Thứ tư 22/11/2017 09:11
Đồng bằng sông Cửu Long

Cần giải pháp đồng bộ phòng chống sạt lở

09:01 | 23/10/2017

|
Do đặc điểm về địa hình, địa chất cùng với các yếu tố tác động từ biến đổi khí hậu khiến Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên xảy ra tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển.

Sạt lở diễn ra nghiêm trọng

Từ năm 2010 trở lại đây, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có 562 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 786km. Trong đó có 40 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm (sạt lở gây nguy hiểm trực tiếp đến an toàn đê điều, khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), tổng chiều dài 131km. Bao gồm, bờ sông 21 điểm với tổng chiều dài 37km, bờ biển 19 điểm với tổng chiều dài 94km.

Trong những năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu, diễn biến thời tiết mưa bão bất thường, chế độ dòng chảy thay đổi, hình thành các đập thủy điện ở thượng nguồn giữ lại bùn cát nên dòng chảy hạ lưu bị “đói” bùn cát, mất cân bằng về địa hình, làm thay đổi dòng chảy.

can giai phap dong bo phong chong sat lo
Sạt lở ở sông Vàm Nao, khu vực ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Bên cạnh đó, hoạt động khai thác cát trên sông Mê Kông đang diễn ra rất phức tạp. Việc khai thác cát quá mức đã làm lòng sông bị hạ thấp, dẫn đến cao độ mực nước về mùa kiệt trên các tuyến sông bị giảm; thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy tại các phân lưu, hợp lưu ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định bờ sông, bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn ven biển.

Mực nước biển thực đo tại các trạm hải văn có xu thế tăng với tốc độ mạnh nhất là 5,58mm/năm. Theo kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016 cho thấy, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập chìm từ 19-39% nếu mực nước biển dâng thêm 1m.

Do đồng bằng được hình thành bởi bồi đắp trong thời gian ngắn (đồng bằng trẻ), nền địa chất mềm yếu, khả năng chịu lực thấp dễ xảy ra sụt lún, sạt lở. Việc khai thác nước ngầm quá mức để nuôi trồng thủy, hải sản, nhất là ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau thời gian gần đây đã gây ra hiện tượng lún, sụt đất trên diện rộng.

Nước biển có xu thế dâng cao, bờ biển thường xuyên bị xói lở, hạ thấp do bùn cát giảm, làm chiều cao cột nước tăng, cùng với tác động của gió làm sóng biển ngày càng cao.

Cần những giải pháp đồng bộ

Để chủ động hơn trong công tác phòng ngừa, ứng phó thiên tai, UBND tỉnh An Giang đã ban hành “Phương án ứng phó thiên tai theo cấp độ rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh An Giang” (tại Quyết định số 2424 ngày 9-8-2017), trong đó có tính đến phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục cho từng cấp độ sạt lở, sụt lún đất do mưa, lũ và dòng chảy gây ra, nhằm giúp cho các cấp chính quyền và nhân dân tăng tính chủ động trong công tác ứng phó, hạn chế tối đa thiệt hại về người, tài sản. Tuyên truyền giáo dục nhân dân hiểu về mặt lợi và hại, để người dân có ý thức bảo vệ, phòng chống sạt lở, không xây cất nhà cửa lấn chiếm bờ sông, không khai thác đất cát ven sông, di dời nhà ở đến nơi an toàn...

Từ năm 2010 đến tháng 10-2017 An Giang đã xảy ra hơn 228 vụ sạt lở đất bờ sông, kênh, rạch với tổng chiều dài 62.848m, mất khoảng hơn 345.426m2 đất. Ước tổng thiệt hại về đất khoảng 288,16 tỉ đồng.

Theo ông Tăng Quốc Chính, Vụ trưởng Vụ Kiểm soát an toàn thiên tai, Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trước mắt cần giải quyết hiệu quả vấn đề mất cân bằng bùn cát trên sông, kênh rạch và vùng ven biển, lún sụt đất. Tăng cường công tác quản lý bờ sông, kênh, rạch, bờ biển giảm tác động gây xói lở theo hướng quản lý tổng hợp, dành không gian thoát lũ, làm đường giao thông, đắp đê. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng chống sạt lở bờ sông, kênh rạch; xói lở bờ biển, lún sụt đất, trồng và phục hồi rừng ngập mặn thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh. Quan trắc, cập nhật cơ sở dữ liệu về sạt lở bờ sông, kênh, rạch, xói lở bờ biển; lún, sụt đất; thủy, hải văn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cần rà soát, chỉ cấp phép khai thác cát với khối lượng hợp lý đảm bảo sự cân bằng tương đối, giám sát chặt chẽ, có chế tài xử phạt, làm rõ trách nhiệm của các cấp. Kiểm soát việc sử dụng và khai thác nước ngầm để hạn chế hiện tượng lún sụt đất. Quy hoạch hệ thống quan trắc diễn biến xói lở bờ biển, nước biển dâng, dòng ven.

Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất các giải pháp thay thế cát san lấp và cát xây dựng; tiến tới không sử dụng cát để san lấp. Sử dụng hợp lý bùn cát nạo vét để san lấp, đắp đê, làm đường (khối lượng nạo vét trung bình 200 triệu m3/năm).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần quy hoạch chỉnh trị sông gắn với quy hoạch dân cư, quy hoạch sử dụng đất vùng ven sông theo hướng dành không gian thoát lũ, xây dựng công trình giao thông, đê điều. Quản lý tổng hợp vùng bờ theo hình thức xã hội hóa, gắn trách nhiệm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ven biển.

Ngoài ra, UBND cấp tỉnh cũng cần thống nhất giao một đầu mối cấp phép khai thác cát trên các dòng sông. Quản lý chặt chẽ việc xây dựng nhà ở, công trình ven sông để hạn chế chất tải lên bờ sông, kênh rạch, cản trở dòng chảy; kiểm soát, chấn chỉnh việc phá rừng cho các mục đích kinh tế, trồng rừng thay thế...

Thắng Trung