thỏa thuận Ranh giới đỏ thời hậu chiến, và rằng người Mỹ đã làm suy yếu vị thế của họ trong cuộc chiến ở Angiê. Sau đó, là cuộc xung đột ở kênh đào Suez năm 1956. 17 năm đã trôi qua kể từ khi người Mỹ tìm cách ngăn cản Pháp và Anh trong cuộc đương đầu ở kênh đào này với Nasser, nhanh chóng rút hai nước này khỏi các vai trò toàn cầu của họ và tạo điều kiện lớn hơn cho chủ nghĩa dân tộc Arập. Nhưng Thủ tướng Edward Heath giờ đây đã nói riêng và thẳng thắn với người Mỹ: "Tôi không muốn nêu vấn đề Suez ra nhưng đó là việc nên làm vì nhiều người". "Nhưng thực chất Health làm thế vì chính mình; ông từng là cánh tay đắc lực, trung thành của Anthony Eden trong thời gian khốn khó khi xảy ra cuộc xung đột Suez. Vào trung tuần tháng 11 năm 1973, Cộng đồng châu Âu đã thông qua một nghị quyết ủng hộ lập trường Arập trong cuộc xung đột Arập – Israel. Một số quan chức Arập vẫn còn thất vọng. Một quan chức đã miêu tả nghị quyết trên như là "một nụ hôn gió − tất cả đều rất đẹp nhưng chúng tôi thích điều gì đó ấm áp và thân thiết hơn". Tuy nhiên, bản nghị quyết này rõ ràng là kiểu điều chỉnh mà những nước Arập mong muốn và đủ để giúp các nước này giành thắng lợi trước các nước châu Âu về việc ngừng cắt giảm 5% trong tháng 12. Song, để bảo đảm các nước châu Âu vẫn có thái độ tốt, các bộ trưởng dầu mỏ Arập cảnh báo sẽ thực hiện việc cắt giảm nếu các nước châu Âu không duy trì "sức ép đối với Mỹ hay Israel".

Có một vấn đề rất rắc rối cho Cộng đồng châu Âu. Trong khi nhiều thành viên của cộng đồng này đang nằm trong danh sách "bằng hữu", thì một trong số họ là Hà Lan vẫn còn bị cấm vận. Nếu các thành viên khác quyết định cấm vận những chuyến tàu vận chuyển tới Hà Lan, họ sẽ vi phạm một trong những quy tắc của cộng đồng này, cụ thể là việc hàng hóa lưu thông tự do. Tuy nhiên, họ có xu hướng thực hiện điều đó cho đến khi Hà Lan mạnh mẽ nhắc nhở họ rằng nước này cung cấp nguồn khí đốt tự nhiên chính cho châu Âu, bao gồm 40% tổng nguồn cung của Pháp và phần lớn nguồn khí đốt dùng để sưởi và nấu ăn ở Paris. Một thỏa thuận lặng lẽ đã được đưa ra, liên quan tới "ý kiến chung" của các thành viên Cộng đồng châu Âu và việc thăm dò các nguồn cung từ các công ty quốc tế nằm ngoài khối Arập.

Người Nhật Bản, vốn tự cho mình đứng ngoài cuộc khủng hoảng Trung Đông, cũng lo lắng khi bị liệt vào danh sách "không thân thiện". 44% nguồn cung dầu mỏ của Nhật Bản là của các nước Vùng Vịnh, và trong số tất cả các nước công nghiệp, thì đây là nước phụ thuộc nhiều nhất vào dầu mỏ vì nó là nguồn năng lượng chính của nước này − 77% so với 46% của Mỹ. Dầu mỏ được coi là nhiên liệu thiết yếu và tin cậy cho tăng trưởng kinh tế. Giờ thì không còn nữa. Yamani thẳng thắn giải thích rõ chính sách xuất khẩu mới của Arập dành cho người Nhật Bản: "Nếu các ngài có thái độ thù địch với chúng tôi, các ngài sẽ không có dầu. Nếu các ngài đứng trung lập, các ngài có dầu nhưng không được nhiều như trước. Nếu các ngài là bằng hữu, các ngài sẽ nhận được số lượng như trước."

