Chủ nhật 20/08/2017 11:15

Bờ biển kêu cứu (Bài 3)

08:00 | 06/04/2017

|
Hàng chục cuộc hội thảo, hàng trăm cuộc khảo sát dọc các bờ biển bị sạt lở được tổ chức với sự góp mặt của nhiều nhà khoa học thủy lợi hàng đầu trong nước và quốc tế nhằm truy rõ nguyên nhân: Nguồn cơn nào làm biển “giận” để tìm cách khắc phục.  

Miền Trung: “Sự can thiệp thô bạo của con người”

Thống kê mới nhất của Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT) gần đây cho thấy, tình trạng sạt lở bờ biển khu vực Miền Trung đã diễn ra trong toàn tuyến và không dừng lại ở tình trạng cục bộ vài địa điểm mà diễn ra ở nhiều nơi.

“Dọc 865km bờ biển các tỉnh từ Quảng Trị đến Phú Yên đã xảy ra 164 đoạn sạt lở nặng, tổng chiều dài hơn 170km, bờ bị biển ăn sâu vào đất liền trong vòng 10 năm qua đe dọa nghiêm trọng tài sản, tính mạng người dân” - báo cáo của Tổng tục này cho thấy.

Theo PGS.TS Nguyễn Trung Việt - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ - Kinh tế và Thủy lợi miền Trung nhận định, hiện tượng xói lở đang dịch chuyển dần về phía bắc một cách rõ nét, xói lở không chỉ xuất hiện trong điều kiện gió bão mà còn ngay cả trong thời tiết bình thường. Nguyên nhân mà PGS.TS Nguyễn Trung Việt chỉ ra cho việc sạt ở nhiều điểm toàn khu vực biển miền Trung là do sụt giảm bùn cát, lưu lượng nước từ thượng lưu giảm sút, tình trạng biến đổi khí hậu và cả sự tác động của con người.

Tại hội thảo “Giải pháp phòng, chống sạt lở bờ biển khu vực miền Trung” do Bộ NN&PTNT tổ chức tại Hội An (Quảng Nam) gần đây, GS.TS Hitoshi Tanaka, Phó chủ tịch Hội Xây dựng dân dụng Nhật Bản phân tích, bãi biển Cửa Đại và nhiều nơi khác thuộc các cửa sông ven biển của miền Trung đang bị sạt lở do ảnh hưởng của thiên tai và các hoạt động can thiệp thô bạo của con người. Đặc biệt là nạn khai thác cát quá mức, sự tàn phá rừng đầu nguồn hoặc tác động của việc xây dựng các nhà máy thủy điện làm thay đổi lưu lượng dòng chảy.

bo bien keu cuu bai 3
Sạt lở vẫn tiếp tục đe dọa người dân Cửa Đại, Hội An, Quảng Nam

GS.TS Hitoshi Tanaka nói: “Theo dõi diễn tiến sạt lở bãi biển Cửa Đại cho thấy, ngoài yếu tố tác động thiên tai, nguyên nhân chính được xác định vì thiếu hụt lượng cát bùn rất lớn từ thượng lưu sông Thu Bồn đổ về. Vào các mùa mưa - nắng, sự thay đổi của dòng chảy đã mang đi và mang đến lượng cát bồi lấp không đều, dẫn đến sạt lở mạnh”.

“Xói lở là do sự suy giảm bùn cát từ thượng lưu. Minh chứng cho điều này là thông qua mô phỏng quá trình hình thành cửa sông dạng đồng bằng, bởi việc giả định nguồn bùn cát phong phú từ thượng lưu cũng như quá trình xói lở bờ biển được mô phỏng thông qua nghiệm giải tích của mô hình tính toán đơn giản, một chiều khẳng định rõ rệt về khu vực sạt lở xảy ra ở bãi biển Cửa Đại” - vị GS.TS, nguyên Chủ tịch Hội Quốc tế về nghiên cứu và kỹ thuật thủy văn môi trường Châu Á - Thái Bình Dương lý giải.

Còn theo phân tích của các nhà khoa học trong nước, quá trình xói lở bờ biển Cửa Đại nói riêng, do kết hợp giữa dòng vận chuyển cát theo hướng vuông góc với bờ và dòng chuyển cát dọc bờ. Thông thường tại vùng biển này, xói lở nặng xảy ra vào mùa đông, khi đó trường sóng mạnh trong gió mùa đông bắc kết hợp với nước biển dâng ven bờ. Sự thay đổi của cán cân bùn cát do hình thành các nhà máy thủy điện trên hệ thống lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Phía hạ du bờ biển không đủ lượng cát cần thiết nên bị xói lở.

Còn theo GS.TS Trần Đình Hòa, Phó giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và nhóm nghiên cứu đã có nghiên cứu tổng quan tình hình xói lở và bồi lắp các cửa sông ven biển miền Trung cho rằng, diễn biến, biến động cửa sông ven biển là rất phức tạp chịu tác động đặc biệt của thời tiết làm quá trình sạt lở, xâm thực biển tăng nhanh trong thời gian vừa qua.

