Thứ ba 21/11/2017 06:23

Bờ biển kêu cứu (Bài cuối)

08:00 | 09/04/2017

|
Để ngăn chặn biển xâm thực và tình trạng sạt lở bờ biển ngày càng nghiêm trọng, một loạt các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long đã dốc kinh phí xây dựng các đê kè chắn sóng. Tuy nhiên, đó chỉ là biện pháp khẩn cấp tạm thời trong cuộc hành trình gian nan “dời non, lấp biển”...   

Bài cuối: Gian nan hành trình “dời non, lấp biển”

Chắn sóng biển miền Trung như “muối bỏ bể”

Dọc tuyến bờ biển miền Trung, điểm sạt lở lớn nhất có nguy cơ đe dọa cao nhất là điểm Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam), vì vậy, các phương pháp chống sạt lở cả kiên cố lẫn tạm thời được triển khai.

Trước năm 2016, Nhà nước đã đầu tư hơn 70 tỉ đồng xây dựng kè chống dài hơn 850m dọc bãi biển Cửa Đại. Các tổ chức và cá nhân kinh doanh ở khu vực này cũng đã tự đầu tư nhiều tỉ đồng nhằm xây kè. Điển hình, từ tháng 6-2015, khu nghỉ dưỡng Victoria đầu tư kinh phí 10 tỉ đồng cho cụm công trình giảm sóng, ngăn cát bằng kết cấu ống địa kỹ thuật. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là “muối bỏ bể” khi đầu tư manh mún, không có hệ thống, giải pháp đồng bộ. Xói lở bờ biển Cửa Đại vẫn đang tiếp diễn với tốc độ nhanh và cường độ mạnh hơn trước.

bo bien keu cuu bai cuoi
Kè Gành Hào bị sạt lở nghiêm trọng đe dọa cuộc sống 8.000 hộ dân

Gần đây nhất, tháng 11-2016, Quảng Nam đã tiếp tục triển khai dự án xây kè khẩn cấp chống xâm thực bờ biển Cửa Đại với quy mô lên đến 60 tỉ đồng từ ngân sách Nhà nước. Phương thức xây kè mềm bằng bao cát (túi địa kỹ thuật) có trọng lượng khoảng 300 tấn, chiều dài 20m, cao 5m để thả ngầm xuống dưới biển, chắn sóng, chống biển xâm thực trên suốt chiều dài 1,6km từ khách sạn Victoria ra hướng tây bắc.

Cũng trong thời điểm này, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) cũng có một dự án nạo vét luồng khẩn cấp để giải quyết thực trạng bồi lấp cục bộ tại cửa sông Thu Bồn, tạo điều kiện cho tàu thuyền ra vào sông. Gói kinh phí hơn 10 tỉ đồng của dự án này từ ngân sách Trung ương. Quản lý dự án là Đoạn Quản lý đường thủy nội địa - Sở GTVT Quảng Nam.

Trước tình trạng bờ biển Cửa Đại có thể “thất thủ”, nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế về lĩnh vực thủy lợi đã được mời đến để họp bàn phương án giải quyết triệt để. Tại những hội thảo hay thị sát khẩn cấp, nhiều nhà khoa học và quản lý đều nhất trí phương án “phá sóng” để cứu bờ biển này.

Phương pháp “phá sóng” được chỉ ra bao gồm giải pháp kè cứng mái nghiêng và giải pháp đê giảm sóng, nuôi bãi thực hiện tại khu nghỉ dưỡng Victoria tỏ ra khá hiệu quả. Tuy nhiên, về lâu dài, nghiên cứu quy hoạch đầu tư bảo vệ bờ biển cần được xây dựng và có phương án bổ sung lượng cát đã mất. Việc đầu tư theo quy hoạch này có thể giúp tránh hiện tượng bồi ở vùng có công trình nhưng sạt lở ở vùng không được bảo vệ.

Không chỉ bờ biển Cửa Đại, hầu hết tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung chủ yếu áp dụng giải pháp xây dựng kè cứng chống sạt lở bờ biển. Theo đánh giá chung, đây là giải pháp có đầu tư cao, chưa thực sự bền vững, hiệu quả tại một số khu vực, không phù hợp với xu thế chung được nhiều nước hiện nay hướng tới là áp dụng các biện pháp “thân thiện với môi trường” và trả lại không gian cho biển.

Đối với tình trạng chung của các bờ biển miền Trung, ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT đưa ra hàng loạt giải pháp như khi triển khai xây dựng đầu tư cần xét đến tính hệ thống của tự nhiên, xác định nguyên nhân chính gây sạt lở để có giải pháp phù hợp, xây dựng kế hoạch đầu tư cụ thể để tránh hối tiếc về sau. Thêm nữa, cần đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân và các cấp chính quyền.