Trước khi có lệnh cấm vận dầu mỏ, "phái tài nguyên" trong Chính phủ Nhật Bản và giới kinh doanh đã bắt đầu kêu gọi định hướng lại chính sách của Nhật Bản đối với Trung Đông. Họ vẫn chưa đạt được nhiều tiến bộ bởi vì theo lời của Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Fumihiko Togo: "Trước năm 1973, chúng ta có thể mua được dầu bất kỳ lúc nào nếu như chúng ta có tiền" và bởi vì Nhật Bản mua dầu chủ yếu là từ các công ty quốc tế chứ không phải trực tiếp từ các nước Trung Đông. Sau khi xảy ra khủng hoảng, phái tài nguyên càng tăng cường nỗ lực của mình. Ngày 14 tháng 10, khi Kissinger đang ở Tokyo trong nỗ lực thuyết phục Nhật Bản không tách khỏi Mỹ thì những người đứng đầu các doanh nghiệp đã gặp riêng Thủ tướng Kakuei Tanaka để đưa ra "yêu cầu trực tiếp" về việc thay đổi chính sách lớn. Vài ngày sau, các nước xuất khẩu Arập ngừng cắt giảm dầu mỏ đối với các nước châu Âu khi các nước này ra tuyên bố thân Arập. Đây là bằng chứng rõ ràng về phần thưởng dành cho chính sách thay đổi. Trong khi đó, các phái viên Nhật Bản không chính thức, những người được vội vã phái đến Trung Đông trong các chuyến đi bí mật, đang báo cáo lại rằng các nước Arập coi "việc đứng trung lập" là không đủ và quả thật, nó đi ngược lại với sự nghiệp của họ. Do đó, ngày 22 tháng 11, Tokyo đã ra tuyên bố tán thành lập trường của các nước Arập.

Tuyên bố đó cho thấy sự chia rẽ lớn đầu tiên của Nhật Bản trong chính sách đối ngoại với Mỹ trong thời kỳ hậu chiến. Quyết định trên được đưa ra rất khó khăn khi mà liên minh Mỹ - Nhật Bản vẫn là nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Bốn ngày sau khi ra tuyên bố, Nhật Bản đã nhận được phần thưởng: nước này được đưa ra khỏi danh sách cắt giảm vào tháng 12 của các nước xuất khẩu Arập. Theo như một phần trong chính sách tài nguyên mới của mình, Tokyo đã phái các đại diện cấp cao sang Trung Đông để thảo luận với thiên hướng chính trị rõ ràng − hỗ trợ kinh tế, cung cấp các khoản cho vay, các dự án mới, liên doanh, các thỏa thuận song phương, các công trình. Dựa theo tình hình phân phối và cắt giảm, các nước xuất khẩu dầu mỏ chính cho biết họ không thể cung cấp cho Nhật Bản với số lượng như trước đây. Vì vậy, Nhật Bản không thể dựa vào họ và sẽ phải tự thân vận động để đảm bảo yêu cầu an ninh nguồn cung. Tuy nhiên, bất chấp việc các nước Arập tiếp tục gây sức ép, Nhật Bản vẫn từ chối cắt tất cả quan hệ ngoại giao và kinh tế với Israel. Những người Nhật muốn cắt bỏ những mối quan hệ này, theo nhận xét của Bộ trưởng Ngoại giao Togo, đang phải chịu một nạn dịch tương tự − "dầu trong não".

