Thứ bảy 23/06/2018 01:40
Thời đại số hóa

Công nghiệp dầu khí phải tăng tốc

06:45 | 18/04/2018

|
Để tận dụng các lợi ích từ sự phục hồi giá dầu, nhiều công ty trong lĩnh vực dầu khí đã đưa ra các mô hình định giá mới, các khoản đầu tư vào công nghệ kỹ thuật số và vào các giải pháp tuân thủ để giành được thắng lợi trong năm 2018.

Tăng cường đầu tư vào công nghệ số

Việc cắt giảm chi phí và nhân công trong những năm gần đây đã chấm dứt, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho các công ty trong lĩnh vực dầu mỏ mà còn cho cả các nhà cung cấp của họ. Nhu cầu dầu mỏ của phương Tây và Trung Quốc đang ngày càng tăng. Ngoài ra, mới đây Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cũng vừa nâng mức dự báo nhu cầu dầu thô tăng thêm 1,35 triệu thùng/ngày lên 98,12 triệu thùng.

cong nghiep dau khi phai tang toc
Ảnh minh họa

Từ các dữ liệu kinh tế vĩ mô cho thấy, mức tăng này có thể kéo dài trong những thập niên tiếp theo, các công ty dầu mỏ và khí đốt đang bắt đầu tăng cường các hoạt động của họ, nhất là trong lĩnh vực về công nghệ số.

Trong ngành công nghiệp này, các công ty dầu khí thực sự có nhu cầu khai thác các công nghệ kỹ thuật số như hiệu ứng đám mây Cloud, Internet vạn vật (IoT), Big Data, chương trình lên lịch và lập kế hoạch trước hay tự động hóa để trở nên thông minh, linh hoạt và hiệu quả hơn trong khai thác dầu khí.

Điều này phần nào giải thích cho lý do vì sao trong mấy năm nay, các công ty này lại thực hiện việc cắt giảm nhân công?

Lấy ví dụ, các công việc trước kia được thực hiện bằng tay thì nay cần phải thực hiện bằng hệ thống tự động hóa. Songa Offshore là một trong những công ty đi tiên phong trong lĩnh vực này. Công ty này đã kết nối với các bộ cảm biến IoT 600 đang hoạt động trên 4 giàn khoan dầu tại khu vực Bắc Đại Tây Dương.

Sau khi đưa các dữ liệu thu thập được vào phần mềm hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP), hệ thống này sẽ giúp công ty giảm thiểu các chi phí bảo trì và tăng năng suất, đồng thời cải thiện hiệu quả hoạt động.

Tiềm năng chính của việc tối ưu hóa hệ thống này nằm ở việc tự động hóa các lệnh làm việc. Họ sử dụng các dữ liệu lấy từ các cảm biến để thực hiện việc tự động hóa, vừa giúp công ty tiết kiệm thời gian, vừa tăng năng suất hoạt động.

Bên cạnh đó, họ cũng đầu tư các công nghệ tiềm năng khác như công nghệ đèn hiệu (công nghệ Beacon) để nâng cao mức độ an toàn cho các thành viên trong công ty khi họ đang làm việc trong khu vực quy định.

Ngoài ra, các giải pháp mô phỏng và lập kế hoạch trước có thể giúp các công ty trong ngành công nghiệp dầu khí đẩy nhanh quá trình xin cấp phép khoan cũng như tối đa hóa năng suất bằng cách phân vùng những nơi họ được phép khoan tốt hơn.

Tự động hóa việc giám sát

Với áp lực toàn cầu về việc chính phủ muốn giảm ô nhiễm, trong năm 2018, các công ty dầu khí đang có nhu cầu tìm kiếm các giải pháp để giảm thiểu lượng khí CO2 và khí nitơ oxit, đồng thời chứng minh các giải pháp nào hiệu quả thông qua các tài liệu tuân thủ.

cong nghiep dau khi phai tang toc
Việc áp dụng công nghệ số hóa vào ngành dầu khí sẽ đem lại những hiệu quả cao

Do đó, chúng ta có thể thấy hiện nay đang có xu hướng từ bỏ dầu diesel trong cơ cấu năng lượng chung và thay thế bằng các dạng năng lượng tái tạo. Một giàn khoan dầu mỗi năm tạo ra lượng khí thải tương đương với lượng khí thải của 5.000 chiếc xe hơi, điều này thực sự đặt ra thách thức lớn không những cho nền kinh tế mà còn cho môi trường.