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Chủ tịch Hội Thiên nhiên và Môi trường biển Việt Nam kiến nghị cách tiếp cận “Từ đầu nguồn xuống biển”. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, vùng bờ biển miền Trung rất quan trọng, nằm chuyển tiếp giữa lưu vực sông và biển bên ngoài, nhưng các hệ thống này lại quản lý một cách biệt lập.

“Vì vậy, cần cách tiếp cận tích hợp để lồng ghép quản lý lưu vực sông với vùng bờ biển dựa trên mối liên kết sinh thái, thủy văn và kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng mới mong chống được sạt lở bờ biển một cách bền vững” - PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh.

Miền Tây: Trồng rừng làm “kè mềm” bất tử

Tại tỉnh Trà Vinh, do sạt lở càng lúc càng nhiều nên các ngành chức năng tỉnh này xin Trung ương hỗ trợ kinh phí xây dựng kè kiên cố với khoảng 10,3km ở những khu vực trọng yếu thuộc thị xã Duyên Hải và huyện Duyên Hải. Dự án kè kiên cố được triển khai nhiều năm, nhưng đến nay mới hoàn thành được khoảng 5,6km, số còn lại chưa thực hiện do thiếu kinh phí, bởi trung bình kè 1km tốn khoảng 100 tỉ đồng.

Tại tỉnh Tiền Giang, cuối năm 2015, UBND tỉnh Tiền Giang có công văn kiến nghị Trung ương hỗ trợ hơn 400 tỉ đồng đầu tư kè mái đê biển Gò Công ở những đoạn xung yếu. Trước đó, tỉnh triển khai Dự án kè mái chống sạt lở hơn 6,3km, đến nay thi công được 5,3km thì sạt lở tiếp tục lấn sâu, nên tiếp tục nâng chiều dài kè lên 10km…

Công trình kè Gành Hào khởi công xây dựng từ năm 2003 và hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2006. Vào thời điểm này, kè Gành Hào được xem là kiên cố bậc nhất tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, chỉ được khoảng 10 năm thì bị sạt lở, nhất là 2 năm trở lại đây. Theo đánh giá của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, kè Gành Hào sau khi đưa vào sử dụng, qua quan trắc môi trường cho thấy bị sụt lún khá lớn. Khối đất đá, bệ đỡ, hàng cọc, độ giữa đất cũng có ảnh hưởng lớn. Đặc biệt, bãi kè đã có những tác động nghiêm trọng.

Nhiều người dân ở Gành Hào cho biết, phía đối diện cửa biển Gành Hào là Tân Thuận (Cà Mau), trước đây cũng sạt lở như bên này. Nhưng khi làm kè ngầm tạo bãi thì việc sạt lở không còn diễn ra. Ông Nguyễn Thiện Pháp, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Tiền Giang nhìn nhận: “Về cơ bản khi rừng phòng hộ bị mất thì đê biển sẽ lung lay bởi không còn cây chắn sóng. Do đó, việc phòng chống sạt lở đê biển hiệu quả nhất vẫn là khôi phục lại rừng ven biển. Và Tiền Giang cũng đang thực hiện dự án kè giảm sóng, gây bồi, tạo bãi trồng rừng ngập mặn ở huyện Gò Công Đông, với dự án dài 1.420m”.

Theo một số chuyên gia, giải pháp xây “kè mềm”, trồng lại rừng ven biển, khôi phục đai rừng phòng hộ… được đồng thuận rất cao. Tuy nhiên, các đai rừng ven biển càng ngày càng mỏng và mất dần. Trong khi đó, việc hồi phục đai rừng chưa như mong đợi. Thêm nữa, một số khu vực đã bị sạt lở nghiêm trọng, bãi bồi không còn, đai rừng bị mất hết… nên để trồng lại rừng cũng lắm gian nan.

Ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Bạc Liêu, cũng thừa nhận: “Để bảo vệ bờ biển, hệ thống kè ven biển trên địa bàn trước biến đổi khí hậu, tỉnh đã đặt hàng với Viện Thủy lợi miền Nam, các trường đại học để đưa ra định hướng xây dựng hệ thống đê kè phù hợp với đặc điểm vùng biển Bạc Liêu. Thực tế, giải pháp gây bồi tạo bãi, khôi phục lại rừng phòng hộ ven biển… là bền vững nhất”.

Đối với tình trạng sạt lở bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long, các nhà khoa học thủy lợi đồng tình cho rằng: Về lâu dài, để ứng phó với sạt lở đê biển cần áp dụng kè mềm, gây bồi, tạo bãi trồng rừng. Khi những vạt rừng ngập mặn hồi sinh mới có thể góp phần chắn sóng, chống sạt lở hiệu quả. Cách làm này vừa ổn định môi trường, vừa tạo sinh kế cho người dân ven biển mưu sinh dưới tán rừng.

An An