Thậm chí khi các đồng minh truyền thống có xu hướng ngả theo các yêu cầu của các nước Arập, Mỹ cố thúc đẩy sự phản ứng phối hợp trong số các nước công nghiệp. Washington e ngại rằng việc viện đến chủ nghĩa song phương – các thỏa thuận trao đổi giữa các quốc gia − sẽ dẫn tới một thị trường dầu mỏ bị chính trị hóa cứng nhắc về lâu dài. Song mọi thứ đã vào guồng. Tạp chí Middle East Economic Survey số ra tháng 1 năm 1974 có bài "Bilateral Deals: Every body’s Doing It". Ngành dầu mỏ có cái nhìn hoài nghi trước sự tranh giành giữa các chính trị gia để có được nguồn cung quốc gia. Một nhà kinh doanh dầu mỏ, Frank McFadzean của Shell, chỉ ngạc nhiên dù còn chút ít hoài nghi, "về cảnh tượng hai thành viên cấp cao của nội các với những lời lẽ cường điệu quá mức về việc giải vây, cứu trợ nhằm mục đích ký được thỏa thuận trao đổi liên quan đến số lượng dầu thô đủ để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong chưa đầy một tháng. Các phái đoàn và phái viên, các chính trị gia và bạn bè của họ, phần lớn với kiến thức hạn hẹp về kinh doanh dầu mỏ, đều hành hương về Trung Đông như một vùng đất Thánh hiện đại". Về phần mình, Henry Kissinger lo ngại những thỏa thuận song phương này sẽ làm phương hại tới những nỗ lực của ông trong việc thương lượng giải quyết cuộc chiến Arập - Israel. Nếu các nước công nghiệp vẫn theo các cách tiếp cận lộn xộn trước đây − nỗ lực cạnh tranh dựa trên sự hoảng loạn và thiếu thông tin, tính hám lợi, theo chủ đề mọi người vì mình − tất cả đều có thể kết thúc theo chiều hướng xấu.

Mỹ kêu gọi tổ chức một hội nghị năng lượng ở Washington vào tháng 2 năm 1974. Họ muốn làm dịu bớt những quan ngại về sự cạnh tranh đối với việc cung ứng, hàn gắn rạn nứt sâu trong liên minh và bảo đảm dầu mỏ không trở thành nguồn cơn gây chia rẽ lâu dài trong liên minh phương Tây. Anh đã đi tới kết luận rằng được nằm trong danh sách "bằng hữu" không đem lại cho họ nhiều lợi ích; họ vẫn phải đối mặt việc tăng giá mà gần như không tránh được. Trên thực tế, tình hình chính trị ở Vương quốc Anh đa thay đổi mau chóng. Đối với Anh, sự khan hiếm dầu mỏ trở nên nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần do sự đối đầu của công nhân mỏ than với Thủ tướng Heath. Các công nhân không chỉ đình công, mà còn biến sự đối đầu này thành một cuộc chiến kinh tế thực sự. Không có đủ nguồn cung dầu mỏ để thay thế nhanh chóng cho than tại các nhà máy điện; nền kinh tế của nước này bị tê liệt lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng than năm 1947 cũng chưa ở mức như vậy. Việc cung cấp điện bị gián đoạn, có lúc bị mất điện đến ba ngày. Thậm chí phần nhiệt để đun nước nóng trong gia đình cũng thiếu, và các mục sư đã tranh luận nghiêm túc về vấn đề đạo đức của việc chia sẻ nước tắm giữa các thành viên trong gia đình trên kênh BBC, theo đó nếu tiết kiệm được một chậu nước nóng, thì đã góp phần đem lại niềm vui cho quốc gia. Vì thế, trong những tuần cuối cùng của Chính phủ Heath, Anh là thành viên tham gia tích cực Hội nghị năng lượng Washington. Nhật Bản cũng vậy. Họ tin rằng cần phải có phản ứng tổng hợp từ các quốc gia công nghiệp. Họ cũng muốn tìm một khuôn khổ mà ở đó có cái mà họ cho là phải im lặng, như một quan chức đã nói "xu hướng trong chính sách của Mỹ sẽ là đối đầu". Người Đức cũng háo hức muốn đàm phán trên cơ sở đa phương. Nhưng Pháp thì không. Họ vẫn không xây dựng lại quan hệ. Mặc dù miễn cưỡng có mặt tại hội nghị ở Washington nhưng họ vẫn lên tiếng phản đối. Ngoại trưởng Michel Jobert, người đã đẩy chủ nghĩa de Gaulle lên đến cực điểm, đã khai mạc cuộc họp kín các nước thuộc Cộng đồng châu Âu ở Washington bằng lời chào chua chát: "Bonjour les traitres" (Xin chào những kẻ phản bội).