Các giải pháp quản lý rủi ro và tuân thủ sẽ trở thành một yêu cầu quan trọng để tự động hóa việc giám sát và báo cáo tỷ lệ phát thải thay cho các quá trình thủ công không hiệu quả. Mặc dù không dễ để kết nối với mạng lưới Internet, nhưng các giàn khoan dầu vẫn có thể truy cập vào hệ thống đám mây nhờ vào công nghệ truyền thông vệ tinh.

Thay đổi cách thức trả công dịch vụ

Để khai thác nhanh và hiệu quả hơn đòi hỏi các công ty phải thay đổi cách thức chi trả cho các nhà cung cấp và nhà thầu phụ của họ. Thay vì lúc trước họ mua các gọi dịch vụ trọn gói về khai thác và bảo trì hệ thống thì nay họ chuyển sang trả công dựa trên hiệu suất của hệ thống.

Vì vậy, khi một công ty dầu mỏ ký một hợp đồng trị giá 300.000USD trong thời hạn 100 ngày với một nhà thầu phụ, họ có thể trả thêm tiền thưởng cho các nhà thầu phụ này nếu họ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời gian ngắn hơn.

Điều này tạo ra các cơ hội mới để các nhà cung cấp cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của họ sao cho ngày càng hiệu quả hơn.

Một lần nữa, Internet vạn vật và việc phân tích các dữ liệu lại trở thành những công cụ chủ chốt, vì các cảm biến của những công cụ này có thể đáp ứng các điều kiện khác nhau của môi trường và việc khoan giếng dầu để tối đa hóa năng suất.

Tuy nhiên, chỉ với công nghệ này thì không thể đáp ứng được hết tất cả các mục tiêu mà các công ty đề ra, trừ phi các công ty này có thể phá vỡ các cấu trúc liên kết (cấu trúc silo) truyền thống giữa đội ngũ giám sát các trang thiết bị, phân tích các điều kiện thời tiết với đội ngũ kinh doanh. Xu hướng này cũng có thể được áp dụng trong các mô hình dịch vụ hóa sản phẩm (servitisation). Ngoài ra, theo một nghiên cứu của Quỹ Tài trợ Nghiên cứu khoa học quốc tế (IFS) về các lợi ích của việc áp dụng mô hình servitisation vào các công ty dầu khí cho thấy, mô hình này vừa giúp công ty có thêm các dịch vụ sáng tạo vừa giúp họ giảm từ 10 đến 15% lượng khí thải CO2, đồng thời các chi phí bảo trì cũng giảm 25-30%.

Cứ mỗi 5 năm, người ta phải ngừng hoạt động các dàn khoan ngoài khơi để thực hiện các công tác bảo trì một cách kỹ lưỡng. Đối với các công ty có doanh thu hằng ngày 300.000-400.000USD thì việc ngừng hoạt động trong vòng 3 tuần có thể làm cho họ tổn thất hàng chục triệu USD.

Do vậy, việc cải tiến các công nghệ lập kế hoạch sẽ làm thay đổi hoạt động của ngành công nghiệp dầu khí, giúp các công ty hoạch định tốt hơn. Các giải pháp đổi mới này sẽ giúp tối đa hóa nguồn nhân lực và kết hợp với việc đánh giá các rủi ro chính về tài sản để đảm bảo cho công ty rằng, các hoạt động bảo trì đã được thực hiện và ghi chép lại chính xác.

Và sau đó?

Vì vậy, các công ty dầu khí cần làm gì để tận dụng tốt nhất các cơ hội trong năm 2018? Nhiều công ty cần phải thực hiện việc “dọn dẹp kỹ thuật số”. Hiện nay, còn rất nhiều công cụ, kỹ thuật và quy trình vẫn đang hoạt động và gây trở ngại cho việc đổi mới hệ thống của các công ty dầu khí.

Ví dụ, với hệ thống tự động hóa, không thể vận hành hệ thống nếu các quy trình vận hành bằng tay dễ xảy ra lỗi lại được tự động hóa. Nghiên cứu nói trên của IFS cho biết, chỉ 7% các công ty trên thế giới khai thác thành công các dữ liệu của họ và đạt được lợi thế cạnh tranh. Đây là mức thấp nhất đối với tất cả doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp.

May mắn thay, ngành công nghiệp dầu khí hiện đang trên đà phục hồi sau những năm khó khăn do thiếu đầu tư. Các công ty trong lĩnh vực dầu mỏ biết họ sẽ cần phải làm những gì để tận dụng sự phục hồi này, giúp công ty trở nên hiện đại và cạnh tranh hơn.

Nhưng để đạt được mức tăng trưởng, đồng thời nâng cao lợi nhuận và đổi mới mô hình tổ chức thì các công ty này phải đầu tư vào cả hai mảng kỹ thuật số và công nghệ mới.

S.Phương

Share on Google+