Miền Tây: Bờ biển bị “nuốt” do mất rừng, hụt cát phù sa

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (Bộ NN&PTNT), vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với khoảng 700km bờ biển thì đến nay có hơn 50% chiều dài bờ biển bị sạt lở ở nhiều mức độ khác nhau. Theo đó, từ Tiền Giang đến Sóc Trăng là bờ biển cát, còn từ Bạc Liêu cho đến Hà Tiên (Kiên Giang) là biển bùn - đây cũng chính là “điểm cốt tử” của việc sạt lở.

Qua khảo sát của các nhà chuyên môn cho thấy, giai đoạn 2003-2012, các vùng biển bùn thuộc Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang nhiều nơi sạt lở đến 50m/năm, nhiều nhất là phía biển đông; trong khi phía biển tây dù ít sóng nhưng cũng sạt lở mạnh… Tính bình quân nạn sạt lở làm mất đi khoảng 5km2 đất bờ biển/năm.

Theo Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu về sinh thái vùng ĐBSCL, trước đây lượng phù sa từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về vùng ĐBSCL mỗi năm khoảng 160 triệu tấn, nhưng từ khi phía Trung Quốc xây dựng 7 đập thủy điện thì lượng phù sa giảm còn 75 triệu tấn/năm.

“Tới đây, nếu 11 đập thủy điện ở Lào và Campuchia hoạt động ngăn dòng chính sông Mê Kông thì lượng phù sa tiếp tục giảm xuống mức còn khoảng 42 triệu tấn/năm. Đối với lượng cát di chuyển từ thượng nguồn về ĐBSCL nguy cơ biến mất 100%. Thiếu phù sa, mất cát do bị các đập thủy điện ở đầu nguồn chặn lại sẽ dẫn đến thực trạng sạt lở bờ biển, đê biển ngày càng dữ dội hơn” - Th.S Thiện nói.

Nhiều chuyên gia khác về ĐBSCL cho rằng, vai trò của cát tại vùng biển này cực kỳ quan trọng, bởi cát không chỉ dùng để san lấp thông thường mà nó còn có nhiều vai trò khác, trong đó giúp ổn định bờ sông, bờ biển là không thể thiếu. Chưa kể, khi cát bị mất nhiều thì sạt lở gia tăng và phạm vi đất đai sẽ bị thu hẹp lại.

Cùng với vai trò của cát, các chuyên gia cũng nhấn mạnh đến vai trò của bùn phù sa. Theo đó, vùng ĐBSCL mới được hình thành khoảng 6.000 năm, khá trẻ và bồi đắp nhờ phù sa thô. Lớp phù sa bên trong cửa sông đổ ra biển giống như “lớp áo khoác” che chắn, bảo vệ đất ven biển, làm giảm bớt tác động sóng đánh.

Do đó, khi lượng phù sa thiếu hụt, lớp áo này bị hỏng và sẽ bị nước biển tấn công mạnh, gây ra sạt lở nhiều hơn. Về lý thuyết nếu lượng phù sa nhiều thì sẽ thắng năng lượng biển, không ảnh hưởng đê biển; trong khi hiện nay lượng phù sa và cát về rất ít nên sóng liên tục đánh vào bờ, không “thắng” được năng lượng biển nên sạt lở là chuyện hiển nhiên.

Tại một số tỉnh ở ĐBSCL, tình trạng sạt lở bờ biển còn có nguyên nhân khác bởi vì mất hẳn “lá chắn” là các rừng phòng hộ đầu nguồn.

Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, điều này đang ứng với vùng biển Gành Hào (Bạc Liêu) và kè Gành Hào hiện tại. Viện này dẫn chứng: Công trình kè Gành Hào (đoạn kè G1-185 tiếp giáp đoạn kè G2-158, điểm bị sạt lở) khởi công xây dựng từ năm 2003 và hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2006.

Vào thời điểm này, kè Gành Hào được xem là kiên cố bậc nhất tại vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, chỉ “đương đầu” với sóng biển được chừng 10 năm thì bị sạt lở, nhất là 2 năm trở lại đây.

Nguyên nhân là do khối đất đá, bệ đỡ, hàng cọc, độ giữa đất cũng có ảnh hưởng lớn. Dòng chảy tại nơi này có sự thay đổi tại bờ sông Gành Hào, bởi nơi đây là cuối biển - đầu sông, nên nước từ cửa sông chảy ra biển gặp phải gió mùa đông bắc thổi, tạo thành sóng lớn làm xoáy lở bờ thêm trầm trọng.

“Nếu rừng phòng hộ còn dày, tạo điều kiện che chắn và ngăn đất, cát lở thì hiện tượng xói mòn, xâm thực bờ biển giảm đi đáng kể” - một chuyên gia Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam nhấn mạnh.

“Bờ biển thiếu cát, thiếu phù sa và mất luôn cả rừng phòng hộ thì dù có kè kiên cố đến đâu, khi sóng đánh lâu ngày (khoảng hơn 10 năm trở đi) thì chân kè cũng bị xói lở và nguy cơ đổ vỡ thân kè là có thể xảy” - TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại học Cần Thơ khẳng định.

(Xem tiếp kỳ sau)

An An