Về phần mình, các quan chức Mỹ nói bóng gió rằng mối quan hệ an ninh của Mỹ, trong đó có việc duy trì quân Mỹ ở châu Âu, có thể gặp nguy hiểm bởi sự bất đồng về các vấn đề năng lượng. Phần lớn các nước tham dự Hội nghị năng lượng Washington đều đồng ý về việc cần phải thúc đẩy sự đồng thuận và một số chính sách chung về các vấn đề năng lượng quốc tế, và hội nghị này đã quyết định thành lập một chương trình chia sẻ khẩn cấp cho cuộc khủng hoảng "kế tiếp" và xây dựng Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), chịu trách nhiệm quản lý chương trình này và, nói rộng hơn, là làm hài hòa và song song với các chính sách năng lượng của các nước phương Tây. IEA sẽ giúp làm lệch tham vọng hướng tới chủ nghĩa song phương và tạo lập khuôn khổ cho việc phản ứng chung, cả về chính trị lẫn kỹ thuật. Trước khi kết thúc năm 1974, IEA sẽ được xây dựng tại khu vực nhiều cây cối tại quận thứ 16 ở Paris, sáp nhập với Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Song có một nước công nghiệp lớn từ chối tham gia. Đó là Pháp. IEA, theo Ngoại trưởng Robert, là "machine de guerre" − bộ máy chiến tranh.

Khép lại vũ khí dầu mỏ

Khi nào và bằng cách nào lệnh cấm vận sẽ chấm dứt? Không ai thực sự biết, thậm chí là cả các nước Arập. Trong những ngày cuối cùng của tháng 12 năm 1973, các nhà sản xuất dầu mỏ Arập đã nới lỏng lệnh cấm vận khi đạt được một số tiến bộ ban đầu về cuộc tranh chấp Arập - Israel. Lệnh cấm vận, theo công thức bị chỉ trích của Kissinger hồi đầu tháng 1, trở nên "ít thích hợp hơn". Chính bản thân Kissinger đã hai lần tới Arập Xêút để yết kiến Shah Faisal. Trong chuyến đi đầu tiên, khi ông đi qua sảnh lớn nơi những người tôn quý mặc áo choàng đen và đội khăn trùm đầu màu trắng của vương quốc đang ngồi dựa vào tường, Kissinger, một người nhập cư Do Thái vào Mỹ, tự suy ngẫm "một cách thú vị rằng những khuynh hướng kỳ lạ của số phận đã khiến cho một người tị nạn thoát khỏi sự ngược đãi của Đức quốc xã lại đến Arập Xêút trên cương vị là đại diện cho nền dân chủ Mỹ". Ông cũng thấy hình thức các cuộc thảo luận nằm ngoài sự trải nghiệm của mình. Kissinger ngồi bên tay phải ở trung tâm phòng. Ông cho hay: "Shah luôn nói giọng nhẹ nhàng khi đề cập đến những điểm quan trọng. Ngài thích những nhận định ngắn gọn có thể hiểu theo nhiều cách. Khi nói chuyện với tôi, ngài nhìn thẳng về phía trước, thỉnh thoảng liếc nhìn quanh để bảo đảm rằng tôi đã hiểu nội dung của một số điều đặc biệt hóc búa". Faisal đang nói về âm mưu tiếp quản Trung Đông của người Do Thái và người cộng sản hay các vấn đề chính trị thực tế được hiểu theo cách chấm dứt lệnh cấm vận? Shah nói giọng tiếc nuối nhưng cương quyết. Ông không muốn chấm dứt lệnh cấm vận; việc dùng đến vũ khí dầu mỏ là quyết định chung của tất cả các nước Arập nên để rút lại lệnh này, cũng phải cần đến quyết định chung. Shah nói: "Cái tôi cần là có đủ tiền cho các nước anh em của tôi và hối thúc điều này". Ngài cũng khẳng định điều kiện cơ bản đối với ngài là Jerusalem trở thành một thành phố Hồi giáo Arập. Khi được hỏi về Bức tường Wailing Wall, ngài trả lời rằng có thể xây dựng một bức tường khác tại một nơi mà người Do Thái cũng có thể cầu nguyện.

Với rất ít dấu hiệu cho thấy lệnh cấm vận sẽ được dỡ bỏ, Washington giờ đây quay sang một đồng minh mới là Anwar Sadat. Người đề xuất và cũng là người hưởng lợi chính từ lệnh cấm vận giờ đã trở thành người tiên phong dỡ bỏ lệnh cấm vận. Ông ta nói cũng giống chiến tranh, lệnh cấm vận đã thực hiện được sứ mệnh của mình và nên chấm dứt. Và quả thực, ông đã thừa nhận rằng việc tiếp tục lệnh cấm vận giờ sẽ đi ngược lại các lợi ích của người Ai Cập. Bản thân Mỹ có thể đi xa hơn con đường tới hòa bình Trung Đông dưới họng súng của lệnh cấm vận. Hơn nữa, duy trì mãi lệnh cấm vận - một hành động của chiến kinh tế - có thể gây tổn hại đến toàn bộ mối quan hệ của Mỹ với các nước như Arập Xêút và Côoét, gây bất lợi cho những nước này. Cuối cùng, dù có vụ Watergate hay không, thì một siêu cường như Mỹ sẽ luôn vẫn có được vị thế hiện tại.

Song những nhà xuất khẩu Arập đã thành công trong việc rút quân chủ bài, không muốn nhanh chóng đưa vấn đề này ra khỏi bàn thương lượng. Họ không muốn bị xem là đã quá nhanh chóng nhượng bộ theo những lời nịnh bợ của Mỹ. Tuy nhiên lệnh cấm vận kéo dài khiến số lượng dầu mỏ bị rò rỉ ra ngoài thị trường ngày càng nhiều hơn, và do đó khiến việc cắt giảm lượng dầu trở nên ít hiệu quả hơn. Người Arập Xêút cho biết sẽ không ngừng lệnh cấm vận chừng nào mặt trận Syria chưa có biến chuyển và ít nhất là sự bằng lòng ngầm của Hafez al-Assad của phía Syria, người tức giận Sadat vì tiến bộ ngoại giao đạt được trên mặt trận Ai Cập. Thực tế, Assad có quyền bỏ phiếu phủ quyết trước quyết định giữ nguyên lệnh cấm vận. Để giúp chấm dứt điều này, người Arập Xêút đã mở cửa cho các cuộc thương lượng về việc không tham chiến trên Cao nguyên Golan giữa Mỹ - Syria. Trung tuần tháng 2 năm 1974, Faisal đã gặp Sadat, Assad và Tổng thống Angiêri ở thủ đô Angiê. Sadat nói rõ việc ông cho rằng lệnh cấm vận không còn hữu ích nữa và có thể nó đi ngược lại những lợi ích của người Arập. Ông cho biết người Mỹ đang thực hiện đường lối phù hợp với thực tế chính trị mới. Faisal đồng ý chấm dứt lệnh cấm vận song ở chừng mực vẫn còn "nỗ lực mang tính xây dựng" từ phía Mỹ đối với thỏa thuận không can thiệp vào mối quan hệ giữa Syria - Israel. Tuy nhiên, vài tuần sau, Assad vẫn giữ quan điểm rất cứng rắn, ngăn cản các nước khác công khai tán thành việc chấm dứt lệnh cấm vận. Tuy nhiên, các nước này cũng nghiêm túc xem xét những cảnh báo rằng Mỹ sẽ không thực hiện nỗ lực hòa bình không được dỡ bỏ nếu không dỡ bỏ lệnh cấm vận. Ngày 18 tháng 3, các bộ trưởng dầu mỏ Arập đồng ý chấm dứt lệnh cấm vận. Syria và Libi vẫn không tán đồng quyết định này.

Sau hai thập kỷ đàm phán và nhiều nỗ lực thất bại, vũ khí dầu mỏ cuối cùng đã được sử dụng thành công với ảnh hưởng không chỉ đầy thuyết phục mà còn mang tính chi phối, thậm chí lớn hơn nhiều so với mức mà những người đề xuất ra nó kỳ vọng. Nó đã vẽ lại mối liên kết và tình hình địa chính trị của cả Trung Đông và toàn thế giới. Nó đã làm biến đổi thế giới dầu mỏ và các mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, và tạo dựng lại nền kinh tế quốc tế. Giờ đây, vũ khí dầu mỏ có thể đã khép lại song mối đe dọa thì vẫn còn đó.

Tháng 5, Henry Kissinger có thể bảo đảm cho thỏa thuận không tham chiến Syria - Israel, tiến trình hòa bình dường như đã bắt đầu. Tháng 6, Richard Nixon có chuyến thăm tới Israel, Ai Cập, Syria, và Arập Xêút. Lệnh cấm vận giờ đây đã là quá khứ, dù là quá khứ rất gần đây. (Nó vẫn còn hiệu lực đối với Hà Lan). Mỹ có thể đúng khi tuyên bố có những khởi đầu tốt đẹp về những kết quả đáng chú ý trong chính sách ngoại giao với Trung Đông. Tuy nhiên, vụ Watergate đã xảy ra, và thái độ của Nixon trong chuyến đi này ở chừng mực nào đó rất khó hiểu. Khi hội đàm với Nội các Israel ở thủ đô Ten Avíp, Nixon bỗng nhiên tuyên bố mình biết cách tốt nhất để ứng phó với những kẻ khủng bố. Ông ta nhảy lên, với một chiếc súng tiểu liên tưởng tượng trong tay, vờ như bắn hạ toàn bộ nội các bằng âm thanh "brrrr". Người Israel bối rối và lộ vẻ lo lắng. Ở thủ đô Đamát của Syria, Nixon nói với Assad rằng nên đẩy lùi Israel cho tới khi họ bị bật ra khỏi vách đá này, và để nhấn mạnh điểm này, ông đã có những cử chỉ kỳ lạ. Sau đó, trong các cuộc gặp khác với phía Mỹ, Assad thường nhắc đi nhắc lại phát biểu của Nixon. Tuy nhiên, khi ở Ai Cập, Nixon đã có những khoảnh khắc tuyệt vời. Những ngày ở đây có thể coi là thời khắc huy hoàng đối với ông. Hàng triệu người Ai Cập nhiệt tình, cuồng nhiệt hóa ra lại hoan nghênh ông. Thực sự đó là lần cuối cùng ông được chào đón nồng nhiệt. Ở đó còn cho thấy những điều trớ trêu. Đây là mảnh đất của Gamal Abdel Nasser, một lãnh tụ có tài hướng đám đông lên án chủ nghĩa đế quốc phương Tây và cụ thể là Mỹ. Nhưng giờ đây, đất nước mà Richard Nixon rất có thể bị các đám đông thù địch tiếp đón không phải là Ai Cập mà là Mỹ. Việc ông bị phản đối gay gắt ở quê nhà trong những năm tháng cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống thật tương phản với tiếng la hét và kích động chào đón ông trên các đường phố ở Cairo. Đối với người Ai Cập, đây là lễ kỷ niệm sự phục hưng Ai Cập của Sadat và uy tín của nước này, vốn bị lu mờ nhiều trong những năm cuối của Nasser. Đối với Nixon, đó có thể là lễ kỷ niệm cả việc chấm dứt lệnh cấm vận và tính hiệu quả ngoại giao trong chính quyền của ông. Song ông gần như không thể tận hưởng cảm giác đó. Khi thực hiện chuyến thăm này, sức khỏe ông không tốt, chân của ông bị sưng lên vì bị viêm tĩnh mạch, và ông đã dành nhiều thời gian rỗi trong chuyến thăm để lắng nghe những cuốn băng ghi âm tại Phòng bầu dục - những cuốn băng đã buộc ông phải từ chức.

Còn tiếp

Nam Hà (giới thiệu)